Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
lanmansudoi
Sơ lược tiểu sử tác giả
 
Nguyễn Hữu Thời sinh năm 1953 tại Saigon
Cựu học sinh Hưng Đạo, Trường Sơn (Saigon) (1965-1972)
Cựu SVSQ khóa 3/73 Trường Bộ Binh
Hiện sống tại Saigon, Việt Nam.
 
Tác phẩm đã xuất bản:
  1. 1.- Thơ Lính Chiến Miền Nam – ARVN Soldiers Poems, tập thơ song ngữ | NXB Tiếng Quê Hương, Virginia, USA, 2016.
  2. 2.- Thơ Những Người Thua Cuộc – Poems of The Losers, tập thơ song ngữ. NXB Sống, Westminster, California, USA. 2019.
  3. 3.- Trong Cuộc Đao Binh, bút ký, NXB Nhân Ảnh, 2021.
  4. 4.- Mưa Buồn Chiều Cũ, tập thơ, NXB Hiên Thư Các, 2023.
  5. 5.- Hoa Dại, Tình Người, tùy bút, NXB LOVE, 2025
************
 
Tựa
 
Khí tiết của chữ
 
Phiếm luận Lan Man Sự Đời của Nguyễn Hữu Thời có tất cả 40 tiết mục. Đọc từ đầu tới cuối, người đọc nhận thấy sự đời của mục nào cũng hết sức lan man. Đời người vốn ngắn ngủi nhưng sự đời của Nguyễn Hữu Thời lại dông dài, cái dông dài rất thú vị. Những ai từng đọc Phiếm của Nguyễn Hữu Thời hẳn phải ngạc nhiên về bút pháp của tác giả. Bút pháp đó đề cập đến tính người, tình người, với lời lẽ tự nhiên để Nguyễn Hữu Thời trò chuyện với sự đời của lớp người mà tác giả muốn nói tới. Mỗi mẩu chuyện Phiếm của Nguyễn Hữu Thời là một lẽ đời hoàn toàn khác biệt, nhất là ta có cảm tưởng như chính mình đã sống, đã từng hòa mình vào nỗi đời của nếp sống đó. Nét đặc trưng của Lan Man Sự Đời qua ngòi viết cho thấy Nguyễn Hữu Thời có tầm nhìn sâu sắc, rõ ràng và thực tế, về đời sống xã hội, về thế thái nhân tình xưa và nay.
 
Mở đầu trang sách, Nguyễn Hữu Thời trịnh trọng đưa ta ngược về quá khứ, ở đó có hương vị cà phê và tiếng nhạc Sài Gòn. Phiếm luận về "Dĩ Vãng Cà Phê Nhạc Sài Gòn", tác giả viết:
 
"Sài Gòn chiến tranh, trong bất an và lạc lõng, để thư giãn, người ta nghe nhạc trong các quán café, từ cái máy cassette hoặc máy chạy băng magné tức là băng cối hiệu Sony, Akai, Teac… với ampli và cặp loa thùng.
 
Trong những quán café nở rộ dọc các khu phố, đêm cũng như ngày, người ta ngồi im lặng, nhả khói thuốc, chìm đắm trong lời ca, tiếng nhạc. Người ta sống chậm, như bình thản chờ đợi một điều gì rất riêng cho mình… Âm nhạc, và cả quán café, thời kỳ đó, trở thành một niềm vui, một nguồn an ủi tạm bợ qua ngày".
 
Tôi vốn sinh ra… dưới gốc cây cà phê nên nói đến cà phê thì tôi, không những sành sỏi mà còn tự xưng mình từng là… bạn của café. Nhưng so với sự hiểu biết café và thưởng thức nhạc của Nguyễn Hữu Thời thì tôi chịu, nghĩa là chịu thua; tôi cho rằng, từ bao giờ, café và nhạc cùng tiếng hát của các ca sĩ lừng danh một thời ở Sài Gòn đã ăn ruồng vào tâm hồn nghệ sĩ của anh.
 
Ở Sài Gòn vào thập niên 1960-70, có nhiều trường công và tư thục nổi tiếng trong đó có trường Trung Học Hưng Đạo của thầy Hiệu Trưởng Nguyễn Văn Phú thành lập năm 1959 nằm trên đường Cống Quỳnh gần ngã ba Bùi Viện, và trường Trung Học Đệ Nhị Cấp Trường Sơn của thầy, nhà văn Nguyễn Sỹ Tế trên đường Lê Văn Duyệt. Nguyễn Hữu Thời đã là một trong hàng chục ngàn học sinh của 2 ngôi trường tư này.
 
