Một lịch sử Việt Nam, trong lịch sử dài của thân thể, vải quấn và tự do
1. Cái thúng thủng hai đầu
Cái thúng mà thủng hai đầu,
Bên ta thì có, bên Tàu thì không.
Bên ta thì có, bên Tàu thì không.
Tôi xin phép chưa giải câu đố ấy vội. Câu đố dân gian không phải bài toán, giải xong là bỏ; nó là một cái cửa hé, người ta phải đứng ở ngưỡng cửa một lúc cho quen mắt rồi mới bước vào. Cứ để cái thúng ấy hiện lên đã. Một cái thúng thì ai cũng biết, đan bằng tre, tròn, có đáy, đựng gạo đựng thóc, đội lên đầu ra chợ. Nay cái thúng ấy thủng hai đầu, tức là không đáy mà cũng không có cái gì gọi là miệng, chỉ còn một cái ống rỗng, và cái ống rỗng ấy lại được đem ra khoe, “bên ta thì có”. Người đố cười tủm. Người bị đố nghĩ mãi không ra, vì cứ tưởng thúng thì phải đan bằng tre.
Nó không đan bằng tre. Nó dệt bằng sợi. Đầu trên của nó là cái eo người đàn bà, đầu dưới là hai bàn chân người đàn bà, và ở giữa hai đầu ấy là một ống vải, người đàn bà chui vào, kéo lên, thắt lại, thế là xong một bộ hạ y. Không cần cắt, không cần khâu ống nọ ống kia, không cần đũng, không cần cạp có khuy, không cần thợ may khéo. Cần một tấm vải đủ dài, một đường khâu nối hai mép, và một sợi dây rút. Người ta gọi nó là cái váy. Người ta còn gọi nó, ở những làng dệt vải nghèo, là cái quần không đáy — một chữ mà tôi thấy vừa buồn cười vừa chính xác, vì nó tả cái váy bằng con mắt của người đã quen quần, giống như tả con cá bằng con mắt của người đã quen chim: một con chim không có cánh. Nghèo vật liệu đến thế mà tự do đến thế, bước dài bước ngắn tùy chân, ngồi xổm ngồi bệt tùy đất, lội xuống nước thì túm lên, gặp gió thì thả xuống, không có cái gì kẹp lấy người, không có cái gì bảo hai chân phải mỗi bên một ống như hai người tù bị xích riêng.
Bên trên cái ống ấy, ở phần ngực, lại còn một mảnh vải nữa, cũng nghèo vật liệu như thế, một vuông vải xéo góc, khoét một lỗ cổ, bốn dải buộc. Cái yếm.
Hai mảnh vải ấy, một trên một dưới, đã đi qua bao nhiêu thế kỷ trên thân đàn bà xứ Bắc, đã đi vào ca dao đến mức ca dao không có chúng thì què, rồi đến một ngày, chỉ trong vài đời người, chúng bị đem gọi là cũ, là quê, là “đồ nhà quê”, là thứ mà con gái lên tỉnh phải cởi ra và giấu đi trước khi bước xuống ga Hàng Cỏ. Vì sao? Vì sao hai phát minh giản dị và khôn ngoan đến thế lại có lúc bị nhìn như hai vết nhọ? Tôi viết bài này không phải để khóc cái yếm cái váy — người ta khóc chúng nhiều rồi, khóc đến sáo, khóc bằng những cô người mẫu mặc yếm đứng trên sân khấu — mà để đặt chúng trở lại vào chỗ của chúng, chỗ của con người biết dệt vải rồi phải nghĩ xem quấn vải ấy lên thân thế nào cho sống được, cho làm được, cho yêu được. Đấy là một lịch sử rất dài, dài hơn nước Việt, và trong lịch sử dài ấy cái yếm cái váy không phải hai của lạ. Chúng là hai câu trả lời Việt Nam cho một câu hỏi của cả loài người.
2. Trước áo quần: văn minh của vải quấn
Có một điều tôi muốn nói cho rõ ngay từ đầu, vì nếu không nói thì cả bài sẽ bị đọc lệch, đây không phải chuyện Á Đông lạc hậu. Không phải chuyện xứ nóng nên ăn mặc sơ sài, còn xứ lạnh văn minh nên biết mặc quần. Chuyện ngược lại thì đúng hơn.
Loài người, khi có tấm vải đầu tiên trong tay, đã không cắt nó ra. Cắt là phí. Một tấm vải là công của bao nhiêu người, trồng bông, tước sợi, se, hồ, mắc cửi, dệt, mỗi khổ vải chỉ rộng bằng cái khung cửi tay và cái khung cửi tay chỉ rộng bằng hai cánh tay người dệt vươn ra; đem một vật quý như thế mà đặt kéo vào, cắt thành mảnh nọ mảnh kia rồi khâu lại, là một ý nghĩ đến rất muộn, và đến trước hết ở những người phải cưỡi ngựa. Còn ai không cưỡi ngựa thì quấn. Người Hy Lạp quấn, cái chiton là một tấm vải chữ nhật cài lại ở vai, cái peplos là một tấm vải lớn hơn gập mép xuống, đàn ông đàn bà đều thế, các triết gia bàn về linh hồn bất tử trong một tấm vải quấn quanh mình. Người La Mã quấn, cái toga là một mảnh len hình bán nguyệt dài đến sáu thước, và người ta khoác nó theo những cách rắc rối đến độ có kẻ hầu chỉ chuyên lo việc quấn toga cho chủ, còn đàn bà La Mã thì mặc stola, một cái áo dài chùng đến chân, không có gì gọi là ống. Người châu Âu suốt cả thời trung cổ, đàn ông cũng như đàn bà, mặc áo chùng, tunic, robe, dài ngắn tùy thân phận, còn cái quần hai ống thì lâu lắm vẫn là thứ của người man di, của lính, của kẻ đi ngựa; cho tới rất muộn, khi thành thị, quân đội, xưởng máy và một kiểu đàn ông mới cùng lên ngôi, cái quần dài mới thắng, và thắng đến mức người ta quên là nó đã thắng. Người Ấn Độ quấn sari, một dải vải dài năm, sáu mét, tự nó không cần một mũi kim nào, quấn quanh hông, gấp lại thành nếp trước bụng, rồi vắt qua vai; một tấm vải mà thành cả một bộ y phục, thành cả một dáng đi. Người Khmer, người Thái, người Lào quấn sampot, quấn sinh, khoác sbai; đi qua cả một dải Đông Nam Á lục địa từ Miến sang Chiêm Thành người ta thấy vải quấn, vải chui, vải khoác, chứ không thấy ống.
