User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
khoaimitamsu 1
 
Một luồng gió nóng thổi qua làm cho đại biểu các tộc Thảo Mộc Hoàn Vũ rùng mình. Trên không trung vang vang những vần thơ được chuyển ngữ sang Thảo Mộc Quốc Tế Ngữ:
 
Khoai Lang rồi lại Khoai Mì
Ɖến khi Tần (1) khởi độ thì khẩu ta
*
Nam Vang (2) nhà gạch nhà vôi,
Ngày sau kiếm một chỗ ngồi không ra.
 
Ɖại diện Cà Chua Ý Pomodoro (3) hỏi đại diện Sâm Tứ Xuyên:
 
“Chuyện gì vậy?”
Ɖại diện Sâm Tứ Xuyên im lặng, giả vờ không nghe đại diện Cà Chua Ý Pomodoro hỏi.
 
Ɖại diện Lục Bình sông Cửu Long thấy vậy bèn lên tiếng:
 
“Tôi sống quanh quẩn trên sông Hậu Giang nên có nghe những câu thơ này trên đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất thiêng trù phú của Việt Nam. Theo sự hiểu biết của tôi, những câu thơ trên là những lời tiên tri của những ông đạo ẩn cư trên đồng bằng sông Cửu Long.”
 
“Nước Tần là nước nào?” Cà Chua Pomodoro hỏi.
 
“Theo điều tôi được nghe từ những người chài lưới trên sông Cửu Long nói thì nước Tần ám chỉ xứ Cambodia.” Lục Bình đáp.
 
Tại sao các vị ẩn tu trên châu thổ sông Cửu Long lại nói về Cambodia mà không nói về Việt Nam?” Cà Chua Pomodoro hỏi.
 
“Lục Bình chúng tôi là những kẻ thấp hèn trong xã hội Thảo Mộc. Sự hiểu biết của chúng tôi rất hạn hẹp. Theo thiển ý của chúng tôi, các vị ẩn tu thấy được những gì đặc biệt trong Bộ Máy Trời (Thiên Cơ) nên thấy sao nói vậy. Sự chính xác không thể 100% được vì ‘Thiên Cơ bất khả lậu’. Cambodia và Việt Nam là hai nước láng giềng. Chuyện bất lành ở Cambodia chắc chắn có ảnh hưởng ở Việt Nam. Thiếu Lúa Gạo thì phải ăn Khoai, Củ để được sống qua ngày. Nhưng điều ấy đã ứng nghiệm phần nào vào năm 1945 và 1975.” Lục Bình giải thích.
 
Cuộc đối thoại giữa Lục Bình và Cà Chua Pomodoro dừng lại vì có tiếng phóng thanh bằng Thảo Mộc Quốc Tế Ngữ kêu gọi tất cả đại biểu Thảo Mộc Hoàn Vũ đứng dậy chào mừng đại diện dòng Mộc Thụ Manihot từ Bình Ɖịnh, Việt Nam đến. Trên đỉnh cây Ɖa cổ thụ vẳng lên câu:
 
Ai về Bình Ɖịnh mà coi,
Ɖàn bà cũng biết đánh roi, đánh quyền.
 
do một chị Hoàng Yến dịch ra Thảo Mộc Quốc Tế Ngữ và ngâm vang dội khắp một góc Trời. Cà Chua Pomodoro càng lúc càng thấy mình lạc lõng trong Thế Giới Thảo Mộc mênh mông và có nhiều chuyện mà ông ta không hề biết.
 
Một bô lão mặc quần áo nhăn nheo bạc màu xuất hiện. Trông lão vui vẻ, lạc quan và không hề có chút tự ti mặc cảm nào về bề ngoài kham khổ và nghèo nàn của mình. Ɖó là đại diện của dòng Mộc Thụ Manihot từ Bình Ɖịnh, Việt Nam đến.
 