Hồi đó anh học trò Nguyễn Hữu Thời học rất kém (tác giả tự thú) chỉ thích văn chương, thi phú và học tiếng Anh, nhất là được thầy Hưng, một vị giáo sư Anh Văn trẻ tuổi của Việt Nam Cộng Hòa dạy cho lòng yêu thương xứ sở qua bài văn Tôi Là Người Việt. Cái tựa đề giản dị nhưng đầy tự hào mà tôi cho rằng đó là một bài học lớn, là học trò biết khi nào đặt chữ nghĩa song hành với lòng yêu nước. Tôi cũng nghĩ rằng thầy Hưng là một trong những người thầy tuyệt vời nhất của nền giáo dục học đường. Ở thầy, là sự kết hợp giữa trí tuệ và cao cả, trang nghiêm và hiền hòa, học đường và lòng biết ơn, yêu đất nước và đồng bào mình.
 
Tôi biết rõ Nguyễn Hữu Thời, cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, yêu đất nước 4000 năm văn hiến của mình, là một tự hào.
 
"Nhưng, làm công dân nước 'Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam', tôi thấy xấu hổ lắm". Câu kết luận chắc nịch trong ngoặc kép của Nguyễn Hữu Thời là một câu nói khẳng khái, là cơ bản về văn học chân chính hay nhất thế kỷ.
 
Nhân nói đến lính, trong bài "Thời Trang Quân Phục", cựu Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức Nguyễn Hữu Thời đã miêu tả ngoại hình một số nam nữ thanh niên ngoài Bắc thích mặc quân phục. Ta đọc ở đây cái sở thích nhất thời vừa ồn ào, nhí nhố lại ngụy tạo hết sức nhạt nhẽo nếu không muốn nói là lố lăng:
 
"Họ thích làm lính… giả! Họ mặc quân phục nửa giống lính QLVNCH, nửa giống lính Mỹ, tức là "không giống ai". Dĩ nhiên là không giống chút nào với cha ông họ vốn chỉ mặc kaki Nam Định, dép râu và nón cối. Những món đó bây giờ bị họ chê là xấu xí, lạc hậu, không "oai".
 
Vì là lính giả nên tác phong, bộ dạng của họ không có gì là hiên ngang như lính thật. Quân phục của họ thường mới tinh, thẳng nếp, không một vết nhăn. Họ không hiên ngang mà ngổ ngáo, thích "chơi nổi", thích làm anh hùng đường phố!"…
 
Cũng vì những chàng trai cô gái thuộc tầng lớp thừa tiền, lắm của thích làm lính giả nên Nguyễn Hữu Thời, từng là anh lính thật, cảm thấy gai mắt bèn phán một tràng chữ chắc nịch, đã tai:
 
"Những chàng trai cô gái 'sành điệu' khoái mặc đồ lính thì… chưa chắc họ khoái đi lính (?) Nếu đất nước chẳng may rơi vào hoàn cảnh chiến tranh, họ có xung phong nhập ngũ để đánh giặc hay… trốn biệt? Người ta mặc quân phục là để giúp dân, giúp nước, không phải để làm dáng. Những chàng trai cô gái này giống như là những đào kép cải lương mới vào nghề đang tập tành diễn xuất".
 
Đang hùng hồn phê phán lính giả, Nguyễn Hữu Thời lái nhẹ qua một chút lính thật ở hải ngoại. Ta đọc để suy gẫm, rằng lính thật tức là cựu binh QLVNCH, nay đã là những ông lão U80, tóc bạc, da mồi, lưng còng, miệng móm, đi đứng nghiêng ngả chập choạng lại thích mặc lại quân phục cũ một thời của họ. Đã đành Nguyễn Hữu Thời tôn trọng sở thích của họ song tác giả Lan Man Sự Đời nghĩ rằng những bộ đồ đẹp đẽ oai nghiêm đó chỉ phù hợp khi khoác lên người những chàng trai trẻ vào cái thời binh lửa ấy…
 
Nói đến chuyện lính, mà lính Việt Nam Cộng Hòa là bất tận, bất tử, là thiên hình vạn trạng. Nó sâu xa và lầm lũi trong chiến tranh, một đoạn đời ghi tâm khắc cốt của anh em lính chiến chúng tôi và của tất cả chúng ta, những người lính.
 