Và người Việt: váy ống, váy đụp, yếm.
Cái quần hai ống, xin nhắc lại, không phải mặc định của văn minh. Nó là một giải pháp cho một tư thế, tư thế hai chân dạng ra ôm lấy lưng ngựa. Người thảo nguyên cần nó, người lính cần nó, người phải đi xa và đi nhanh cần nó, và ở đâu có ngựa, có quân, có di chuyển, ở đấy cái quần lấn tới. Còn ở đâu người ta đứng trên ruộng, ngồi bên khung cửi, lội trong nước, đi bộ trên đường làng, thì ở đấy vải quấn giữ được lâu, không vì lạc hậu mà vì hợp. Cho nên tôi xin ghi một câu ở đây, làm cái cọc để buộc cả bài vào. Váy không phải dấu hiệu của một nền văn minh thấp hơn. Váy là hình thức đầu tiên của tự do khi con người biết dệt vải. Sau đó người ta mới đánh đổi một phần tự do ấy lấy cái ngựa, cái súng và cái bàn giấy, và gọi cái đánh đổi ấy là tiến bộ.
3. Cái váy Việt: từ vải quấn đến váy đụp

Author: Một tấm bưu thiếp cũ từ trang web “www.Calendarthanhthuy.com”, được phát hành tại Đông Dương thuộc Pháp trước những năm 1940.
Váy có hai kiểu, và hai kiểu ấy khác nhau ở một đường khâu.
Kiểu thứ nhất là váy mở: một tấm vải quấn quanh hông, mép nọ đè lên mép kia, giắt lại hay thắt lại bằng dây. Đây là kiểu cổ nhất, đơn giản nhất, cũng là kiểu chung nhất, cái sampot của người Khmer, cái sarong của người đảo, cái váy quấn của các dân tộc thiểu số trên núi ta đều là váy mở. Kiểu thứ hai là váy kín, hay váy chui, hay váy ống, hai mép tấm vải được khâu lại với nhau, thành một cái ống, và người mặc chui vào từ trên xuống hoặc từ dưới lên rồi rút cạp. Chính cái này là cái thúng thủng hai đầu. Cái đường khâu duy nhất ấy là một bước tiến nhỏ mà không nhỏ, nó làm cho cái váy không tuột được, không hở được khi gió thổi hay khi cúi xuống cấy, và nó biến một tấm vải thành một cái áo có hình dáng riêng, không còn là tấm vải nữa.
Váy của đàn bà Bắc Bộ, cái mà người ta gọi là váy đụp, thuộc kiểu thứ hai này, và nó có mấy đặc điểm mà ai từng thấy một cái treo trên dây phơi ở làng đều nhớ. Nó rộng, rộng đến sồ sề, không bó lấy đùi mà xòe ra như một cái chuông ngắn. Nó tối màu, nâu non, nâu già, đen, cái màu của củ nâu và của bùn, cái màu mà bẩn không thấy bẩn. Và nó ghép, vì khổ vải dệt tay của ta hẹp lắm, một khổ chỉ độ ba bốn mươi phân, muốn có một cái ống đủ rộng cho một người đàn bà bước và ngồi thì phải ghép mấy khổ với nhau, đường khâu dọc chạy quanh váy như những cái nan của một cái lồng, và người thợ khâu khéo là người giấu được những đường ấy vào chỗ nếp gấp. Chữ đụp ấy tôi ngờ là chữ chỉ cái ghép, cái vá, cái đắp thêm; áo đụp là áo vá, váy đụp là váy ghép; một chữ tự nó nói lên cái nghèo của khổ vải và cái khéo của bàn tay. Váy đụp là váy của ruộng, mát, vì gió luồn được từ dưới lên; dễ giặt, vì chỉ là một cái ống không có gì rắc rối; và dễ kéo gọn, khi lội xuống nước thì túm cả cái ống lên mà giắt vào cạp, hai chân được tự do, xong việc lại thả xuống, không phải xắn không phải cởi.
