User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
Bữa nay tôi cũng từ Quận 3 tà tà qua Quận 1, chân bước mà lòng không định trước, vậy mà rốt cuộc lại tấp vô Tao Đàn, cái chỗ tôi vào hoài đến mức thuộc từng gốc cây, từng khúc quanh, chỗ ghế tựa ngồi.
 
Vườn Ông Thượng – Một Khoảng Xanh Đi Xuyên Bao Lớp Thời Gian
 
Giữa trung tâm Quận 1, có một khoảng xanh mà mỗi lần ghé qua tôi đều thấy lòng mình dịu lại, đó là Công viên Tao Đàn. Khu đất này nằm ở vị trí mà giới địa ốc vẫn gọi là “đất vàng”, bốn phía giáp các đường Huyền Trân Công Chúa, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Du và Cách Mạng Tháng Tám. Con đường Trương Định chạy ngang qua giữa công viên như một nét cắt ngay ngắn, chia khoảng xanh thành hai phần mà vẫn không làm mất đi cảm giác liền mạch của không gian.
 
Điều khiến Tao Đàn khác với nhiều công viên khác không chỉ là diện tích hay vị trí, mà còn là màu xanh của những hàng cổ thụ. Giữa trưa Sài Gòn nắng chang chang, bước vào đây vẫn cảm nhận được hơi mát lan khắp người. Những tán cây đan kín trên cao như âm thầm giữ lại một khoảng trời riêng, để giữa phố xá đông đúc và nóng bức, con người vẫn còn một nơi có thể thở chậm và bình yên hơn đôi chút.
 
Nhưng điều níu chân tôi lâu hơn cả lại không nằm ở bóng cây, mà ở những lớp lịch sử đã lặng lẽ bồi đắp trên mảnh đất này suốt hàng trăm năm. Trước khi người Pháp đặt chân đến Sài Gòn, nơi đây từng là khu vườn riêng của Tổng Trấn Gia Định Lê Văn Duyệt. Sau những giờ giải quyết việc công, ông thường về đây uống trà, xem hát bội và nghỉ ngơi. Bởi mang tước Thượng công nên người dân quen gọi nơi này là Vườn Ông Thượng. Cách gọi ấy nghe mộc mạc mà kính trọng, rất đúng với cái tình của người miền Nam, vốn thích gọi những bậc đáng quý bằng một cái tên gần gũi hơn là những mỹ từ xa cách.
 
Thuở ấy, khu vườn rộng mênh mông, kéo dài đến khu vực Dinh Thống Nhất ngày nay, giáp cả chợ Đũi và chợ Cây Da Còm. Ngoài tư thất của quan Tổng Trấn còn có rạp hát bội, vườn hoa, cây cảnh và nhiều khoảng đất rộng để dạo chơi. Khó ai có thể hình dung giữa trung tâm thành phố náo nhiệt hôm nay lại từng tồn tại một không gian thanh nhàn và khoáng đạt đến vậy.
 
Thế nhưng, số phận của khu vườn cũng trải qua không ít biến động. Sau khi cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi thất bại, vua Minh Mạng hạ lệnh phá bỏ cả thành Bát Quái lẫn Vườn Ông Thượng, xem như xóa đi dấu tích gắn với Lê Văn Duyệt. Một thời huy hoàng khép lại theo cách lặng lẽ nhưng cũng đầy nghiệt ngã.
 
Đến khi người Pháp chiếm Sài Gòn, khu đất được quy hoạch lại. Một phần dành để xây Dinh Toàn Quyền, phần còn lại trở thành công viên công cộng đầu tiên của thành phố. Từ chỗ là khu vườn riêng của một vị Tổng Trấn, nơi đây trở thành không gian mà bất cứ người dân nào cũng có thể bước vào, thong thả dạo chơi mà không còn phải xin phép hay e dè trước cánh cổng quyền uy.
 
Năm 1869, khi đường Miss Cavell, nay là đường Huyền Trân Công Chúa, được mở, khu vườn chính thức tách khỏi Dinh Toàn quyền. Người Pháp gọi nơi này là Jardin de la Ville, còn người Sài Gòn vẫn quen miệng gọi là Vườn Ông Thượng. Có lúc, người ta lại gọi là Vườn Bồ Rô, được cho là đọc chệch từ chữ préau trong tiếng Pháp. Những cái tên ấy cứ song hành với nhau qua nhiều thế hệ, như chính lịch sử của Sài Gòn luôn là sự đan xen giữa nhiều lớp văn hóa mà không lớp nào hoàn toàn xóa được lớp nào.
 