Trong chiến tranh, như Nguyễn Hữu Thời đề cập, cái chết của người dân, dù là tai nạn hay bom rơi đạn lạc, thảy đều oan ức. Còn cái chết của người lính, dù có tức tưởi, đột ngột thế nào, cũng là chuyện hết sức bình thường. Không có gì là oan ức. Đó là sự hy sinh mà người lính đã ý thức và chấp nhận. Đọc tiếp đề tài "Chọn Một Tính Từ" của Nguyễn Hữu Thời để cảm nhận hai mươi năm chiến đấu của QLVNCH không hề vô ích; nhờ đó mà dân chúng miền Nam đã có một khoảng thời gian khá dài được sống trong bầu không khí tự do, trong một xã hội tương đối công bằng, với một nền dân chủ đã định hình. Thiết nghĩ người dân miền Nam có lương tri đều biết ơn quân đội Việt Nam Cộng Hòa…
 
Ngòi viết của Nguyễn Hữu Thời miệt mài chấm xuống nỗi đau của sự đời mang sắc thái u buồn hay niềm hạnh phúc mang hình thái an vui. Có truyện Nguyễn Hữu Thời viết thật nghịch lý mà dí dỏm như truyện "Văn Người, Vợ Mình" thay vì Văn Mình, Vợ Người như người ta thường ví. Có truyện nhẹ nhàng, súc tích gợi lên một triết lý nhân sinh như truyện "Chuyện Chính Danh". Có truyện so sánh thật thâm thúy cách dịch thơ của Phạm Duy và Bùi Giáng về bài thơ L'adieu của Appolinaire như truyện "Mùa Thu Chết, 2 Cách Dịch". Có truyện lan man về ký hiệu&, biểu tượng của chữ S ngược có móc (&) nghĩa là: và (tiếng Anh là And, tiếng Pháp là Et). Từ biểu tượng & này, tác giả khéo ví von một cách thâm tình mà cũng thật tội nghiệp về 10 con gà đồng quê đã tử mị hết 8 còn lại 2 con mang tên Trắng và Đen rất dễ thương như truyện "Anh Bông Lu & Bé Lùi". Có truyện tình người thấm thía, đep như thơ như truyện "Ngày Anh Mãn Khóa", cái ngày anh mãn khóa thật là một ngày đáng nhớ, trang trọng, hùng tráng. Đáng nhớ nhất là có em gái hậu phương đến dự, cũng gần đó có ba cô gái rất lịch sự trong những tà áo dài, vừa đứng đắn vừa duyên dáng… .
 
Nói chuyện… lính ngụy, mà "ngụy rặt" như 4 anh em trong "gia đình nghèo thành thị" của Nguyễn Hữu Thời thì ôi thôi, biết bao giờ mới dứt. Bốn anh em đều được cha mẹ cho học hành tử tế, lớn lên trong thời loạn họ đều đi vào lính để rồi cuối cùng trở thành "ngụy rặt".
 
Bắt chước Lan Man Sự Đời của Nguyễn Hữu Thời, tiện đây tôi cũng lan man đôi dòng về hội họa gắn liền với họa sĩ Chóe, một họa sĩ biếm họa tài danh của Việt Nam cũng là một người lính cấp bậc Hạ Sĩ mà nhiệm vụ chỉ là vẽ và vẽ mà thôi. Trước năm 1975, cảm hứng của thơ văn trữ tình, lãng mạn thường gắn liền với cái đẹp của hội họa. Người ta nói thi ca lồng trong hội họa tức là trong thơ có họa, trong họa có thơ. Sự kết hợp này làm cho đời sống tinh thần của người nghệ sĩ dễ thăng hoa, giàu sức sáng tạo hơn rất nhiều.
 
Vậy mà sau 1975, dưới ách Xã Hội Chủ Nghĩa, Nguyễn Hữu Thời cho biết những người lính thất trận có bị đày đọa cũng không oan ức như họa sĩ Chóe, chẳng dính líu gì tới vụ án hồ Con Rùa để phải bị ghép tên vào nhóm "những biệt kích văn hóa"; họa sĩ Chóe không tranh hơn thua với ai mà cũng chẳng có ân oán gì với tay họa sĩ nằm vùng nọ. Tính đố kỵ được nuôi dưỡng để trở thành lòng căm thù khiến người ta trở nên độc ác, độc ác đến không còn tình người. Tất cả chỉ vì háo danh, và mặc cảm, mặc cảm thua kém. Cứ thế, qua bài viết của Nguyễn Hữu Thời, trong họa, cái danh phận ác ôn đó nó cứ bay bàng bạc trong không gian và thời gian, cho dù "cuộc đời vốn buồn nhưng mọi chuyện rồi cũng qua đi. Chỉ có lịch sử trung thực là còn lại".
 