Tôi không định thần thoại hóa cái gì ở đây. Không cần lôi các bà thời Hùng Vương ra làm chứng, vì các bà ấy không để lại cái váy nào cho ta xem, chỉ để lại vài hình người trên mặt trống đồng mà tả thế nào cũng được. Tôi chỉ nói điều chắc: váy là nữ phục phổ biến của người Việt trong một thời gian rất dài, dài hơn cái mà ta có sử liệu, và phổ biến nhất ở Đàng Ngoài, ở châu thổ sông Hồng, nơi khổ vải hẹp, ruộng nước nhiều và làng bám lấy nhau. Còn ở Đàng Trong, từ khi chúa Nguyễn muốn phân biệt mình với ngoài Bắc, rồi dưới triều Nguyễn, thì cái quần hai ống được cổ vũ, được đưa vào lệ, được coi là đứng đắn hơn; và ta sẽ trở lại chuyện ấy ở phần sau, vì đấy là một cuộc chiến, một cuộc chiến bằng lụa và bằng chỉ dụ, mà kẻ thua không hẳn đã thua.
4. Yếm: một mảnh vải che trước ngực-bụng

Trái: Đàn bà và đứa trẻ mặc yếm, Hà Nội 1900 – 1915. Unknown photographer. Phải: Hai cô gái mặc yếm đang mang hàng đi bán. Author: Một tấm bưu thiếp cũ từ trang web “www.Calendarthanhthuy.com”, được phát hành tại Đông Dương thuộc Pháp trước những năm 1940.
Từ dưới hông đi lên đến ngực, ta gặp cái yếm. Và tôi muốn tả nó thật cụ thể, như tả một đồ vật đặt trên bàn, vì cái yếm là thứ bị nói đến nhiều mà nhìn kỹ thì ít; người ta nói đến nó như nói đến một cái gì đã biết rồi, một cái mờ mờ gợi cảm ở đằng sau chữ yếm đào, và tôi thì muốn cầm nó lên.
Một vuông vải. Hoặc không hẳn vuông, một hình thoi, một vuông vải đặt xéo cho một góc chĩa lên trên. Cái góc trên ấy được khoét đi, thành cái cổ yếm, khoét tròn thì gọi là cổ xây, khoét nhọn xuống thì gọi là cổ xẻ, cổ chữ V, và các cô gái làng có khi ganh nhau ở cái đường khoét ấy, khoét sâu một phân là đã khác. Hai góc hai bên khâu vào hai dải, hai dải ấy vòng ra sau lưng mà buộc; và ở hai mép cổ khoét lại thêm hai dải nữa, hai dải ấy vòng lên buộc sau gáy. Thế là xong. Bốn dải, một mảnh, một cái nút sau lưng, một cái nút sau gáy. Nó chỉ che đằng trước, từ chỗ xương ức đến bụng, còn cả lưng thì để trần dưới lớp áo. Vải may yếm thường là vải mộc, vải nhuộm nâu cho người làm ruộng, lụa the cho người khá, và màu, thôi thì đủ màu, nhưng cái màu đi vào chữ là màu đào, cái hồng nhạt của hoa đào, cái màu mà tôi ngờ rằng người ta chọn không phải vì đẹp bằng vì nó gần với màu da nhất, để cái yếm với cái ngực nhìn từ xa không biết đâu là vải đâu là người.
Mùa nóng, ở trong nhà, ở sân sau, ở bờ giếng, người đàn bà có thể mặc yếm không như áo ngoài; đấy là cái hình ảnh mà tranh và thơ và trí nhớ của đàn ông giữ lại nhiều nhất, và vì thế người ta hay tưởng yếm là đồ mùa hè. Không phải. Yếm là lớp sát da bốn mùa. Mùa đông cũng yếm, yếm bên trong, ngoài áo cánh, ngoài nữa áo tứ thân hay áo dài, ngoài nữa áo bông, và người đàn bà xứ Bắc rét cắt da vẫn cứ mang trên ngực một vuông vải mỏng buộc bằng bốn dải, không có gì thay đổi, chỉ có số lớp bên ngoài là thay đổi. Cái yếm là hằng số. Áo là biến số. Điều ấy nói lên một điều, yếm không phải là cái áo cho người khác nhìn, yếm là cái áo cho chính mình, cái đầu tiên mặc vào và cái cuối cùng cởi ra, cái mà thân thể quen hơi nhất. Cho nên khi nó đi vào ca dao, nó không đi vào như một y phục. Nó đi vào như một phần của người.
5. Yếm cua, yếm bò, yếm dãi: một từ Việt cổ về cái “che trước”
Đây là phần mà tôi thích nhất, vì nó là phần chữ, và tôi vốn ham chữ hơn ham vải.
Hãy để ý cái từ yếm nó đi những đâu trong tiếng ta. Con cua có cái yếm, là mảnh mai lật lên được ở dưới bụng, người mua cua lật yếm lên xem cua đực cua cái. Con rùa có cái yếm, là mảnh mai dưới, mảnh phẳng úp lấy bụng. Con bò có cái yếm, là túm da thõng ở dưới cổ, trước ngực. Đứa trẻ có cái yếm dãi, là mảnh vải buộc trước ngực cho nước dãi khỏi rớt xuống áo. Người thợ rèn, người bán hàng thịt, có cái yếm da, cái tạp dề buộc trước bụng. Và người đàn bà có cái yếm. Xếp tất cả lại thì thấy chúng có chung một nghĩa gốc, không phải “áo lót của đàn bà”, mà là: cái gì nằm ở phía trước, ốp vào ngực-bụng, để che, để chắn, để đỡ. Cái yếm đàn bà chỉ là một trường hợp, và có lẽ không phải trường hợp đầu tiên, của một hình thể mà tiếng Việt đã đặt tên từ khi nhìn con cua, con rùa.