Qua từng giai đoạn, Tao Đàn tiếp tục được bồi đắp thêm nhiều công trình mới. Năm 1896 có Hội Hiếu Nhạc, năm 1897 có Hội Tam Điểm, rồi đến năm 1902 là Câu lạc bộ Thể thao Sài Gòn với sân bóng đá, sân quần vợt và hồ bơi. Đây từng là sân vận động hiếm hoi đủ tiêu chuẩn để đón các đội bóng nước ngoài đến thi đấu giao hữu. Nhà nghiên cứu Jean Bouchot từng nhận xét rằng, chính sự xuất hiện của câu lạc bộ này đã làm công viên trở nên nhộn nhịp sau nhiều năm khá vắng vẻ.
 
Đến năm 1926, Viện Dục Nhi được xây dựng ở góc đường Chasseloup-Laubat và Verdun để chăm sóc, giáo dục trẻ em. Sau này, công trình ấy trở thành trụ sở Bộ Y Tế dưới thời Việt Nam Cộng Hòa. Mỗi giai đoạn lịch sử lại để lại trên mảnh đất này thêm một dấu vết mới. Chúng nối tiếp nhau tự nhiên đến mức nếu không tìm hiểu kỹ, đôi khi người ta khó nhận ra mình đang đứng trên một nơi đã chứng kiến biết bao lần đổi thay của thành phố.
 
Sau khi người Pháp rút đi, Dinh Toàn Quyền trở thành Phủ Tổng Thống, còn khu vườn chính thức mang tên Tao Đàn. Tên này nghe thanh nhã, gợi không khí tao nhân mặc khách, như muốn biến nơi đây thành chốn gặp gỡ của văn hóa và thi ca. Sau năm 1975, công viên đổi tên thành Công viên Văn hóa Tao Đàn, bổ sung thêm khu vui chơi trẻ em, còn Câu lạc bộ Thể thao trước kia cũng chuyển thành Câu lạc bộ Văn hóa. Đường Trương Định vẫn lặng lẽ chạy ngang công viên như bao năm trước, giống một đường chỉ nối những mảnh thời gian tưởng rời rạc lại thành một câu chuyện dài chưa bao giờ đứt đoạn.
 
Năm 1992, Đền tưởng niệm các Vua Hùng được xây dựng trong khuôn viên công viên và đến cuối năm 2011 được trùng tu khang trang hơn. Sự hiện diện của ngôi đền khiến khoảng xanh giữa lòng thành phố dường như có thêm một chiều sâu khác. Giữa nhịp sống hiện đại, vẫn còn một nơi để con người dừng lại, nhớ về cội nguồn và lặng lẽ nối mình với những lớp lịch sử đã đi qua.
 
Ngày nay, Tao Đàn có hơn một ngàn cây xanh, trong đó nhiều cây cổ thụ đã sống qua hàng chục, thậm chí hàng trăm năm. Mỗi sáng, tôi vẫn bắt gặp những cụ già thong thả đi bộ dưới tán lá, những nhóm người tập dưỡng sinh, những người trẻ đá cầu, chạy nhảy và cười vang cả một góc công viên. Cuộc sống cứ bình dị diễn ra như vậy, ngày này qua ngày khác, dưới bóng những hàng cây đã chứng kiến bao đổi thay của thành phố.
 
Trong công viên còn có miếu Ngũ Hành tồn tại từ trước năm 1940 và ngôi mộ cổ họ Lâm, được công nhận là di tích lịch sử cấp thành phố vào năm 2014. Chúng nằm lặng lẽ giữa màu xanh cây lá, lại khiến tôi tin rằng lịch sử không chỉ hiện diện ở những công trình đồ sộ. Đôi khi, nó chỉ là một ngôi miếu nhỏ, một ngôi mộ cũ hay một gốc cây già vẫn âm thầm đứng đó qua bao mùa mưa nắng.
 
Mỗi lần rời Tao Đàn, tôi luôn có một cảm giác rất lạ. Thành phố này phát triển từng ngày, những tòa nhà mới vẫn không ngừng mọc lên, nhưng chỉ cần còn những khoảng xanh như thế này thì Sài Gòn vẫn còn giữ được nhịp thở của mình. Tôi nghĩ, giá trị lớn nhất của Tao Đàn không nằm ở vị trí “đất vàng”, cũng không chỉ ở những dấu tích lịch sử, mà ở chỗ nó cho con người một nơi để tạm gác lại sự vội vã, để nghe tiếng lá xào xạc thay cho tiếng còi xe, và để nhận ra rằng có những điều tưởng như lặng im, nhưng lại bền bỉ nuôi dưỡng ký ức của cả một thành phố. Một đô thị chỉ thật sự trưởng thành khi nó biết gìn giữ những khoảng lặng như thế, bởi chính những khoảng lặng ấy mới làm nên chiều sâu của thời gian.
 
tuybut21
Công viên Tao Đàn trước năm 1975. Ảnh tư liệu từ trang web congvientaodan.com
 
Khi Màn Đêm Buông Xuống – Những Lời Đồn Và Bóng Dáng Thời Gian
 
Ban ngày, Tao Đàn hiền hòa là vậy. Người già đi bộ, trẻ nhỏ vui đùa, những tán cây già che mát cả một góc thành phố. Nhưng cứ khi mặt trời lặn, dòng người thưa dần, ánh đèn hắt xuống loang loáng giữa những lối đi vắng, không gian nơi đây lại mang một vẻ khác hẳn. Chính sự tĩnh lặng nơi ấy đã nuôi lớn biết bao câu chuyện truyền miệng, để rồi theo năm tháng, ranh giới giữa sự thật và huyền thoại cũng dần nhòe đi.
 