***
Trân trọng kính chào toàn thể đại biểu Thảo Mộc Thế Giới hiện diện hôm nay (vỗ tay). Là trưởng lão dòng Khoai Mì (Sắn) tỉnh Bình Ɖịnh, tôi được Ɖại Hội Ɖồng Khoai Mì Thế Giới ủy nhiệm tâm sự với quí vị về nguồn gốc, thân thế và sự nghiệp của chúng tôi trên hành tinh này (có tiếng vỗ tay).
 
Tên khoa học của dòng họ chúng tôi là Manihot dulcis thuộc gia đình Euphorbiaceae  nơi sản sinh nhiều “quí tử” có máu mang nhiều độc tố. Theo khẩu truyền còn lưu lại thì nguồn gốc của tổ tiên chúng tôi ở Trung và Nam Mỹ nhiệt đới, nhất là Mexico và Brazil. Ɖó là hai vùng địa lý sớm chịu ảnh hưởng của Tây Ban Nha và Bồ Ɖào Nha. Cách gọi tên Khoai Mì của người Âu Châu dựa vào cách gọi tên tục của dòng họ chúng tôi của người Taino: Yuca hay cách gọi của người Tupi guaranian sống dọc theo thung lũng Amazon: Manioca, Cassava.
 
khoaimitamsu5
 
Bồ Ɖào Nha, Tây Ban Nha và Hòa Lan là ba quốc gia Âu Châu sớm dùng thuyền bè nối liền Ɖại Tây Dương. Ấn Ɖộ Dương và Thái Bình Dương. Bồ Ɖào Nha du nhập cây Khoai Mì vào Phi Châu vào thế kỷ XVI. Người Bồ Ɖào Nha đến Ấn Ɖộ vào đầu thế kỷ XVI nhưng phải đợi đến thế kỷ XVII cây Khoai Mì mới được trồng ở Ấn Ɖộ.
 
Các giáo sĩ dòng Ɖa Minh của Tây Ban Nha giảng đạo Thiên Chúa dọc theo duyên hải tỉnh Thái Bình (Bắc Bộ) vào thập niên 1530 thời Mạc Ɖăng Doanh. Người Tây Ban Nha chinh phục quần đảo Phi Luật Tân vào năm 1565.
 
Năm 1617 giáo sĩ Bồ Ɖào Nha Francisco de Pina đến Hội An (Ɖàng Trong). Ông không phải là giáo sĩ Bồ Ɖào Nha đầu tiên đến Ɖàng Trong nhưng ông được các nhà nghiên cứu lịch sử quan tâm đến vì ông là người có công khai sinh ra chữ Quốc Ngữ dựa theo mẫu tự La Tinh.
 
Mục đích của các giáo sĩ Tây Ban Nha (Dominican) và Bồ Ɖào Nha (Jesuit) là truyền giảng đạo nên không có tài liệu khả tin và chính xác nào liên quan đến việc trồng Khoai Mì (Sắn) ở phía bắc và phía nam vĩ tuyến 18, tức ở Ɖàng Ngoài (Bắc Hà) và Ɖàng Trong (Nam Hà).
 
Người Bồ Ɖào Nha đã có mặt ở Goa, Ấn Ɖộ năm 1510, trên bán đảo Mã Lai năm 1511, quần đảo Indonesia năm 1512, miền Nam Nhật Bản năm 1543, Macao, Trung Hoa năm 1557 trước khi giáo sĩ Francisco de Pina đến Hội An năm 1617. Trên lục địa Âu Châu họ độc quyền về việc buôn bán hương liệu Á Châu. Họ chiếm quần đảo Maluku, đông bộ Indonesia, nơi nhục đậu khấu (nutmeg) và cây đinh hương (cloves) mọc hoang dại trên đảo. Từ nhục đậu khấu người ta khai thác nhục đậu khấu bì (mace spice). Ɖến năm 1605 Hòa Lan chiếm quần đảo Indonesia trong tay Bồ Ɖào Nha và đô hộ quần đảo này đến năm 1949.
 