Trong các từ điển chữ Nôm người ta tìm được một chữ 裺 dùng để ghi yếm, bộ y 衤 bên cạnh một chữ Hán, và có thể là giữa chữ ấy với một âm Hán nào đó có một mối liên hệ ngữ âm và ngữ nghĩa lâu đời; tôi không phải nhà ngữ học, tôi không dám nói mối liên hệ ấy sâu đến đâu. Nhưng tôi biết một điều, từ chỗ chữ Nôm mượn một cái vỏ Hán để ghi âm, đến chỗ kết luận “cái áo yếm là của Tàu đem sang”, có một cái vực rất rộng, và không có cây cầu nào bắc qua cái vực ấy cả. Chữ viết là một chuyện. Cái áo trên người là chuyện khác. Người ta mượn chữ để ghi tên con trâu mà không phải vì thế con trâu là con trâu Tàu.
Cho nên tôi xin nói thẳng: không cần Cao Biền. Cái thuyết Cao Biền, viên tướng đời Đường sang trấn Giao Châu, đem yếm sang dạy đàn bà An Nam mặc, là một cái thuyết không có lấy một dòng sử liệu nào đỡ đằng sau, một cái thuyết thuộc loại người ta kể ở bàn nước rồi có kẻ chép vào sách rồi có kẻ khác dẫn sách ấy, và sau ba lần chép thì thành ra “theo sử sách”. Cao Biền, tội nghiệp ông ta, đã bị dân gian ta đổ lên đầu bao nhiêu chuyện, yểm long mạch, cưỡi diều giấy, và bây giờ lại thêm cái tội hay cái công dạy người ta mặc yếm. Ông ta có nhiều việc để làm ở Giao Châu hơn thế. Giao thoa Hoa-Việt là một chuyện có thật, và dài, dài hàng nghìn năm, đi qua vải vóc, đi qua chữ nghĩa, đi qua cả cách buộc một cái nút; nhưng cái yếm, đến lúc nó có mặt trong ca dao, đã là một từ Việt và một hình thức Việt, đã có họ hàng với con cua và con rùa trong tiếng Việt, và không ai đi hỏi con cua rằng cái yếm của mày ở đâu ra.
6. Dải yếm: phần dây và toàn thể người đàn bà
Bây giờ đến chỗ tinh vi nhất, và tôi phải xin bạn đọc kiên nhẫn theo tôi một quãng, vì ở đây ca dao làm một việc rất táo bạo mà nếu đọc lướt thì tưởng là bình thường.
Dải yếm không phải là cái yếm. Nghĩa đen của nó rất khiêm tốn, là mấy sợi vải nhỏ khâu vào yếm để buộc yếm lại, sau gáy hay sau lưng. Nó là phần dây, phần phụ, phần không ai nhìn thấy khi người đàn bà đứng đối diện, vì nó nằm ở phía sau. Nếu cái yếm là một cái nhà thì dải yếm là cái then. Vậy mà trong ca dao, cái then ấy lại được nhắc nhiều hơn cái nhà, và được nhắc theo một cách mà mỗi lần đọc lại tôi lại phải dừng:
Ước gì sông rộng một gang,
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.
Cái gì đang xảy ra ở đây? Trước hết là một phép hoán dụ, lấy một bộ phận gọi cả người, nói dải yếm là nói cái yếm, nói cái yếm là nói cái ngực, nói cái ngực là nói cả người đàn bà. Nhưng ca dao khôn hơn thế. Nó không lấy bất kỳ bộ phận nào; nó lấy đúng cái dải, và cái dải có ba tính chất mà không bộ phận nào khác có, nó sát da, nó là thứ buộc lại và tháo ra được, và vì tháo ra được nên nó trao được. Ta không trao được cái ngực; ta trao được cái dải đã buộc lấy cái ngực. Cho nên khi người đàn bà trong câu ca ước con sông chỉ rộng một gang để bắc cái dải yếm của mình làm cầu, thì cô ta đang làm hai việc cùng lúc, cô ta thu cả cái mênh mông ngăn cách hai người lại chỉ còn một gang, một gang là khoảng cách của bàn tay xòe, khoảng cách của thân thể; và cô ta lấy vật gần thân thể mình nhất, vật vẫn giữ cái yếm trên ngực mình, tháo nó ra và bắc qua. Không có cái cầu nào thật. Có một người đàn bà đang dùng cái then của chính mình để mở cửa cho người ta sang. Sang chơi, chữ chơi ấy nhẹ tênh, mà cái cầu để sang chơi thì làm bằng dải yếm; ca dao chưa bao giờ táo bạo mà lễ phép đến thế. Sông ở đây không phải sông. Sông là lệ làng, là cha mẹ, là cái điều không được phép, và người đàn bà bắc cầu qua nó không bằng lời thề, không bằng nước mắt, bằng một sợi vải nhỏ mà chỉ cô ta mới có quyền tháo.
Nhân đây cũng xin nói một chút chữ nghĩa, để cho những người ham chữ như tôi khỏi thắc mắc. Cái chữ dải này, tôi ngờ, không đứng một mình; nó có họ hàng với đai, cái đai lưng, với đới trong “đới” nghĩa là đeo, là mang, là vành đai, và với đái trong âm Hán-Việt của chữ 帶, cũng là dây thắt, dải lụa; những âm ấy đi quanh một ý niệm chung là sợi vải để thắt, để buộc, và có lẽ đã đi vào tiếng ta bằng những ngả khác nhau ở những đời khác nhau. Còn cái chữ đái mà người ta hay nói tục kia, chữ chỉ việc tiểu tiện, thì là một từ khác hẳn, không dây mơ rễ má gì với dải yếm cả; tôi nói điều này không phải vì sợ tục, mà vì có người thấy hai âm giống nhau lại đi kể một câu chuyện từ nguyên nghe hay lắm mà sai. Chữ nghĩa cũng như vải, hai mảnh cùng màu chưa chắc đã cùng khổ.