Vì vậy mà Tao Đàn được Tạp chí Rough Guides của Anh, rồi sau đó là Travel + Leisure của Mỹ, đưa vào danh sách những địa điểm nổi tiếng vì các lời đồn “ma ám”. Cả hai đều nhắc đến câu chuyện về hồn ma một chàng trai trẻ vẫn lang thang trong công viên mỗi đêm để tìm người yêu thất lạc. Rough Guides còn mô tả rằng, ban ngày nơi đây là chốn để người dân thành phố tìm chút bình yên giữa nhịp sống ồn ào, nhưng khi màn đêm phủ xuống thì sự thư thái ấy dường như cũng nhường chỗ cho một cảm giác lảng bảng ma mị. Người ta kể rằng chàng trai ấy bị sát hại trong một vụ thanh toán và từ đó linh hồn vẫn chưa thể rời khỏi nơi mình đã nằm xuống.
 
Nghe qua thì thật ly kỳ, nhưng khi lần tìm lại những tư liệu cũ, câu chuyện lại hiện lên đơn giản hơn. Cuối tháng 6 năm 1989, một thanh niên tên Tuấn bị sát hại ngay trong công viên và chiếc xe máy của anh cũng bị cướp mất. Vụ án sau đó nhanh chóng được điều tra, thủ phạm bị bắt và mọi chuyện tưởng như đã khép lại. Nhưng nỗi ám ảnh về một cái chết giữa nơi vốn yên bình cứ truyền từ người này sang người khác, mỗi lần kể lại lại thêm một chi tiết, thêm một lớp tưởng tượng, để rồi dần dần trở thành một câu chuyện liêu trai mà nhiều người tin là có thật.
 
Tôi vẫn nghĩ, không ít câu chuyện của thành phố cũng bắt đầu từ những điều rất đời thường như vậy. Một biến cố có thật, đi qua ký ức của nhiều người, rồi lặng lẽ khoác lên mình chiếc áo của huyền thoại. Càng truyền miệng, câu chuyện càng xa sự thật, nhưng lại gần hơn với trí tưởng tượng của con người.
 
Ngay trong Tao Đàn còn có một nơi khác cũng gắn với không ít lời đồn, đó là ngôi mộ cổ họ Lâm nằm bên phải đường Trương Định, cách mặt đường chừng ba mươi lăm mét, sát trụ sở Công ty Công viên Cây xanh. Giữa những hàng cây um tùm, ngôi mộ rêu phong ấy luôn tạo cho người ta một cảm giác trầm mặc, khiến không ít người đi ngang chỉ dám nhìn rồi bước vội.
 
Ngôi mộ được xây bằng hợp chất ô dước, loại vật liệu truyền thống pha từ vôi sống, cát mịn, bột vỏ sò và mật mía, vốn rất phổ biến trong kiến trúc lăng mộ Việt Nam từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX. Cổng mộ chỉ cao khoảng một mét bốn, đủ để bất cứ ai bước vào cũng phải khom người. Tôi không biết người xưa có thật sự chủ ý như vậy hay không, nhưng cái kiểu cúi mình ấy khiến mỗi người bước qua đều tự nhiên chậm lại, như là sự thành kính đã được gửi gắm ngay từ cách dựng cổng.
 
Trên bia mộ ghi tên ông Lâm Tam Lang, tự Nguyên Thất, cùng phu nhân là bà Mai Thị Xã. Tài liệu cũ cho rằng ngôi mộ được xây từ năm 1795, nhưng nhiều nhà nghiên cứu lại dựa vào hai chữ “Đại Nam” khắc trên bia để cho rằng niên đại phải muộn hơn, bởi quốc hiệu ấy chỉ xuất hiện từ thời vua Minh Mạng. Cũng có ý kiến cho rằng phần bia được bổ sung vào khoảng năm 1895. Đến nay, niên đại chính xác vẫn còn là điều để giới nghiên cứu tiếp tục bàn luận.
 
tuybut22
Mộ cổ trong công viên. Tương truyền đây là mộ ông Lâm Tam Lang (tự “Nguyên thất”, mất vào mùa thu Ất Mão, 1795) và bà Mai Thị Xã (vợ ông). Author: Bùi Thụy Đào Nguyên
 