Qua những quan hệ quốc tế nói trên ta có thể kết luận rằng Indonesia và Phi Luật Tân trồng Khoai Mì trước Việt Nam do ảnh hưởng của người Bồ Ɖào Nha và Tây Ban Nha. Hai quốc gia Âu Châu này có ảnh hưởng chánh trị và văn hóa (đạo Thiên Chúa, ngôn ngữ Tây Ban Nha và Bồ Ɖào Nha) sâu đậm ở Trung và Nam Mỹ, quê hương của dòng Manihot chúng tôi.
 
Hội An, thủ phủ của tỉnh Quảng Nam, từng mang tên Faifo (âm từ Hoài Phố?) khi tiếp xúc với các thương nhân ngoại quốc, là trung tâm thương mại quan trọng ở Ɖàng Trong vào thế kỷ XVII. Thuyền bè Trung Hoa, Nhật Bản, Mã Lai, Indonesia (4) thường đến đó để trao đổi hàng hóa. Các giáo sĩ Bồ Ɖào Nha và Pháp là những người Âu Châu đầu tiên đến Hội An và Cửa Hàn, tức Ɖà Nẵng (Tourane) cũng thuộc Quảng Nam. Xưa kia phần lãnh thổ của Quảng Nam nằm trong vương quốc Champa (Chiêm Thành) chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Ɖộ. Thành Indrapura (Lôi Ɖiện Thành) nằm trong xã Ɖồng Dương, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Champa giống như Indonesia, chịu ảnh hưởng của Ấn Giáo (Hinduism) và văn hóa Ấn Ɖộ trước khi theo Hồi Giáo. Ấn Ɖộ và Indonesia sớm tiếp xúc với người Bồ Ɖào Nha từ thập niên của đầu thế kỷ XVI.
 
Những liên hệ lịch sử, văn hóa, tôn giáo và thương mại này giúp chúng ta suy diễn vùng sớm trồng Khoai Mì ở nước ta có thể là vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi và Qui Nhơn vào cuối thế kỷ XVII hay đầu thế kỷ XVIII. Quảng Nam, Quảng Ngãi và Qui Nhơn còn giữ nhiều vết tích lâu đời  của văn hóa Champa như thành Indrapura (Lôi Ɖiện Thành – Quảng Nam), Cổ Lũy (Quảng Ngãi), Vijaya (Ɖồ Bàn – Qui Nhơn). Quảng Nam là trung tâm của chữ S, là nơi sớm tiếp xúc với các thương nhân và linh mục Thiên Chúa Giáo người Bồ Ɖào Nha, Pháp, Ý và Tây Ban Nha. Các thương nhân Bồ Ɖào Nha đến Hội An và Cửa Hàn để trao đổi hàng hóa, đặc biệt là mua cây hương liệu Á Châu chở về Âu Châu bán để làm giàu. Họ đã du nhập cây Khoai Mì vào Phi Châu vào thế kỷ XVI. Chắc chắn họ cũng du nhập cây Khoai Mì Brazil vào Hội An hay Cửa Hàn. Chúng tôi suy diễn Quảng Nam, Quảng Ngãi, Qui Nhơn trồng Khoai Mì trước tiên ở Việt Nam là vì thế.
 
Cây Lúa lúc nào cũng đóng vai trò độc tôn trong đời sống của các dân tộc dùng Lúa Gạo ở Ɖông Nam Á. Vùng đất màu mỡ và có nước ngọt là vùng trồng Lúa. Khoai Mì chỉ được trồng trên đất gò, không cần phân tro và được tưới bằng nước mưa. Việc trồng Khoai Mì phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam trong đệ nhị thế chiến và sau khi hiệp định Paris được ký kết vào năm 1973. Từ Lộc Ninh “văn hóa” Khoai Mì lan tỏa ảnh hưởng ra các vùng phụ cận ở miền đông Nam Bộ như Bình Dương, Biên Hòa, Tây Ninh.
 khoaimitamsu 2
Cây Khoai Mì (Ảnh: https://nongnghiep.vn/)
 