Đưa những câu chuyện vặt vãnh thường ngày vào văn xuôi tuy bình thường nhưng lại nói lên một sự thật. Cái sự thật của Nguyễn Hữu Thời là dùng ngòi viết để viết xuống, dùng ngôn ngữ để kể ra những cái chao đảo, ngả nghiêng, những cái eo sèo, lệch lạc, những thứ căm thù, sắt máu, những cái nghịch lý, kể cả những cái gọi là lầm lẫn của đời sống con người. Các mẩu truyện Nhà Văn và Nhà Thơ, Chữ & Nghĩa, Tú Mỡ Đi Tây, Benefit Of The Doubt, Không Cần Biết Đến Tác Giả, Lầm!, Mặc Cảm Đàn EmNhững Góc Facebook... hầu hết đều gợi lên một triết lý thăng hoa hay lạnh lùng dìm xuống bởi tình người, tình đời.
 
Tóm lại, lối hành văn của Nguyễn Hữu Thời thật phong phú, một loại nghệ thuật tả chân, dạt dào mà bình dị, tự nhiên và phóng khoáng. Nguyễn Hữu Thời viết để hoàn thành tác phẩm nhằm bộc lộ niềm khao khát, lan man trải sự đời xuống trang giấy. Chữ nghĩa lâu nay vốn gắn liền với Nguyễn Hữu Thời đã trở thành một thói quen ràng buộc nhau để hoàn thành một tác phẩm. Tình thân, bạn hữu, hồi ức, đam mê, hạnh phúc lẫn khổ đau, trườn qua bao nhiêu hệ lụy, Nguyễn Hữu Thời mới sống hết lòng với chính mình và cho sự nghiệp văn chương.
 
Lan Man Sự Đời là tác phẩm phản ánh tâm cảnh người dân Sài Gòn trước và sau chiến tranh; về hình thức và nội dung tác phẩm này dù có chiều hướng nghiêng về hoài cảm nhưng là một bước tới của nghệ thuật tả chân sâu sắc, có khí tiết.
 
Chữ nghĩa tuyệt chiêu
 
Phan Ni Tấn 10/10/2025
 
************
 
Bạt
 
Phiếm hay Biếm?
 
(nhân đọc ‘Lan Man Sự Đời’, Phiếm luận của Nguyễn Hữu Thời)
 
Tôi có may mắn được Nguyễn Hữu Thời cho xem bản thảo tác phẩm sắp được xuất bản. Đứa con tinh thần thứ 6, ngoài những đứa ‘con nuôi’ – những gì mà ông viết chỉ với mục đích mưu sinh thoát ‘đói’. Trong cuộc đổi đời, cái khó ló cái khôn, ông đã ‘tạo ra và nuôi’ chúng để rồi chúng ‘nuôi’ lại ông. Chỉ là giai đoạn thôi: “…tôi không bao giờ muốn nhắc đến những cuốn sách đó. Tôi muốn quên chúng đi như quên những việc tôi đã làm để kiếm ăn…” (Viết Trong Nỗi Buồn).
 
Nhưng bên cạnh cái may mắn đó, tôi lại mắc cái nợ, khi ông bảo “anh đọc xong, có nhận xét gì thì viết cho vài chữ.” Tôi hiểu ‘vài’ ở đây phải nhân với một ngàn, như cách nói ở Việt Nam hiện nay: một trăm có nghĩa là một trăm ngàn đấy, các quan Tây ạ.
 
Thế là tôi đọc. Tập bản thảo khi lên thành sách có lẽ gần hai trăm trang, xấp xỉ con số ‘bạn Facebook’ của Nguyễn Hữu Thời, theo lời ông kể 2 lần trong tác phẩm sắp trình làng này – trong hai bài có tựa là “Tình Bạn” và “Căm Thù”.
 