Điều làm tôi thích thú hơn cả lại không nằm ở những tranh luận ấy, mà ở câu chuyện về dòng họ. Hậu duệ đời thứ tư của ông Lâm Tam Lang là Phó Tướng Lâm Quang Ky, người từng cùng Nguyễn Trung Trực lập nên chiến công Nhật Tảo lẫy lừng. Đến đời thứ bảy, dòng họ ấy lại có nhạc sĩ Lam Phương, người để lại biết bao ca khúc đã đi cùng ký ức của nhiều thế hệ người Sài Gòn. Nghĩ cũng lạ, từ một ngôi mộ cổ nằm lặng dưới bóng cây già, mạch thời gian vẫn âm thầm chảy qua nhiều thế hệ, nối từ lịch sử giữ nước đến những giai điệu làm dịu lòng người. Những sợi dây liên kết tưởng như rất xa, nhưng lịch sử vẫn kiên nhẫn buộc chúng lại bằng một cách rất tự nhiên.
 
Rời ngôi mộ, nhìn những lối đi đã ngả bóng, tôi lại nghĩ đến những câu chuyện ma mà người ta vẫn truyền nhau về Tao Đàn. Điều khiến con người bất an chưa hẳn là ma quỷ. Thứ đáng sợ hơn nhiều chính là khoảng lặng của màn đêm, khi mọi âm thanh quen thuộc đều lùi xa và trí tưởng tượng bắt đầu cất tiếng. Bóng tối vốn không có hình dạng, nhưng con người luôn muốn đặt cho nó một gương mặt, một cái tên hay một câu chuyện để tự giải thích điều mình không nhìn thấy.
 
Do vậy mà những lời đồn chưa bao giờ biến mất. Chúng tồn tại không hẳn vì người ta tin, mà vì chúng lấp đầy khoảng trống giữa điều đã biết và điều chưa thể giải thích. Đến một lúc nào đó, tôi chợt nhận ra, điều còn ở lại sau mỗi câu chuyện không phải là nỗi sợ, mà là sự tò mò về những lớp ký ức đang nằm khuất dưới bóng cây già. Thành phố cũng giống con người, ban ngày ai cũng nhìn thấy gương mặt của nó, nhưng chỉ khi đêm xuống, những điều sâu kín nhất mới lặng lẽ hiện ra. Và biết đâu, đó mới là vẻ đẹp khiến tôi muốn trở lại Tao Đàn thêm nhiều lần nữa, không phải để đi tìm ma, mà để lắng nghe những câu chuyện mà thời gian vẫn còn thì thầm dưới tán lá.  
 
Thảo Cầm Viên Một Trăm Rưỡi Năm – Chuyện Người Trồng cây Và Muông Thú Từ Bốn Phương
 
Rời Tao Đàn, tôi đi thêm vài đoạn nữa, quẹo qua quẹo lại là tới cổng trước Thảo Cầm Viên, nơi người Sài Gòn vẫn quen gọi bằng cái tên quen thuộc, là Sở Thú. Với nhiều người, đây chỉ là một điểm đến quen thuộc của tuổi thơ, nơi có những con thú lạ, những hàng cây rợp bóng và những buổi chiều theo cha mẹ đi chơi. Nhưng ít ai để ý rằng phía sau những lối đi tưởng như bình thường ấy là một câu chuyện kéo dài hơn trăm năm, gắn với quá trình hình thành của thành phố này.
 
tuybut23
Khuôn viên thời Pháp thuộc.
 
Thảo Cầm Viên Sài Gòn hiện là một trong tám vườn thú có tuổi đời lâu nhất thế giới vẫn còn hoạt động. Cổng chính nằm trên đường Nguyễn Thị Minh Khai, với ba lối vào quen thuộc là cổng Thống Nhất, Nguyễn Du và Thị Nghè. Hồi trước, tôi vẫn thường đi tắt ngang qua đây để sang chợ Thị Nghè. Từ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, chỉ cần đi xuyên qua Sở Thú là qua Nguyễn Thị Minh Khai. Khi ấy, người ta vẫn cho qua lại tự nhiên, bởi nó đã trở thành một lối đi quen thuộc trong đời sống của người dân quanh vùng từ bao giờ không rõ.
 
tuybut24
Biển kỷ niệm năm khánh thành Vườn bách thảo Sài Gòn bằng tiếng Latinh. Authro: Prenn
 
Trước khi trở thành một nơi vui chơi, nghỉ mát giữa lòng thành phố, khu đất này từng là một vùng hoang sơ bên rạch Thị Nghè. Năm 1864, Chuẩn Đô Đốc Pierre-Paul de La Grandière ký nghị định thành lập Vườn Bách Thảo. Một Bác Sĩ Thú Y quân đội Pháp tên Louis Adolphe Germain được giao nhiệm vụ khai phá khoảng mười hai héc-ta đất hoang ở phía Đông Bắc rạch Thị Nghè để xây dựng chuồng trại, gây giống cây và tổ chức việc nuôi trồng động thực vật.
 