Khoai Mì chúng tôi là những cây cao từ 2m đến 3m. Thân cây xốp, ốm yếu, có nhiều mắt và không có nhánh. Lá thon dài màu xanh tươi trông duyên dáng. Chúng tôi không phải là cây ăn trái mà là cây có củ. Chúng tôi sống giản dị trên những vùng đất kém màu mỡ trong vùng khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới trên thế giới. Cuộc sống của Khoai Mì chúng tôi gần như hoang dại. Không phân tro, chúng tôi phải tự tìm chất dinh dưỡng dưới lòng đất để sống, sinh sản và nuôi con. Không được tưới nước mà chỉ uống nước mưa để sống qua những ngày nắng lửa mưa dầu của miền nhiệt đới.
 
Khoai Mì được trồng từ những lóng Khoai Mì dài lối 30cm, đặt nghiêng trên đất lối 30 độ. Mỗi mẫu tây (hectare) có thể có từ 10.000 đến 15.000 cây Khoai Mì tùy theo khoảng cách:
 khoaimitamsu6
 
 
Trong vòng 6 đến 12 tháng Mộc Thụ có nhiều Mộc Thụ Tử khỏe mạnh và hữu dụng. Các Mộc Thụ Tử ăn mặc trông nghèo nàn lắm. Nhưng khi chúng ở trần thì da trắng như tuyết trông duyên dáng dễ thương vô cùng. Các bác trán cao kiếng dày của loài người luôn luôn nói máu của các Mộc Thụ Tử có độc chất.
 khoaimitamsu 3
Củ và lá Khoai Mì (Ảnh: http://camnangcaytrong.com/)
 
Củ Khoai Mì trung bình cân nặng từ 1kg đến 2kg. Củ Khoai Mì to nhất thế giới được tìm thấy ở Nigeria cân nặng 34kg. Năng suất của Khoai Mì tùy thuộc vào phẩm chất của đất trồng.
 
khoaimitamsu7
 
Khoai Mì được trồng ở các quốc gia Phi Châu, Á Châu và Châu Mỹ La Tinh. Mức sản xuất Khoai Mì trên thế giới vào năm 2024 lối 330 triệu tấn.

khoaimitamsu8
 
Việt Nam xếp hạng thứ 10 trong danh sách các quốc gia sản xuất Khoai Mì trên thế giới. Ở Việt Nam vùng trồng nhiều Khoai Mì là duyên hải Trung Bộ, Cao Nguyên Nam Trung Bộ và các tỉnh miền Ɖông Nam Bộ.
 
Quốc gia xuất cảng Khoai Mì và bột Khoai Mì là Thái Lan, Cambodia, Việt Nam, Lào, Brazil, Indonesia, Costa Rica.
 
Quốc gia nhập cảng nhiều Khoai Mì và bột Khoai Mì là Trung Hoa, Hoa Kỳ, Mã Lai và các nước trong Liên Hiệp Âu Châu (EU).
 
Củ Khoai Mì có nhiều tinh bột. Nhưng nhựa Khoai Mì sống có nhiều độc chất như cyanogenic glycosides: linamarin C10H17NO6, gynocardin C12H17NO8; lotaustralin C11H19NO6. Chỉ cần 40g cyanogenic glycosides đủ để giết chết một con bò. Nếu luộc chín Khoai Mì thì độc chất biến mất. Trong quá trình biến chế bột Khoai Mì, Khoai được ngâm trong hồ nước. Nước chuyển màu vàng do độc chất tiết ra từ củ Khoai Mì. Người ta phải xả nước nhiều lần để tẩy rửa độc chất ra khỏi bột Khoai Mì dẻo như keo và trắng như tuyết.
 
Trung bình 5kg Khoai Mì cho 1kg bột Khoai Mì. Giả sử năng suất trung bình của Khoai Mì trên một mẫu tây là 12 tấn, tức 12.000kg, mỗi mẫu Khoai Mì sẽ cho: 12.000 : 5 = 2.400kg bột Khoai Mì.
 