7. Bắc Bộ, Nam Bộ: cùng tiếng Việt, hai kỹ thuật mặc
Nói đến yếm và váy mà không nói đến chỗ chúng dừng lại thì thiếu, và chúng dừng lại ở đâu đó trên đường vào Nam. Nhưng tôi xin nói việc này cho khéo, vì có một thói xấu ở người viết về phong tục là hễ có hai miền thì phải dựng thành hai phe, Bắc thế này Nam thế kia, như thể sông Gianh là một cái vách. Không có vách. Có một dải đất dài, người ta đi dần vào, mang theo tiếng nói và một phần cách mặc, và cứ mỗi chặng lại rơi bớt một thứ, nhặt thêm một thứ, cho đến khi tới đồng bằng sông Cửu Long thì bộ y phục đã khác mà tiếng nói vẫn là tiếng ấy.
Ở Bắc, cái yếm không đứng một mình. Nó đứng trong một bộ ba, yếm ở trong, váy ở dưới, áo tứ thân khoác ngoài, hai vạt trước buông thõng hoặc buộc lại trước bụng, và cái vạt buộc ấy để hở một tam giác yếm ở giữa, đúng cái tam giác mà mọi con mắt đàn ông trong hội làng đều biết đường mà tìm. Cả một thẩm mỹ được dựng lên quanh cái tam giác ấy, màu yếm phải đối với màu áo, dải yếm phải thò ra sau gáy vừa đủ, cái nón quai thao phải nghiêng để bóng nó rơi xuống đúng chỗ. Cả một kho ca dao được dựng lên quanh cái tam giác ấy nữa. Cái yếm ở Bắc là trung tâm, là chỗ mà mọi lớp áo bên ngoài đều xoay quanh để mà che và để mà hé.
Vào Nam thì khác. Người đàn bà Nam Bộ có áo lót, tất nhiên là có, có cái áo túi, cái áo cánh ngắn, những thứ mặc trong; ngoài là áo năm thân, sau này là áo bà ba, hai vạt cài khuy giữa, gọn, kín, cắt theo thân; và dưới là quần, quần đen, ống rộng. Có người tưởng thế nghĩa là đàn bà trong Nam “không có đồ lót”, đó là một cách nói ngớ ngẩn của người ngoài Bắc mới vào; họ có, và có khi kín hơn ngoài Bắc. Cái khác không phải ở chỗ có hay không, mà ở chỗ cái gì làm trung tâm. Trong Nam, cái áo lót là áo lót thật, nó nằm trong, nó không có tên riêng để mà hát, không có dải để mà bắc cầu, không có tam giác nào để hở ra ngoài áo bà ba; cái được nhìn là cái áo bà ba, và cái áo bà ba thì cài khuy. Từ yếm có đi vào Nam, người ta vẫn nói yếm, vẫn hiểu; nhưng cái nền văn hóa của dải yếm, cái văn hóa lấy sợi dây buộc sau gáy làm ngôn ngữ của tình yêu, thì phần lớn đã nở hoa và kết trái ở ngoài Bắc, ở châu thổ sông Hồng, giữa những cái ao, những đình làng, những đêm hát đúm, hát ví, hát quan họ. Cùng một tiếng Việt, hai kỹ thuật mặc, và một trong hai kỹ thuật ấy đã sinh ra thơ nhiều hơn.
8. Cơ thể, vệ sinh và tự do nhỏ bé
Bây giờ tôi phải nói đến một điều mà các bài viết về áo yếm cái váy hoặc là bỏ qua vì sợ tục, hoặc là nói giễu cho vui, và cả hai cách đều là cách của người không tôn trọng cái váy. Tôi xin nói cho bình tĩnh, như người tả một kỹ thuật.
Người đàn bà làm ruộng ở đồng bằng Bắc Bộ, một ngày đứng ngoài trời từ sáng sớm đến chiều, cách nhà có khi hàng cây số, và trên cánh đồng ấy không có một cái nhà xí nào. Cô ta phải giải quyết một nhu cầu rất thường của thân thể, một ngày vài lần, giữa đồng không mông quạnh hoặc là ở ven đường làng, giữa bao nhiêu con mắt. Với cái quần hai ống thì phải cởi, cởi cạp, kéo xuống, ngồi, kéo lên, thắt lại, và trong suốt quãng ấy thì cả một phần thân thể phơi ra không có gì che. Với cái váy ống rộng thì không cần cởi gì cả. Người đàn bà chỉ việc ngồi xổm xuống, cái ống vải xòe ra quanh mình như một cái lều nhỏ, che kín từ eo đến chân, xong việc đứng lên, giũ váy một cái, đi tiếp. Không ai thấy gì. Không mất một phút. Cái váy, trong khoảnh khắc ấy, không phải là y phục nữa; nó là một cái nhà mang theo người, một cái nhà nhỏ đến mức chỉ vừa đủ cho một sự riêng tư tối thiểu, và cái riêng tư tối thiểu ấy là tất cả những gì mà cả một đời lao động ngoài trời có thể cho người đàn bà. Đấy là một kỹ thuật sống, không phải chỉ là mỹ thuật, và ai không hiểu điều ấy thì không hiểu vì sao cái váy sống dai đến thế, dai hơn cả chỉ dụ của vua.