Thế nhưng, để nơi này thực sự trở thành một trung tâm nghiên cứu và bảo tồn cho cả vùng Đông Dương, chính quyền nhận thấy cần một người có chuyên môn sâu hơn. Vì vậy, năm 1865, họ mời ông J.B. Louis Pierre, lúc ấy đang phụ trách Vườn Bách Thảo Calcutta ở Ấn Độ, sang làm Giám Đốc đầu tiên của Vườn Bách Thảo Sài Gòn.
 
Ông Pierre là mẫu người mà cả cuộc đời gần như chỉ dành trọn cho cây cỏ. Trong mười hai năm điều hành Thảo Cầm Viên, ông đã đưa về đây vô số giống cây từ nhiều vùng đất khác nhau, từ những cây rừng lớn của các châu lục xa xôi đến những giống cây ăn trái trong khu vực Đông Nam Á. Những loài cây mà ngày nay đã trở nên quen thuộc với người Việt, nhưng ít ai còn nhớ rằng chúng từng bắt đầu hành trình của mình từ những ngày tháng ông Pierre lặn lội tìm kiếm và gây giống.
 
Không chỉ để lại những hàng cây xanh cho thành phố, ông còn để lại một kho tư liệu thực vật vô cùng quý giá với hơn một trăm ngàn tiêu bản, hiện vẫn được lưu giữ tại Bảo Tàng Thực Vật thuộc Viện Sinh Học Nhiệt Đới. Những dấu ấn của ông không chỉ nằm trong sách vở hay phòng nghiên cứu, mà còn hiện diện ngay giữa đời sống thường ngày, trong những cây cổ thụ đứng lặng bên đường phố trung tâm, trong những tán lá từng che bóng cho bao thế hệ người Sài Gòn.
 
Năm 1877, ông Pierre rời Sài Gòn trở về Paris. Những năm cuối đời của ông trôi qua khá lặng lẽ, nhưng tình yêu dành cho thực vật chưa bao giờ nguội đi. Khi mất năm 1905, ông vẫn để lại một câu nói khiến nhiều người sau này phải suy nghĩ: “Tôi đã nghỉ hưu nhưng còn quá nhiều việc để làm cho ngành thực vật, chỉ tiếc là không còn thời gian và cuộc đời thì quá ngắn ngủi.”
 
tuybut25
Tượng J.B. Louis Pierre được trên cột bia có câu nói nổi tiếng của ông. Author: thuydaonguyen
 
Với ông Pierre, cây cối không chỉ là đối tượng nghiên cứu, mà là những sinh mệnh cần được chăm sóc và gìn giữ. Năm 1933, người ta dựng một cột bia đá hoa cương trong khu vườn kiểng để tưởng nhớ ông. Đến năm 1994, nhân dịp kỷ niệm 130 năm thành lập Thảo Cầm Viên, cột bia ấy được di dời ra trục đường chính, đặt thêm tượng bán thân bằng đá hoa cương màu hồng, nằm giữa Bảo Tàng Lịch Sử và Đền Thờ Vua Hùng. Từ đó, mỗi ngày có biết bao người đi ngang qua, có thể nhiều người không biết rõ ông là ai, nhưng vẫn nhìn thấy khuôn mặt bằng đá của một người từng dành cả đời để trồng cây cho thành phố.
 
Sau những năm đầu hình thành, khu vườn tiếp tục lớn lên theo thời gian. Năm 1867, nơi đây đã có 509 loài thực vật, 120 loài thú, 344 loài chim và 45 loài bò sát. Đến năm 1924, Thảo Cầm Viên được mở rộng thêm mười ba héc-ta ở bờ bắc rạch Thị Nghè. Một cây cầu nối hai khu vực được xây dựng vào năm 1927, cũng trong năm đó, vườn tiếp nhận thêm chín trăm giống cây quý từ Nhật Bản.
 
Đến năm 1956, sau một đợt tu sửa lớn, nơi đây chính thức mang tên Thảo Cầm Viên Sài Gòn và giữ tên gọi ấy cho đến hôm nay. Hiện nay, khu vườn đang chăm sóc hơn một ngàn cá thể thuộc khoảng một trăm hai mươi lăm loài động vật, trong đó có nhiều loài quý hiếm như trĩ sao, chà vá, vượn má vàng, báo lửa, báo gấm. Bên cạnh đó là hơn hai ngàn cây xanh thuộc hàng trăm loài thực vật khác nhau, tiếp tục duy trì vai trò của một khoảng rừng nhỏ giữa lòng đô thị.
 
tuybut26
Cổng chính ở đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Author:trungydang
 
Nhưng có lẽ điều khiến Thảo Cầm Viên sống mãi trong ký ức của nhiều người không chỉ nằm ở những con số ấy. Nó nằm trong những khoảnh khắc rất nhỏ của tuổi thơ. Là đứa trẻ đứng sát hàng rào, tay cầm nắm cỏ run run đưa cho mấy con dê, con cừu. Là cảm giác hồi hộp khi chờ chúng thò đầu ra, nhẹ nhàng liếm vào lòng bàn tay rồi bật cười thích thú. Những niềm vui ấy giản dị đến mức khi trưởng thành rồi, đôi khi người ta mới nhận ra đó là một trong những ký ức trong trẻo nhất của đời mình.
 