Khoai Mì không có nhiều proteins và chất béo. Nhưng đó là nguồn carbohydrates, tinh bột, sợi, sinh tố C, sinh tố B6, sinh tố B1 và các khoáng sản như K, Cu, Mg, P, Ca. Khoai Mì cứu đói cho hàng trăm triệu nhân loại trên lục địa Phi Châu, Á Châu và Châu Mỹ La Tinh trong thời chiến lẫn thời bình.
 
Khoai Mì có những lợi điểm dưới đây:
  1. Khoai Mì rất dễ trồng vì không kén đất. Người trồng không mất thời giờ và tiền bạc chăm sóc, bón phân và tưới nước.
  2. Năng suất Khoai Mì khá cao: 10 - 12 tấn/ha.
  3. Củ Khoai Mì có thể giữ dưới đất nhiều năm nếu cây Khoai Mì không bị nhổ hay đào xới. Cây càng già càng có nhiều củ và củ càng nặng cân.
  4. Củ Khoai Mì có nhiều tinh bột được dùng vào việc chế biến ra nhiều thức ăn ngon.
  5. Lá non của cây Khoai Mì chứa nhiều chất dinh dưỡng hơn củ. Lá có nhiều proteins (20 - 30%  proteins trong khi củ Khoai Mi chỉ có 3% proteins), sinh tố C, sinh tố B, chất béo, xơ,  folate C19H19N7O6, amino acid, lysine C6H14N2O2, xanthophyll C40H56O2. Lá Khoai Mì có chứa độc chất HCN, tức prussic acid hay hydrogen cyanide. Lá Khoai Mì non phải được luộc chín hay chiên xào mới khử độc chất của prussic acid.
khoaimitamsu 4
Lá Khoai Mì non (Ảnh internet)
 
Cách ăn Khoai Mì đơn giản là nấu Khoai Mì với chút muối cho có vị mặn. Ngoài các món ăn đơn giản này, người Việt Nam có nhiều món ăn ngon làm từ Khoai Mì như:
 
- Bánh tằm ăn với Dừa nạo, nước cốt Dừa và Ɖậu Phộng giã nhỏ trộn chút muối và đường cát trắng hay đường mỡ gà.
 
- Bánh trôi nước nấu với nước đường tán có màu vàng-đỏ.
 
- Bánh rế, bánh cay chiên giòn.
 khoaimitamsu 8
Bánh tằm Khoai Mì (trái) và Bánh rế Khoai Mì (phải) Ảnh internet
 
- Bánh bột Khoai Mì nhân Chuối.
 khoaimitamsu 9
Bánh cay Khoai Mì chiên giòn (trái) và Bánh bột Khoai Mì nhân Chuối (phải) Ảnh internet
 
- Khoai Mì hấp ăn với Dừa nạo, nước cốt Dừa, Ɖậu Phộng giã nhuyễn + đường và muối.
 
- Bánh Khoai Mì nướng lửa than.
 khoaimitamsu 10
Khoai Mì hấp (trái) và Bánh Khoai Mì nướng lửa than (phải) Ảnh internet
 
- Bánh Khoai Mì làm từ bột Khoai Mì được tìm thấy ở Nam bộ sau năm 1975. Ɖó là một sáng kiến mới trong việc sản xuất bánh mì trong thời kỳ thiếu bột mì (Wheat flour).
 
Ở nơi phát tích của cây Khoai Mì, xứ Brazil, có vài món ăn làm từ Khoai Mì như Pao de queijo [bánh mì (làm từ Khoai Mì) phô-mai (Fromage)], Tapioca (Vỏ bột Khoai Mì dồn thịt hay thức ăn ngọt), Farola (Bánh Khoai Mì nướng), Rure de aipim (Khoai Mì chiên như French Fries) v.v..
 khoaimitamsu 11
Bánh mì phô-mai Pao de queijo (Ảnh: paodequeijomineirao.com.br)
 
Các thức ăn làm từ Khoai Mì của Indonesia có phần giống Việt Nam như Khoai Mì hấp ăn với Dừa nạo, nước cốt Dừa và Ɖậu Phộng giã nhuyễn + muối + đường hay Khoai Mì lát mỏng chiên giòn v.v..
 