Đặt cạnh những dân tộc khác thì thấy rõ hơn cái khôn của mỗi bên. Người Nhật có sarashi, một dải vải bông dài quấn chặt quanh ngực hay quanh bụng, quấn nhiều vòng, để giữ, để nén, để ấm; nó là dải, không phải tấm, và cái khôn của nó là ở sự chặt. Người Khmer, người Thái có sbai, một khăn dài choàng chéo từ vai qua ngực, một dải vải để hở một bên vai, cái khôn của nó là ở đường chéo, ở chỗ nó vừa che vừa để cho khí trời đi qua. Người đảo có sarong, tấm vải quấn hạ thân, khi cần thì kéo cao lên tận nách mà che ngực luôn, một tấm cho hai việc. Còn người Việt có cái yếm, không phải một dải quấn, không phải một khăn choàng, mà là một mảnh cắt sẵn, có hình dáng riêng, ốp đúng vào ngực-bụng, buộc bằng dải; nó không quấn, nó đặt; và cái khôn của nó là ở chỗ nó tách phần che ra khỏi phần buộc, cái để che thì kín, cái để buộc thì có thể tháo. Bốn dân tộc, bốn câu trả lời cho cùng một câu hỏi: che cái ngực thế nào cho sống được với cái khí hậu này. Không câu trả lời nào giỏi hơn câu nào. Chúng chỉ khác nhau về chỗ mà mỗi bên đặt cái tự do của mình vào.
Từ đấy tôi rút ra cái ý lớn của cả bài, và xin nói cho gọn, y phục bao giờ cũng đi cùng cách một thân thể đi lại, lao động, nghỉ ngơi, yêu đương, và giải quyết những việc rất bình thường của nó. Ai muốn hiểu một cái áo thì đừng nhìn nó trên giá; hãy nhìn nó lúc người ta cúi xuống, lúc người ta ngồi xổm, lúc người ta lội, lúc người ta cởi. Cái áo là câu trả lời; thân thể mới là câu hỏi.
9. Cuộc chiến giữa váy và quần
Cái váy, tự do đến thế, khôn đến thế, dĩ nhiên là phải có kẻ ghét. Kẻ ghét nó là trật tự.
Các triều đình ta không phải một lần đã ngồi lại bàn xem dân mặc thế nào là phải phép. Ở Đàng Trong, từ giữa thế kỷ mười tám, chúa Nguyễn muốn có một cõi riêng, khác Đàng Ngoài, và cách rẻ nhất để làm một cõi khác là bắt dân ăn mặc khác, áo cài khuy, quần hai ống, đàn bà cũng quần, và cái lệ ấy đi theo họ Nguyễn ra Bắc khi họ thống nhất được đất nước. Rồi đến đời Minh Mạng, năm 1828, một tờ chiếu ra Bắc Hà bắt đàn bà bỏ váy mà mặc quần, cho giống trong Kinh, cho “văn minh”, cho kín đáo, cho có một nước một phép. Dân Bắc kể lại tờ chiếu ấy bằng mấy câu mà đến giờ đọc lên vẫn nghe được cái cười và cái tức của họ:
Tháng Tám có chiếu vua ra,
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì phải mượn quần chồng sao đang.
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.
Không đi thì chợ không đông,
Đi thì phải mượn quần chồng sao đang.
Có bản nói tháng tám, có bản nói tháng chín; ca dao không cần đúng lịch, ca dao cần đúng giọng, và cái giọng ở đây là giọng của người bị bảo phải thay cái mà mình mặc từ đời bà đời mẹ chỉ vì một tờ giấy từ Huế gửi ra. “Người ta hãi hùng” — hãi hùng vì cái gì? Không phải vì sợ vua. Vì cả làng chỉ có đàn ông là có quần, và đàn bà muốn ra chợ theo lệnh vua thì phải mượn quần của chồng, mà chồng thì cũng chỉ có một cái. Bốn câu ấy nói hộ cả một sự thật kinh tế: chuyện quần hay váy không phải chuyện thẩm mỹ, chuyện phong hóa, chuyện Tàu hay ta; nó là chuyện một khổ vải, một cái quần tốn vải và tốn công hơn hẳn cái váy, và cái nhà nghèo không có vải để mà theo vua.
Quần hai ống gắn với trật tự mới, cái trật tự của quan, của lính, của sổ sách, của một triều đình vừa thắng, cần một cái nước ăn mặc giống nhau từ Nam ra Bắc để dễ nhìn dễ đếm. Nó gắn với một sự kín đáo mới, sự kín đáo của người ngồi bàn giấy chứ không phải của người ngồi xổm ngoài đồng. Nó gắn với hành chính. Và nó thắng, đúng là nó thắng, nhưng thắng rất chậm, và ở Bắc Bộ, ở các làng xa tỉnh, cái váy đụp vẫn còn sống bền trên thân các bà cho đến tận giữa thế kỷ hai mươi, còn xuất hiện trong ảnh, trong ký, trong trí nhớ của những người bây giờ đã già.