Mỗi lần bước qua Thảo Cầm Viên, tôi thường nghĩ về những con người đã từng đặt tay xuống mảnh đất này từ hơn một thế kỷ trước. Người trồng cây, người chăm thú, người âm thầm giữ gìn từng góc nhỏ của khu vườn. Thành phố hôm nay đã thay đổi rất nhiều, những tòa nhà cao tầng đã mọc lên, nhịp sống cũng vội vàng hơn, nhưng giữa tất cả những chuyển động ấy, Thảo Cầm Viên vẫn đứng đó như một phần ký ức sống.
 
Giá trị lớn nhất của nơi này không chỉ là tuổi đời một trăm rưỡi năm, cũng không chỉ là những loài cây, loài thú quý hiếm đang được nuôi giữ. Điều đáng quý hơn là nó nhắc người ta nhớ rằng một thành phố không chỉ được tạo nên bởi những công trình bằng bê tông và sắt thép, mà còn bởi những hàng cây có tuổi, những câu chuyện cũ, những ký ức mà nhiều thế hệ đã gửi lại. Đôi khi, một cái cây đứng im suốt trăm năm lại kể được nhiều hơn cả một cuốn sách, bởi nó đã chứng kiến con người đi qua, lớn lên, đổi thay rồi vẫn quay về tìm lại một chút bình yên của ngày xưa.  
 
Đền Quốc Tổ Và Bảo Tàng – Nơi Thời Gian Chọn Cách Ở Lại
 
Trong khuôn viên Sở Thú, đối diện Bảo tàng Lịch sử, có một nơi lúc nào cũng giữ chân tôi lâu hơn những chỗ khác, đó là Đền thờ Vua Hùng. Ngôi đền được dựng từ năm 1926, thuở đầu mang tên Đền Kỷ Niệm để tưởng nhớ những người Việt tử trận khi đi lính cho Pháp trong Thế chiến thứ nhất. Đến sau năm 1954, đền đổi tên thành Đền Quốc Tổ Hùng Vương, đồng thời phối thờ thêm Lê Văn Duyệt, Trần Hưng Đạo và Quang Trung, như gom nhiều lớp ký ức lịch sử về chung dưới một mái ngói.
 
tuybut27
Đền thờ Vua Hùng. Author: Bùi Thụy Đào Nguyên
 
Kiến trúc của đền mang dáng dấp những ngôi đền cổ ở Huế. Mái chồng diêm ba tầng cong vút, các mảng chạm rồng phượng theo lối cung đình được thực hiện khá tinh xảo. Mười hai cột gỗ mật đen bóng nâng cả tòa chính điện, tượng trưng cho mười hai con giáp. Ngoài sân đặt hai đỉnh đồng mô phỏng Cửu Đỉnh triều Nguyễn, còn nổi bật nhất là cột đá thề, phỏng theo tích Vua Hùng cùng An Dương Vương nguyện giữ gìn non sông. Đứng giữa khoảng sân ấy, tôi luôn có cảm giác nơi đây không chỉ thờ những con người đã khuất, mà còn gìn giữ một lời hứa chưa bao giờ cũ của dân tộc.
 
Ngay bên cạnh đền là Bảo tàng Lịch sử, công trình mang phong cách Đông Dương cách tân do kiến trúc sư Auguste Delaval thiết kế, được xây dựng trong ba năm, từ 1926 đến 1928. Sự ra đời của bảo tàng cũng là một câu chuyện đáng nhớ. Năm 1927, nhà sưu tầm cổ vật Holbé qua đời, để lại bộ sưu tập trị giá bốn mươi lăm ngàn đồng bạc Đông Dương, một khoản tiền rất lớn vào thời điểm ấy. Hội Nghiên cứu Đông Dương phải nhờ năm hội viên ứng tiền trước để mua lại, rồi phát động quyên góp trong dân nhằm hoàn trả số tiền đó, với lời hứa sau cùng sẽ hiến toàn bộ cổ vật cho nhà nước.
 
tuybut28
Trái: Bảo tàng vào khoảng năm 1930. Author: Indochine française. Aéronautique militaire. Phải: Bảo tàng Lịch sử TP.HCM. Author: Hoangvantoanajc
 
Họ đã giữ đúng lời hứa. Từ đề nghị ấy, chính quyền Nam Kỳ quyết định xây dựng bảo tàng. Cuối tháng 11 năm 1927, Thống đốc Blanchard de la Brosse ký quyết định thành lập, và đầu năm 1929 khánh thành. Từ 2.893 hiện vật ban đầu, đến cuối thế kỷ XX, nơi đây đã lưu giữ hơn ba mươi ngàn cổ vật cùng hơn hai mươi lăm ngàn đầu sách, tư liệu quý phục vụ cho khảo cổ học, dân tộc học và sử học.
 