Gần 40 đoản văn được tác giả lấy ra từ đống ký hiệu I và O nằm rải rác đâu đó trong bộ nhớ máy vi tính, nay được dàn ra theo thứ tự thời gian và đưa vào tác phẩm mang tựa “Lan Man Sự Đời” mà ông gọi đó là Phiếm Luận. Từ tháng 5/2014 qua “Dĩ Vãng Café Nhạc Saigon” cho tới những ngày cuối năm 2025 qua “Bàn Tay”. Mười một mười hai năm ròng, tuyển ra được từng ấy bài, đổ đồng 4 bài một năm, Nguyễn Hữu Thời không phải là tay viết phiếm chuyên nghiệp, như Hiếu Chân, Chu Tử thời trước, hoặc hai cây đại thụ chuyên viết phiếm hiện nay là Song Thao (Canada) và Lý Sinh Sự (Việt Nam), mỗi vị có cả ngàn bài phiếm. Nhưng ta không thể so sánh cách đơn giản như vậy. Thứ nhất, ‘chuyên viên viết phiếm’, ngoài tài năng thiên phú, phải có được một chỗ trong tờ báo. Anh không thể bảo “tôi viết rồi để đấy”. Tức là chuyện phiếm phải có độc giả thường xuyên. Chuyện phiếm phải đi liền với những vấn đề thời sự xã hội, nóng bỏng, người đọc mới có thể dễ dàng liên tưởng, qua đó bài phiếm mới dễ kích động suy tư của độc giả. Phiếm phải cặp kè với báo là vì vậy. Ngày xưa, nhật trình vừa ra, đã có nhiều người chực mua ngay. Để làm gì? Người này mở ngay trang có truyện Kim Dung, do Hàn Giang Nhạn dịch với tốc độ xấp xỉ Google Translate thời nay. Người khác lật ngay mục phiếm. ‘Nói Hay Đừng’ với Hiếu Chân. ‘Ao Thả Vịt’ với Kha Trấn Ác, tức Chu Tử. Nhưng thời đó qua rồi. Báo giấy ngày nay ngày càng hiếm, mọi thứ đều lên mạng, rồi thiên hạ đã dần chuyển sang cung cách ‘nghe’ thay vì ‘đọc’. Nghe một chuyện phiếm được người ta đọc giùm cho mình trên YouTube giống như bị cặp chặt tay lôi đi, mất hẳn cái thú thấy chỗ nào thích ý thì dừng lại, ngẫm nghĩ, đọc lại, cười khà khà, nhấp một ngụm trà hoặc cà phê và gật gù thích thú. Một bài phiếm hay là bài phiếm gây được những giây phút thoải mái như thế. ‘Tay này viết hay thiệt, chơi tới bến luôn!’ là câu khen rất chân tình.
 
Thứ hai, người viết phiếm giỏi phải có trí nhớ tốt. Nếu không thông kim bác cổ thì phải biết  đưa những chi tiết ‘ba lăng nhăng’ – từ lịch sử, thời sự cho đến khoa học, giai thoại văn chương v.v., để làm mắm muối cho câu chuyện thêm đậm đà. Thời nay đâu cần trí nhớ tốt. Bộ não con người dần thui chột, lười suy nghĩ. Bí cái gì, hỏi Google hoặc AI là ra hết. Ngay cả số điện thoại của những người thân cũng chẳng cần nhớ, lúc nào cũng có sẵn cả trăm cả ngàn trong túi, trong bóp. Bởi thế người viết phiếm dần dà đã trở thành sinh vật quý hiếm.
 
Chuyện phiếm ngày nay trở nên một thứ hàng hiếm, cũng do tiền định, vì trong chữ “Phiếm” đã có chữ “hiếm” rồi (theo lời của chị Orchid Lâm Quỳnh). Đó là chưa kể đến những rào cản từ xã hội. Phiếm thường là cách để chê cười, chỉ trích những điều trái tai gai mắt mà ta nghe hoặc thấy, bằng cách dùng ngôn từ có ý nhị. Khổ nỗi, những điều viết ra, nếu muốn chọc vào chỗ đau cho thỏa cơn tức, lại có thể đụng chạm đến những thế lực ẩn mặt. Nguyễn Hữu Thời đã vạch trần áp lực này trong “Căm Thù”, một trong những bài phiếm cuối cùng của tuyển tập: “Họ đã lên tiếng, họ không im lặng, trước những gì tôi viết. Năm ngoái, có ông đã nhắn tin vào điện thoại di động của tôi, đe dọa: “Anh viết khéo lắm, nhưng hãy coi chừng!”. Rồi trong nhiều quốc gia, chỉ trích mang tầm cỡ chính sách, kế hoạch nhà nước cũng được (hoặc bị) chỉ đạo, cho dù chẳng có ông nhà nước nào công nhận điều này. Phiếm bây giờ cũng có thứ ‘fake phiếm’!
 