Tôi xin can những ai muốn gọi sự sống dai ấy là “chống Tàu”, là “giữ gìn bản sắc”. Nói thế là làm to chuyện và làm sai chuyện. Các bà cụ mặc váy đụp đến năm 1950 không phải để chống ai. Các bà mặc vì cái váy hợp với thói quen của thân thể các bà, hợp với ruộng, hợp với khổ vải nhà dệt, hợp với cách các bà ngồi và các bà lội, và vì cái áo mà thân thể đã quen thì không sắc lệnh nào bóc ra được. Đấy là sức ỳ của đời sống, và sức ỳ của đời sống thì không có ý thức hệ; nó chỉ có thói quen, và thói quen thì mạnh hơn vua. Cái váy thua cuộc chiến trên giấy và thắng cuộc chiến trên thân thể, trong một trăm năm; rồi thua nốt, không phải vì chiếu chỉ, mà vì đường sá, vì thị thành, vì con gái lên tỉnh làm thợ, và vì một thứ mà không vua nào nghĩ ra, cái quần âu bằng vải máy dệt khổ rộng, rẻ, sẵn, bán ở chợ huyện. Trật tự không giết được cái váy. Cái chợ mới giết được nó.
10. Yếm đào sau khi yếm mất
Cái yếm cũng thế, chết một cái chết không có ai giết. Cái áo ngực Tây phương vào, đầu tiên ở tỉnh, đầu tiên với các cô me Tây, các cô đầm lai, rồi các cô nữ sinh, rồi các cô thợ; người ta gọi nó bằng một chữ Tây bẻ ra tiếng ta, cái xu chiêng, một chữ nghe vừa lạ vừa quen; nó nâng, nó bó, nó có gọng, nó khác hẳn cái yếm ở chỗ nó tạo hình chứ không che; và trong vài chục năm nó thay chỗ. Cái quần thay chỗ cái váy dưới hông. Bộ ba yếm–váy–tứ thân tan ra, mỗi mảnh đi một nơi, và ở nơi chúng từng đứng bây giờ là quần và áo, những thứ không có ca dao.

Tranh tư liệu: Trái: bản in nét đen theo bộ Technique du peuple annamite (Henri Oger, Hà Nội, 1909); Phải: bản màu Đông Hồ đời sau. Đối chiếu hai bản: Nguyễn Dư, “Tranh Tết Hứng Dừa”, Chim Việt Cành Nam, Tết Tân Mão 2011,
Nhưng cái yếm không chết hẳn. Nó rút lui vào ba chỗ, và ở ba chỗ ấy nó sống một đời sống khác, đời sống của những gì đã ra khỏi đời thường để vào ký ức.
Nó sống trong quan họ, trong chèo, trong tranh dân gian. Các liền chị hội Lim mặc yếm, cô Thị Mầu mặc yếm, và trong tranh Tết có bức Hứng dừa mà tôi muốn dừng lại lâu một chút, vì nó là chỗ mà cái yếm và cái váy của bài này đứng chung trong một cử chỉ, và vì bức tranh ấy có hai bản, hai bản kể hai chuyện.
Bản thứ nhất là bản nét đen, khắc ở Hà Nội năm 1909 cho một bộ sưu tập của người Pháp về kỹ thuật và sinh hoạt An Nam, một tư liệu đầu thế kỷ XX còn thấy được. Anh con trai ngồi trên ngọn dừa thả quả xuống. Cô gái đứng dưới, tóc dài xõa lưng, chân đất, xốc cả cái váy lên mà hứng, cái váy trở thành cái thúng thật, đúng cái thúng thủng hai đầu của câu đố mở bài. Nhưng hãy nhìn phần trên của cô ta: cô mặc một cái áo cánh hở, không cài, và một bên ngực lộ ra ngoài; không có yếm. Dưới gốc dừa có đứa bé leo lên và một người đàn ông cởi trần giữ nó lại. Ở góc trên bên trái là chữ Nôm, ba cụm, đọc từ phải sang trái. Hai chữ lớn là cái tựa, 興椥, Hứng dừa. Rồi hai cột. Cột ngoài tám chữ, 唯埃窖難𢧚椥帝潮, Khen ai khéo nặn nên dừa, đấy trèo; cột trong sáu chữ, 低興朱皮㕵堆, đây hứng cho vừa một đôi. Người ham chữ có thể dừng ở đấy một chút. Khen mượn âm chữ 唯, khéo mượn 窖, nặn mượn 難, vừa mượn 皮; và nhất là đấy khắc bằng 帝, đây khắc bằng 低, hai chữ ấy rành rành, không lẫn vào đâu được. Cho nên đấy trèo đây hứng là lời cô gái đứng dưới đất nói với anh con trai ở trên cây, chứ không thể là lời anh ta; đấy không phải chuyện bình tán, đấy là chuyện mặt chữ.
Bản thứ hai là bản mà cả nước treo ngày Tết, in màu trên giấy điệp, và người ta gọi là tranh Đông Hồ. Đặt cạnh bản kia thì thấy hai bản đảo chiều và khác nhau ở nhiều chi tiết: cô gái sang bên phải, cây dừa sang bên trái, hai câu Nôm dời sang góc phải. Ở bản Đông Hồ, người khắc thêm một chùm dừa, đổi người đàn ông cởi trần thành một đứa trẻ, và — đây là chỗ tôi muốn nói — cho cô gái mặc một cái yếm xanh, dải buộc thò ra sau gáy, ngực che kín. Cái váy đỏ vẫn xốc lên hứng như cũ. Cái yếm hiện ra như một thay đổi then chốt.