Trong hàng vạn hiện vật ấy, thứ khiến tôi thấy hơi sờ sợ, mà không thể rời mắt lại là xác ướp Xóm Cải. Đó là thi hài bà Nguyễn Thị Hiệu, một nữ quý tộc triều Nguyễn, có quan hệ hoàng thân với vua Gia Long, qua đời vào khoảng sáu mươi tuổi. Ngôi mộ của bà được khai quật năm 1994 tại khu Xóm Cải, quận 5.
 
Toàn bộ khu mộ được xây dựng như một ngôi đình thu nhỏ. Lớp quách làm bằng hợp chất dày và cứng đến mức đoàn khảo cổ phải thuê mười lăm thanh niên khỏe mạnh đục liên tục suốt bốn mươi ngày mới chạm được tới đáy, sâu gần tám thước. Bên trong, người xưa lót chiếu cói, giấy bản hút ẩm và phủ một lớp “lá triệu bằng lụa”, trên đó còn đọc được bốn chữ: “Hoàng gia cung liệm”. Quan tài được bọc kín bằng nhiều lớp sơn ta giống như một lớp dầu chống thấm, khiến dung dịch bảo quản không hề rò rỉ suốt hơn hai trăm năm.
 
Khi nắp quan tài được mở ra, các nhà khảo cổ đều sững sờ. Thi hài của bà gần như còn nguyên vẹn. Làn da vẫn mềm mịn, mái tóc vẫn đen, các khớp xương vẫn còn co duỗi được. Một người trực tiếp tham gia khai quật kể lại rằng, “khi nhẹ nhàng gỡ lớp mạng che mặt, ai nấy đều có cảm giác như bà chỉ vừa khép mắt trong một giấc ngủ rất dài.” Một lời kể ngắn thôi, cũng đủ gợi lên sự kính cẩn và xót xa của những người đứng trước khoảnh khắc hiếm có ấy.
 
Ngày nay, xác ướp được bảo quản trong lồng kính. Cứ ba tháng một lần, các chuyên gia của Đại học Y Dược lại đến kiểm tra, xử lý chống nấm mốc và theo dõi tình trạng bảo quản. Sự cẩn trọng ấy không chỉ để gìn giữ một thi hài đặc biệt, mà còn để giữ lại một chứng tích gần như không thể lặp lại của lịch sử.
 
Mỗi lần đứng trước lồng kính ấy, tôi thường nghĩ rất lâu. Người ta bỏ biết bao công sức để giữ cho một thân xác không tan biến theo đất, có lẽ không đơn thuần vì thân xác ấy quý giá, mà vì trong đó còn cất giữ dấu vết của cả một thời đại. Một con người còn hiện hữu nằm đó, dù chỉ trong im lặng, nhưng nếp sống, lễ nghi, tập tục và hơi thở của quá khứ cũng vẫn còn. Đó cũng là ý nghĩa sâu xa nhất của bảo tàng, lưu giữ không phải cái đã chết, mà là điều thời gian vẫn chưa nỡ đánh mất.
 
Dưới Những Tán Cây Già – Thành Phố Và Những Điều Chưa Bao Giờ Kể Hết
 
Trong Thảo Cầm Viên còn có một câu chuyện mà không phải ai cũng biết, gắn với cây cầu bắc qua rạch Thị Nghè từ thời khu vườn còn mở rộng sang bờ bên kia. Sau năm 1954, phần đất ấy dần bị nhà cửa và chợ búa lấn chiếm, chỉ còn khu vực phía bên này tiếp tục thuộc về Sở Thú. Cây cầu vẫn còn đó, lặng lẽ nối hai bờ, như giữ lại chút dấu vết của một không gian đã đổi thay theo năm tháng.
 
Đến năm 1957, chính quyền Ngô Đình Diệm tổ chức hội chợ Quốc Khánh ngay trong khuôn viên Thảo Cầm Viên. Đêm hôm ấy xảy ra một tai nạn khiến nhiều người đến nay vẫn còn nhắc lại. Một người từng có mặt kể rằng, khoảng bảy giờ tối, dòng người chen kín trên cầu để vào hội chợ thì bất ngờ có tiếng hô cọp sổng chuồng. Chỉ trong chớp mắt, đám đông hoảng loạn, xô đẩy, giẫm đạp lên nhau. Cảnh sát phải bắn chỉ thiên để lập lại trật tự nhưng mọi chuyện đã quá muộn. Sáng hôm sau, báo chí đưa tin mười bảy người thiệt mạng, hàng chục người khác bị thương.
 