Nhưng nói như thế, tại sao Nguyễn Hữu Thời còn bạo gan cho ra mắt ‘Lan Man Sự Đời’, một tuyển tập gần bốn chục bài ‘phiếm luận’, khi ông có thời gian đã tự lánh mặt trên sinh hoạt mạng xã hội, “để cho họ biết rằng tôi cũng biết sợ”, như ông viết trong tác phẩm? Biết sợ để sống còn như Nguyễn Tuân cũng là một triết lý sống, nhưng với Nguyễn Hữu Thời thì khó lắm. Vốn là dân nhà binh, ông nghĩ gì nói nấy, huỵch toẹt, không vòng vo. Mà cũng không có gì – qua 5 tác phẩm của ông đã xuất bản, chứng tỏ một ông già trong tuổi ‘cổ lai hy’ có một trí nhớ của con voi. Cũng cần thêm vào đây một chi tiết: tuyệt đại đa số các bài trong tập Phiếm Luận này được ông viết (đúng ra là gõ máy) sau trận đột quỵ, tay phải gần như bất khiển dụng. Như vậy chắc là chỉ mổ cò một ngón cả ngày lẫn đêm (con cò mấp máy suốt đêm thâu – Hồ Xuân Hương) và phải vắt óc cật lực.
 
Vậy mà vẫn viết được mấy chục bài ‘phiếm’. Chịu ông thật.
 
Tại vì, chắc chắn trong đầu mỗi người chúng ta đều vương vấn những chuyện trái tai gai mắt, làm bận óc nhiều năm. ‘Nói hay Đừng’ đây? (cũng là tên mục ‘phiếm’ đã được Hiếu Chân và Lý Sinh Sự đảm trách). Trong hoàn cảnh của Nguyễn Hữu Thời, nói thì có nguy cơ lãnh cái búa. Hại mình không nói làm gì, nhưng hại vợ con thì không thể được. Im thì bí bách. Cân nhắc đắn đo mãi, đến cuối đời mới thấy ánh sáng: ‘thôi thì nói phứt ra một lần cho nó nhẹ cái đầu.’ Tôi trộm nghĩ Nguyễn Hữu Thời đang ở thời điểm đó. Trong bài phiếm đầu tiên của tác phẩm, viết từ hơn mười năm trước, “Dĩ Vãng Café Nhạc Saigon”, ông đã xả nỗi bực chỉ vì sự cẩu thả của một ca sĩ hàng đầu, lại không thuộc lời bài hát. Mà nỗi bực ấy, bạn đọc thử đoán xem, ông đã mang trong lòng bao nhiêu năm? Hơn bốn mươi năm! Bốn mươi năm đủ làm cho nhiều người quên hẳn mối tình đầu… Ông thì không.
 
Nhưng theo tôi, đây có lẽ không là một bài phiếm. Như vậy, trước khi ‘lan man’ tiếp thì phải xem Phiếm Luận nghĩa là gì đã. Tra một số từ điển, tôi tìm thấy những định nghĩa sau đây:
  • Tự điển Khai Trí Tiến Đức (xb 1931, một tự điển được coi là mẫu mực của thế hệ U80): Phiếm luận: Bàn Rộng.
  • Từ điển Tiếng Việt của nhóm Hoàng Phê (xb 2021, từ điển được coi là chuẩn hiện nay ở Việt Nam): Phiếm luận: Bàn Rộng Và Chung Chung, Không Thiết Thực.
  • Việt Nam Tự điển của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (xb 1970, tự điển được coi là mẫu mực ở miền Nam thời trước): Phiếm luận: Bàn Phiếm, Cãi Chuyện Bao Đồng.
  • Hán Việt Tân Từ điển của Nguyễn Quốc Hùng (xb 1975, quyển từ điển có số phận hẩm hiu, bị bỏ quên vì ra đời trong những ngày cuối cuộc chiến). Phiếm luận: Bàn Bạc Dông Đài, Rộng Về Nhiều Việc. Bàn Bạc Mà Chơi.
  • Từ điển Việt ngữ Phổ thông của Lê Văn Thu & Nguyễn Hiền (xb 2023, từ điển được coi là đầy đủ nhất ở hải ngoại, tác giả là người Việt tị nạn, xuất bản ở Hoa Kỳ): Phiếm luận: bàn cãi chung chung về đủ mọi thứ chuyện
Như vậy, phiếm luận (hoặc gọi tắt là phiếm) là viết hoặc bàn lung tung về đủ thứ chuyện không thiết thực – nói thẳng ra là ‘bàn chuyện tào lao thiên địa’. Như Nguyễn Đình Toàn đã phân tích khá cặn kẽ trong bài “Đọc Phiếm của Song Thao”: “Phiếm theo định nghĩa của Đào Duy Anh là “trôi nổi linh đinh, không thiết thực, không chuyên một việc”. Tùy vào các từ người ta dùng kèm, nó sẽ có những ý nghĩa riêng, thí dụ: phiếm bạc [rộng lớn], phiếm du [đi chơi chỗ này chỗ khác, không định chỗ nào], phiếm lãm [xem xét đại khái], phiếm luận [bàn trống không, không nhắm riêng việc gì]…”
 