Không cần quyết vội bản nào sinh ra bản nào; chỉ riêng sự khác biệt ấy đã cho thấy cái yếm có thể đổi hẳn nơi đặt cái tục của bức tranh: nó đi vào để che. Có lẽ người khắc thấy bản gốc hở quá cho một tấm giấy dán trong nhà mấy ngày đầu năm, có trẻ con, có mẹ chồng; có lẽ chỉ vì cái ngực để trần in màu thì khó coi hơn in nét. Không biết. Nhưng kết quả thì rõ: từ khi cô gái có yếm, cái tục của bức tranh không còn ở trên thân cô ta nữa; nó dời hẳn vào hai câu Nôm ở góc, nay chữ nặn 難 đã thành chữ dựng, tùy tay thợ, mà nghe cũng không kém hay, còn đấy 帝 với đây 低 thì vẫn nguyên; và chữ hứng 興 của cô gái không phải chỉ là hứng quả dừa. Cái yếm che cái ngực để cho câu thơ được hở. Bức tranh ấy dán ở bao nhiêu nhà từ bao nhiêu Tết mà không ai thấy tục, vì cái tục của nó nằm trong chữ chứ không nằm trong váy, và cái yếm chính là vật đã đưa nó từ váy vào chữ.
Nó sống, thứ hai, trong trí nhớ về người mẹ, người bà, cái làng, cái ao, cái sân đình, những buổi chiều xa; và những kẻ xa quê như tôi nhắc đến cái yếm là nhắc đến cả một cõi không về được, cái yếm ở đấy không còn là vải mà là một địa danh.
Và nó sống, thứ ba, trong thời trang, trong cái mà người ta gọi là cách tân: yếm lụa, yếm ren, yếm mặc với quần bò, yếm trên sàn diễn. Ở đây tôi phải nói một câu khó nghe: rất nhiều khi cái sự phục hồi ấy chỉ là sự phô bày. Cái yếm bị lôi ra khỏi cái áo tứ thân đã che nó, đặt trơ trọi dưới đèn, để bán cái ngực chứ không bán cái yếm, và người ta gọi thế là tôn vinh. Không phải. Người thợ khắc Đông Hồ vô danh kia hiểu cái yếm hơn cả một tuần lễ thời trang, ông ta biết cái yếm là để che, và cái gợi của nó nằm ở chỗ nó che, ở cái tam giác hở giữa hai vạt áo, ở sợi dải thò sau gáy, ở cái phần không nhìn thấy; đem nó ra để không che gì nữa thì cái gợi cũng hết, chỉ còn một mảnh vải trên một thân người, và mảnh vải ấy có thể là bất cứ mảnh gì. Tôn vinh một di sản không phải là biến nó thành y phục hóa trang, cũng không phải là biến nó thành một vật gợi dục dễ dãi. Người ta giết cái yếm lần thứ hai bằng cách yêu nó không phải phép.

Bức tranh “Lady in Red” (1997) của họa sĩ Đỗ Quang Em. Photo: Báo Thanh Niên
11. Kết: váy Âu–Á, mắm–sốt
Tôi xin đóng bài này bằng một câu chơi chữ mà tôi thích, thích vì nó tục mà đúng, và vì nó nói được cả bài trong sáu chữ: váy Âu–Á, mắm–sốt: même chose.
Không phải cùng một vật. Cái toga không phải cái váy đụp, cái sari không phải cái yếm, cái garum của người La Mã, cái nước cá muối ủ nắng mà quân đoàn La Mã chở theo trong vò đi khắp đế quốc, không phải là nước mắm Phan Thiết, và cái nghệ thuật sốt của người Pháp, thứ họ tự hào như tự hào về nhà thờ Chartres, không phải là bát nước chấm pha tỏi ớt trên mâm cơm ta. Nhưng cùng một quy luật. Từ một vật liệu đơn sơ, một con cá, một tấm vải, một hạt muối, mỗi dân tộc làm ra vô số hình thức, và mỗi hình thức ấy tưởng là của riêng mình mà thật ra là một câu trả lời cho một câu hỏi chung: ăn thế nào cho ngon, mặc thế nào cho sống. La Mã có garum, ta có nước mắm; Pháp có sốt, ta có nước chấm; Tây Âu có toga và robe, ta có váy đụp và yếm. Ai bảo cái nào cao hơn cái nào là người chưa hiểu cả hai.
Không có dân tộc nào sở hữu độc quyền một mảnh vải hay một giọt mắm. Vải thì ở đâu người ta cũng dệt, mắm thì ở đâu có cá và có muối người ta cũng ủ. Nhưng có những dân tộc biết biến chúng thành ký ức, biết cho một sợi dây buộc sau gáy đi vào một câu hát rồi câu hát ấy sống lâu hơn cả sợi dây, biết cho một cái ống vải xòe ra thành cái nhà nhỏ của một người đàn bà giữa đồng rồi cái nhà ấy đứng lại trong tiếng nói lâu hơn cả người đàn bà. Với người Việt Bắc Bộ, cái áo yếm và cái váy chính là hai mảnh vải đã trở thành ký ức ấy. Cái thúng thủng hai đầu, bên ta thì có. Có, và còn có, không phải trên thân nữa, mà ở chỗ mà mọi thứ đã sống thật rồi mới được đến: trong chữ.
Pierre Nguyễn
La Farigoule, Chủ nhật 16 tháng 8, 2026
La Farigoule, Chủ nhật 16 tháng 8, 2026