***
Kính thưa cộng đồng Thảo Mộc Hoàn Vũ,
 
Dòng họ Manihot chúng tôi nuôi sống loài người lúc bình thường cũng như lúc nguy nan. Nhưng loài người không có một lời cảm ơn chúng tôi. Thỉnh thoảng họ còn tỏ ra khinh khi chúng tôi vì chúng tôi nghèo, trải qua cảnh nắng lửa mưa dầu, phong ba bão táp mà vẫn vui vẻ sản sinh Mộc Thụ Tử để nuôi họ. Họ đến với chúng tôi bằng cuốc, xuổng, dao, rựa, xà beng. Họ tách rời Mộc Thụ Tử ra khỏi cha mẹ chúng. Họ bỏ chúng vào thúng gánh về nhà, chặt ra từng khúc, lột da Mộc Thụ Tử, bỏ chúng vào cái nồi kim khí cũ kỹ đen ngòm rồi nổi lửa nung nấu các Mộc Thụ Tử với chút muối hột như để tăng hương vị và khử độc chất trong thân các Mộc Thụ Tử đã trắng như tuyết.
 
Vì biết trong huyết quản dòng Manihot chúng tôi có độc chất có thể gây tử vong cho loài người nên người ta phải dùng dầu sôi, lửa bỏng, nước sôi để khử độc. Từ nhiều thế kỷ qua không thấy Khoai Mì than phiền gì cả mà chỉ nghe loài người than bị suy thận, bướu cổ vì ăn nhiều Khoai Mì. Phụ nữ mang thai được khuyên không nên ăn Khoai Mì.
 
Trong văn chương, thi phú, âm nhạc của loài người ít thấy đề cập đến dòng Manihot chúng tôi. Về ngoại hình chúng tôi không đẹp và không sang trọng, quí phái để được các văn nghệ sĩ để ý đến. Trong giao tế xã hội chúng tôi chỉ tiếp xúc với người nghèo, chữ nghĩa không được phong phú nên không sao có được những áng văn thơ kiệt tác, những khúc hát hùng tráng hay lâm ly lưu lại cho đời. Khoai Mì chúng tôi đến Việt Nam khoảng cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Cây Lúa lúc nào cũng đóng vai trò độc tôn trong nông nghiệp. Thức ăn nói lên giai cấp và hoàn cảnh xã hội của người ăn. Người nghèo ăn khoai nhiều hơn ăn cơm. Việc ăn Khoai, Củ còn xảy ra khi mất mùa vì thời tiết bất thường hay chiến tranh, loạn lạc. Ɖó là lúc:
 
Ɖói thì ăn Ráy (5) ăn Khoai,
Chớ thấy Lúa trổ tháng hai (6) mà mừng.
 
Chúng tôi xin chép lại vài câu ca dao đề cập đến dòng tộc Manihot. Chúng tôi tin rằng những câu ca dao này không có tuổi đời cao như  những câu ca dao thường lưu hành trong xã hội Việt Nam.
 
Ai sinh ra củ Khoai Mì?
Hỏi; để làm gì? Ɖáp: để mà ăn.
Nước nhà mãi mãi khó khăn,
Dân mình mãi mãi phải ăn củ Mì.
*
Trồng Khoai ai lại trồng Mì,
Sao anh có vợ không nói  tiếng gì với em?
*
Củ Lang nấu với củ Mì,
Chớ chờ Mì chín còn gì là Lang.
*
Lấy anh em biết ăn gì?
Lộc Sắn thì chát, lộc Si (7) thì già.
 
Thực tế cây và củ Khoai Mì có vai trò nhất định trong kỹ nghệ dệt, kỹ nghệ giấy, kỹ nghệ mỹ phẩm, kỹ thuật bio-ethanol.
 