Xét trên góc độ này, bài phê bình một ca sĩ hát sai lời bản nhạc cũng có thể gọi là phiếm được, nếu cho chuyện ca sĩ tự sửa lời khi đó là một chuyện tào lao, vì hiện nay chuyện ‘chủ ý’ hát sai lời nhạc để kiếm cơm, viện lẽ ‘ở bầu thì tròn, ở ống thì dài’ đã thành phổ thông. Như vậy đúng ra đó phải là một đề tài cho Nguyễn Hữu Thời làm thêm một bài phiếm, vì ông luôn đề cao sự chính danh, đức tính khiêm nhượng, cùng sự tự do và chân chính trong văn nghệ. Chính danh trong đời sống được ông nhắc tới hơn chục lần trong tác phẩm, cũng chỉ vì “Sống chính danh, trung thực; không mặc cảm tự ty hay tự tôn, coi bộ khó quá, phải không?” (Mặc Cảm Đàn Em).
 
Ở một bài khác trong tuyển tập, khi bàn về chuyện tên và bút danh, sau khi nhắc người đọc đừng quên là tên chính thức của tập thể những người lính Việt Nam Cộng Hòa cũng đã thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử, ông phán một câu xanh rờn: “người nghệ sĩ còn có quyền chọn cho mình vô số những bút danh hay nghệ danh rất đẹp; cũng được xem là chính danh, được dùng trong sáng tác, trình diễn… Nhưng, sử dụng bút danh để tự mình viết sách ca ngợi chính mình thì không còn chính danh nữa. Chuyện này tồi tệ và ít có ai dám làm, trừ những thằng mặt mo.” (Chuyện Chính Danh).
 
Đây là một nét đặc biệt của phiếm luận, theo quan điểm của tôi: dẫn dắt người đọc đi lòng vòng, tán ba lăng nhăng, rồi bất chợt nhảy sang một ý khác, làm ta giật mình trước khi kịp hiểu ra…
 
Nhưng thực tế có khác. Thế giới ta đang sống hiện nay ngày càng phức tạp. Muốn ‘chính’ cũng chẳng được. Chỉ trong một thoáng, ‘chính’ đã trở thành ‘ngụy’. Muốn phủ nhận một danh vị hoặc xú danh mà người khác tự ý gán cho cũng là chuyện bất khả: “Sau khi an tọa, nhà văn chậm rãi mở túi “sắc-cốt”, lấy ra 2 cuốn sách, mở trang đầu, rút cây bút bi trong túi, hí hoáy viết Thân tặng nhà văn Nguyễn Hữu Thời…” Anh này chỉ mới gặp tôi lần đầu ngày hôm đó, anh ta chỉ mới biết cái tên cúng cơm của tôi; anh ta nào biết tôi có viết lách gì đâu? Thôi được, vì anh ta là nhà văn, nên tôi, một khi đã là bạn của anh, tất nhiên tôi cũng là nhà văn” (Nhà Văn Và Nhà Thơ). Ông có muốn chối cũng chẳng được đâu. Đó là còn may, chưa có một tấm selfie trên Facebook với lời chú: ‘với nhà thơ Nguyễn Hữu Thời’, cho mọi người mặc sức thả tim – hay ném đá, nếu tên nhà văn kia là hạng bồi bút. Khi đó càng chối càng hại thêm. Nguyễn Hữu Thời đã nghĩ ra cách rào đón trong tập Phiếm Luận này bằng cách dụng ngữ tinh tế mà sắc bén. Ông dẫn người đọc đi vòng vo qua những chông gai mà một dịch giả (là chính ông) đã gặp trong khi chuyển ngữ – cả từ lẫn ý – từ Việt sang Anh, bằng chính những kinh nghiệm sống của ông. Đi đã đời trời đất, tán hươu tán vượn đủ chuyện, đến câu cuối ông ngắn gọn đưa nhận định: “Còn như các nhà văn, nhà thơ của cái Hội Nhà Văn đó mà cũng đòi gánh vác “sông núi trên vai” thì thật là đại ngôn và hoang tưởng!” (Chữ & Nghĩa).
 
Hay trong một bài khác trong tác phẩm, “Chuyện Thật”, đoạn cuối ông ban cho một câu: “Thời kỳ ông hoạn lợn trị vì thật là kinh hoàng! Ai từng trải qua đều phải rùng mình khi nhớ lại. Vậy mà…theo BBC News tiếng Việt (Sep. 29, 2018) thì “…trong nhiều năm, ông Đ.M. tự hào về mình đã làm được việc kinh thiên động địa…”.
 
