Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
muiluatrodong
hình AI trong bài viết của Quang Nguyễn
 
Giữa cánh đồng mênh mông, cái nắng không còn là sự gay gắt của đất trời mà tựa như một dải lụa vàng óng ả, nhẹ nhàng vắt ngang qua những thảm mạ non xanh mướt. Ánh nắng ban mai tinh khôi rơi xuống, đọng lại thành những hạt ngọc li ti trên đầu ngọn lá còn vương sương sớm, khiến cả cánh đồng lấp lánh như được dát một lớp kim tuyến diệu kỳ. Những làn gió thoảng qua mang theo hơi thở ngọt ngào của mạ non, quyện trong cái nắng hanh hao tạo nên một không gian thanh khiết và yên bình đến lạ. Dưới sự vỗ về của nắng, sắc xanh của mạ như càng thêm mướt mát, tràn đầy nhựa sống, tựa như những thiếu nữ đang nghiêng mình làm duyên trước tấm gương khổng lồ của bầu trời. Cánh đồng lúc này không chỉ là một thảm lúa, mà là một bức tranh thủy mặc hài hòa, nơi nắng và mạ hòa quyện vào nhau trong một vũ điệu của ánh sáng và hương đồng cỏ nội. Dưới cái nắng như rót mật xuống cánh đồng mạ non xanh mướt, dáng hình nhỏ thó của Lụa hiện lên thật đơn độc và nhỏ bé. Giữa biển lúa mênh mông đang rập rờn theo gió, cái nghèo như một bóng ma vô hình cứ đeo bám lấy người góa phụ trẻ, hiện rõ qua tấm áo bà ba sờn vai, bạc màu vì sương gió. Dẫu nắng trên đầu có rực rỡ và thơ mộng đến đâu, dẫu những hạt nắng có lấp lánh như dát vàng trên mặt nước ruộng, thì trong mắt Lụa, đó chỉ là cái nắng thiêu đốt đôi vai gầy vốn đã trĩu nặng vì kiếp gánh nước mướn. Lụa lom khom cấy từng nhành mạ nhỏ, đôi bàn tay gầy guộc sần sùi lún sâu vào lớp bùn đen quánh. Cái nắng hanh hao của đất trời dường như cũng chẳng thể làm ấm lại trái tim lạnh lẽo từ ngày cậu Hai Khá mất đi, để lại Lụa trơ trọi làm dâu nhà bà Măng Tu với bao nhọc nhằn chồng chất. Nhìn từ xa, cái bóng của Lụa đổ dài trên mặt ruộng, liêu xiêu và mỏng manh như chính phận đời của cô giữa thế gian rộng lớn này.
 
Lụa có cái dáng người nhỏ thó, gầy guộc, tấm lưng thon ấy dường như đã quen với sức nặng của đôi thùng nước mướn và những buổi còng lưng trên ruộng cạn đồng sâu. Làn da của Lụa không trắng trẻo mà mang màu bánh mật rám nắng, bóng khỏe, thứ màu của sự tảo tần và sương gió kết tinh lại. Thế nhưng, điểm khiến người ta phải xao lòng khi nhìn vào gương mặt thuần hậu ấy chính là đôi mắt. Giữa khuôn mặt lấm lem bùn đất và mồ hôi, đôi mắt Lụa hiện lên trong vắt như nước giếng khơi sau vườn nhà một vẻ trong trẻo, tĩnh lặng và sâu thẳm.
 