Về sau, câu chuyện được truyền miệng thành chuyện “cầu gãy”, “cầu sập”. Thực ra, cây cầu vẫn nguyên vẹn. Thứ đổ vỡ hôm ấy không phải là nhịp cầu, mà là sự thiếu bình tĩnh của con người giữa cơn hoảng loạn. Nhiều ý kiến cho rằng kẻ xấu đã lợi dụng cảnh đông đúc để tung tin thất thiệt, gây náo loạn nhằm cướp giật. Dù nguyên nhân là gì, kết cục vẫn là một ký ức buồn mà thành phố đã phải trả giá bằng sinh mạng của nhiều người vô tội. Tôi vẫn thấy những câu chuyện như vậy thường nhắc mình rằng, đôi khi điều đáng sợ nhất không nằm ở hiểm họa thật, mà nằm ở nỗi sợ do chính con người tạo ra.
 
Cũng trong khuôn viên Thảo Cầm Viên, người ta còn truyền tai nhau về một hầm giam bí mật mang ký hiệu P-42, được cho là tồn tại từ trước năm 1975. Thực hư đến đâu thì đến nay vẫn chưa có lời khẳng định chắc chắn. Từ câu chuyện ấy, tôi lại nhớ đến hệ thống hầm ngầm dưới Dinh Gia Long, nơi từ lâu cũng phủ đầy những lớp sương mù của lời đồn.
 
Sau cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, chỉ mười hai ngày sau, Trung Tướng Tôn Thất Đính đã trực tiếp đưa một số nhà báo vào tham quan dinh để công chúng lần đầu biết đến hệ thống hầm ngầm của “anh em họ Ngô”. Thế nhưng, vì chỉ được nhìn thấy một phần rất nhỏ, trí tưởng tượng của người đời lại bắt đầu nối dài những khoảng trống còn bỏ ngỏ. Người thì nói có ba đường hầm chạy ra sông Sài Gòn, sang Nhà thờ Đức Bà rồi xuống tận Chợ Lớn. Người khác lại kể từng có hai trăm tù nhân bị bịt mắt đưa đi đào hầm lúc nửa đêm. Thậm chí còn xuất hiện lời đồn về bảy nhánh hầm thông thẳng tới sân bay Tân Sơn Nhất.
 
Phải đến những năm 1990, khi một đơn vị công binh tiến hành bơm nước, rà mìn và kiểm tra toàn bộ khu vực để phục vụ việc tham quan, diện mạo thật của hệ thống hầm mới dần được làm sáng tỏ. Sau tất cả những lời đồn đại kéo dài hàng chục năm, người ta chỉ tìm thấy sáu căn phòng cố thủ nối tiếp nhau bằng một hành lang và một chiếc máy phát điện đã ngâm nước quá lâu, rỉ sét đến mức gần như không còn nhận ra hình dạng ban đầu.
 
Đến năm 1999, tại một cuộc hội thảo ở Bảo tàng Thành phố, lại có thêm một câu hỏi được đặt ra. Nếu toàn bộ Dinh Gia Long xây bằng ô dước, còn hầm lại đúc bằng bê tông cốt thép, liệu hai hạng mục ấy có thật sự được xây dựng cùng một thời điểm hay không? Đến nay, câu hỏi ấy vẫn chưa có lời giải đáp cuối cùng. Lịch sử cũng giống như một dòng sông, càng lần theo càng thấy phía trước còn nhiều khúc quanh mà tư liệu chưa đủ để soi tỏ.
Đi hết một vòng từ Tao Đàn đến Sở Thú, từ Đền Hùng sang Bảo tàng Lịch sử, rồi dừng lại trước những cây cầu cũ hay những lời đồn dưới lòng đất, tôi càng thấy Sài Gòn chưa bao giờ chỉ là một thành phố của những con đường và những tòa nhà. Dưới mỗi gốc cây già, sau mỗi bức tường cũ hay dưới từng nền gạch tưởng như vô tri, vẫn có một câu chuyện đang nằm im.
 
Tôi chưa bao giờ thấy chán khi đi lại những nơi tưởng đã quá quen. Mỗi lần trở về Sài Gòn, thành phố lại kể thêm cho tôi một vài điều khác, nhỏ thôi nhưng có khi đủ làm đổi thay cách mình nhìn về điều cũ. Những trang sử không hẳn nằm trong sách, có những ký ức không được khắc lên bia đá, mà chỉ lặng lẽ tồn tại trong một lời kể, một gốc cây, một cây cầu hay một món đồ cũ nằm im bao năm sau lớp kính của bảo tàng.
 
(còn nữa)
 
Nguyễn Đông A
 
Nguồn: https://thekymoi.media/nguyen-dong-a-sai-gon-nhung-lop-thoi-gian-im-lang-ky-4-32935/