Sau năm 1975, ở miền Nam Việt Nam rượu đế được cất từ Khoai Mì. Rượu bia Impala ở Mozambique và rượu bia Eagle ở Ghana được cất từ Khoai Mì.
 
Dòng Manihot chẳng những có nghĩa vụ xã hội đối với loài người mà còn có nghĩa vụ kinh tế và y tế nữa. Hoa Kỳ và các quốc gia Liên Âu nhập cảng nhiều Khoai Mì và bột Khoai Mì. Ɖôi khi nhu cầu nhập cảng Khoai Mì và bột Khoai Mì của Hoa Kỳ vượt hơn cả mức sản xuất Khoai Mì trên thế giới! Ɖể làm gì? Không ai biết!
 
Ở Nam Mỹ, Phi Luật Tân, Mã Lai lá Khoai Mì được dùng để cầm máu, hạ sốt, trị rắn cắn, mụt chốc, tiêu chảy, viêm mắt, nhức đầu, v.v.
 
Gần đây nghe các bác trán cao kiếng dày trên thế giới nêu cao tính năng trị liệu của Khoai Mì khiến chúng tôi trở nên yêu đời và lạc quan hơn. Nào là Khoai Mì kháng viêm, kháng khuẩn, kháng ung thư. Nào là Khoai Mì trị tiêu chảy, vết thương, cholesterol trong máu thấp bất thường (hypocholesterolemia) v.v.. Ɖộc chất trong củ Khoai Mì  có thể được dùng để trị ung thư theo phương châm lấy độc trị độc. Sự thử nghiệm trên Chuột dẫn đến những kết quả khích lệ. Có phải chăng đã đến lúc Khoai Mì soán ngôi Sâm Cao Ly trở thành “của quí” dễ tìm?
 
Ɖại diện cộng đồng Thảo Mộc Thế Giới đồng loạt vỗ tay vang dội. Hoan hô dòng Manihot! Hoan hô! Hoan hô! Khi tiếng vỗ tay và tiếng reo hò bằng Quốc Tế Thảo Mộc Ngữ chấm dứt, trưởng lão dòng Manihot Bình Ɖịnh cám ơn cộng đồng Thảo Mộc Hoàn Vũ và mời tất cả các đại biểu Thảo Mộc hiện diện thưởng thức bản “Ngày Ấy Ɖã Qua Rồi” do ban nhạc Bình Ɖịnh Cassava Band trình diễn.
 
Tôi xin chấm dứt lời tâm sự tại đây. Kính chúc quí vị một ngày vui, một ngày không giông bão cũng không nắng lửa mưa dầu.
 
Trưởng Lão Manihot dulcis Bình Ɖịnh, Việt Nam.
 
Phạm Ɖình Lân, F.A.B.I.
________
Chú thích:
(1): Tần: Ám chỉ nước Cambodia (Kampuchea)
(2) Nam Vang: Thủ đô nước Chân Lạp (Chenla) do ông Lê Văn Duyệt đặt năm 1813 thay cho địa danh Lovek (La Bích). Ɖó là Phnom Penh, thủ đô của Cambodia  bây giờ.
(3): Pomo d’oro: Trái táo vàng.
(4): Người Việt Nam ở miền Nam gọi người Mã Lai và Indonesia là “người miền dưới” tức người sống ở phía nam nước ta.
(5): Tên khoa học của củ Ráy là Alocasia longiloba, gia đình Araceae. Người Anh gọi là Giant taro (Khoai Môn Khổng Lồ), Elephant’s ear plant (cây Tai Voi) vì bụi khoai đồ sộ có lá to.
(6): Tháng hai ở đây là tháng hai Âm Lịch.
(7): Si: Cây Si còn gọi là cây Gừa, mang tên khoa học Ficus nuda, gia đình Moraceae. Người Anh gọi là Benjamin tree, Java fig (Sung Java),
 
Direct link: https://caidinh.com/trangluu2/khoahocdoisong/khoaimitamsu.html