Đọc hết gần bốn chục bài ‘phiếm luận’ tôi chợt nghĩ: hay ta có thể tạo thêm một từ mới: biếm luận. Bê bò, không phải pê phở. Ta đã thấy biếm họa, tại sao không có ‘biếm luận’ nhỉ? Biếm họa là bức vẽ châm biếm một sự kiện thời sự qua nét hài. Bức hí họa này không thể thiếu trong báo. Tương tự, một bài viết chê cười, châm biếm mà người đọc nhận ra đối tượng ngay cũng có thể gọi là biếm luận chứ. Vậy biếm luận khác phiếm luận chỗ nào? Biếm luận thiếu cái gì đó của phiếm. Đó là yếu tố bất ngờ. Thế nhưng chính đó lại là nét đặc sắc của Nguyễn Hữu Thời. Bị tước súng thì chụp cây bút, vồ lấy bàn máy chữ. Nhưng vẫn là anh lính, không có ước mơ thành ‘quan văn nghệ’. Trong văn thơ, nếu vừa đọc một bài mà biết ngay tác giả là ai, đó là một thành công. Thành công nhờ sắc thái riêng.
 
Nguyễn Hữu Thời, ít nhiều, là một người như thế. Theo tôi. Còn nếu hỏi tiếp: những bài nào được anh cho là tiêu biểu trong tập Phiếm Luận? Tôi xin trả lời: quí vị cứ thử đọc “Những Góc Facebook”, “Thời Trang Quân Phục” “Văn Người, Vợ Mình”, “Vaccines Và Bánh Trung Thu”. Còn nếu đọc toàn bộ tác phẩm, sẽ nhận thấy có một ‘sợi chỉ đỏ xuyên suốt’ tác phẩm (tại sao cứ phải màu đỏ nhỉ?): đó là sự chính danh, ngay thẳng, nó được tác giả bàn tới trong cả nửa số bài trong tác phẩm gần 200 trang này.
 
Duy có một số điểm tôi chưa thể hoàn toàn đồng ý với tác giả. Thí dụ như trong “Bài Thơ Và Tác Giả”, Nguyễn Hữu Thời nhắc lại lời của nhà thơ Nguyên Sa, từng là thầy của ông: “Cái tên không làm vinh dự một bài thơ; chính nội dung của bài thơ làm vinh dự cho người ký tên bên dưới bài thơ ấy.” Qua đó, ông chủ trương chỉ nên ghi tên tác giả dưới bài thơ. Ghi tên tác giả thêm một lần kế cái tựa là thừa, là vô ích và vô lý. Nhưng đời nó khác, ông Thời ạ. Trong thời mà cả thế giới bội thực chữ nghĩa, cái tên đóng vai trò quan trọng cho quyết định của người đọc là có nên đọc tiếp một bài thơ hay bài văn không. Chưa kể tới màn của các bố trong bộ phận kiểm duyệt. Ông Thời thử lấy một bài phiếm của ông, đề tên tác giả là một tay bồi bút nào đó và gửi xem. Nhưng thôi, tôi biết ông chẳng bao giờ làm chuyện mạo danh ấy đâu, dù chỉ để thử một giả thuyết.
 
Để kết cho bài này, xin được mượn đỡ cặp lục bát cuối cùng trong Truyện Kiều của cụ Nguyễn Du:
 
Lời quê chắp nhặt dông dài,
Mua vui cũng được một vài trống canh
 
với hy vọng quý vị nào vừa đọc xong tập Phiếm Luận “Lan Man Sự Đời” và bài bàn loạn của tôi cũng nên coi đó là những chuyện tào lao Thiên Hạ Sự. Chỉ sợ bạn không thể coi đó là chuyện tào lao, lại mang theo trong mình thay cho tác giả, thì đó là tùy bạn.
 
Riêng phần Nguyễn Hữu Thời, ông cho biết: Phiếm luận với tựa “Lan Man Sự Đời” sẽ là tác phẩm cuối cùng của ông. Còn tôi, tôi lại có một ước mong nho nhỏ: có những bà mẹ đặt tên cho con là ‘Út’, nhưng rồi lại có ‘Út Thêm’, ‘Út Nữa’. Bà mẹ không muốn, nhưng ông bố thúc. Nguyễn Hữu Thời cho biết đây là tác phẩm cuối, nhưng biết đâu cái đầu ông lại bắt ông phải cầm lấy bút: ‘đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên.’ Nghiệp văn nó khổ thế đấy, các cụ ạ.
 
Nguyễn Hiền
(mùa xuân 2026)
 
Nguồn: https://www.caidinh.com/