​Cái nhìn của cô không sắc sảo, không mời gọi, nó chỉ lặng lẽ và hiền khô, chứa đựng cả sự cam chịu lẫn sức sống tiềm tàng. Dưới vành nón lá sờn rách, đôi mắt ấy như gom hết cái lấp lánh của nắng vàng và sự dịu mát của mạ non, khiến người đối diện cảm thấy một sự thương cảm khó diễn tả thành lời. Lụa không đẹp theo kiểu rực rỡ, cô đẹp như một nhành hoa dại, âm thầm tỏa hương và bền bỉ sống giữa những khắc nghiệt của số phận. Lụa dừng tay cấy, khẽ đưa tay quệt những giọt mồ hôi đang thi nhau lăn dài trên gò má bánh mật. Dưới mặt nước ruộng chân phương, nơi ánh nắng đang nhảy nhót rộn ràng. Trong cái gương nước đục lờ mờ bùn đất ấy, hình ảnh Lụa hiện lên rất nhỏ bé. Nhưng lạ thay, khi đôi mắt cô chạm vào mặt nước, người ta không còn thấy cái nghèo, cái khổ của kiếp đi làm mướn nữa. Cảm giác như đang nhìn vào một khoảng trời khác một khoảng trời không có gánh nặng cơm áo, không có sự ghẻ lạnh của nhà bà Măng Tu. Đôi mắt ấy cứ lặng thầm quan sát một chú chuồn chuồn ớt vừa đáp khẽ lên ngọn mạ non. Cái nhìn của Lụa nhẹ nhàng và thuần khiết đến mức con vật nhỏ bé kia cũng chẳng hề sợ hãi bay đi. Đôi mắt ấy như một vũng nước mát lành, âm thầm xoa dịu đi những vết nứt nẻ của cuộc đời cô. Nó cho thấy rằng, dù thân xác có nhỏ thó, có bị vùi trong bùn đen và nắng cháy, thì tâm hồn Lụa vẫn giữ được một nét thanh tao, một sự lương thiện bền bỉ mà cái nghèo chẳng thể nào đánh cắp được. Cái nghèo của Lụa không ồn ào, nó lầm lũi và bám riết như lớp bùn đen bám chặt vào chân mạ. Nó hiện hữu trong từng chi tiết nhỏ nhất trên hình hài và cuộc sống của người con gái mới đôi mươi ấy. Tấm áo bà ba đã lốm đốm những mảnh vá chồng chéo như một bản đồ của sự thiếu thốn. Đôi ống quần lúc nào cũng được xắn tới cẳng, để lộ đôi chân gầy khẳng khiu, tím tái vì ngâm nước ruộng quá lâu. Ngay cả chiếc nón lá trên đầu cũng đã mòn vẹt vành, những sợi nan đứt gãy được đắp lại bằng những tờ giấy báo dán bằng hạt cơm thay cho hồ, chẳng còn đủ sức che chắn cho cô trước cái nắng cháy da người. Cái nghèo đau đớn nhất chính là sự bào mòn về vóc dáng và hy vọng. Ở tuổi 23, đáng lẽ là lúc căng tràn nhựa sống, thì dáng người Lụa lại teo tóp một cách đáng thương. Sự thiếu ăn từ thuở nhỏ khiến cô như cây khô thiếu nước trong đại hạn, gánh nặng của gia đình đông anh em và kiếp gánh nước thuê đã làm đôi vai hơi trĩu xuống, lệch nghiêng. Cái nghèo biến Lụa thành một cỗ máy làm việc không ngừng nghỉ. Sáng sớm đã thấy cô quẩy đôi thùng nước trĩu nặng, trưa nắng gắt vẫn thấy lom khom dưới ruộng, tối mịt mới lầm lũi về nhà bà Măng Tu. Trong căn nhà giàu có của gia đình chồng, Lụa chỉ là một bóng ma làm việc, một đứa con dâu không giá trị vì chẳng mang theo được của hồi môn ngoài sự tảo tần.
 
Kể từ khi chồng mất. Bà Măng Tu hiện lên như một biểu tượng của sự đức độ và lòng thành kính tại vùng quê này. Trong mắt xóm giềng, bà chính là hình mẫu của một “Bồ Tát sống” với lối sống thanh bạch và mộ đạo đến lạ kỳ. Mỗi sáng tinh sương hay khi chiều tà sập bóng, tiếng gõ mõ “cốc... cốc…” đều đặn cùng giọng tụng kinh trầm bổng của bà lại vang lên từ gian thờ nghi ngút khói trầm. Bà thường xuất hiện với bộ đồ lam sạch sẽ, tràng hạt trên tay không lúc nào ngừng chuyển động giữa những ngón tay gầy guộc. Gương mặt bà lúc nào cũng giữ vẻ điềm tĩnh, môi nở nụ cười hiền từ khi ban phát lời khuyên bảo kẻ khác phải làm lành tránh dữ, giữ lấy cái tâm trong sạch để tích đức cho đời sau. Ai có hoạn nạn tìm đến, bà đều nhẹ nhàng giảng giải về luật nhân quả, về lòng từ bi hỷ xả, khiến người ta nể trọng mà tôn thờ bà như một bậc thánh nhân tại thế. Thậm chí gia đình nào vừa sinh con ra cũng bồng tới nhà mong muốn bà đặt tên. Để sau này tương lai của đứa bé sẽ thiện lành rạng ngời. Thế nhưng, cái sự từ bi ấy dường như lại dừng chân trước ngưỡng cửa đối xử với Lụa. Có một sự mâu thuẫn đầy xót xa giữa hình ảnh bà Măng Tu tay lần chuỗi hạt khuyên người thương yêu lấy nhau, nhưng sẵn sàng dùng lời lẽ sắc lẹm để chì chiết đứa con dâu nghèo khổ. Bà ăn chay để tịnh thân, nhưng những lời bà thốt ra với Lụa lại nặng nề như chì đổ. Bà yêu thương đứa cháu đích tôn hết mực, coi đó là “phước báu” mà tu hành bấy lâu mới có được, nhưng bà lại lạnh lùng gạt bỏ công lao của người mẹ đã sinh ra nó. Trong gian thờ nghi ngút khói trầm hương, tiếng gõ mõ “cốc... cốc…”của bà Măng Tu đều đặn vang lên, hòa cùng giọng tụng kinh rầm rì, đều đặn như hơi thở của một người đã rũ bỏ bụi trần. Giữa ánh nến leo lét, gương mặt tựa hồ như toát ra vẻ từ bi thánh thiện, đôi mắt nhắm hờ, tay lần tràng hạt nhịp nhàng. Bà đang cầu nguyện cho sự an lạc, cho phước báu nhà mình mãi xanh tươi như bóng cây bồ đề. Đúng lúc ấy, phía sau nhà vang lên tiếng kịt kịt của đôi quang gánh nặng trĩu được dẹp vào bên hông nhà kho. Lụa vừa trở về, cái liêu xiêu dưới sức nặng của hai thùng nước mướn cuối cùng trong ngày. Bùn đất bám đen nhẻm từ bàn chân lên đến tận bắp chân gầy khẳng khiu. Mồ hôi trộn lẫn với bụi đường tạo thành những vệt dài nhem nhuốc trên làn da bánh mật. Lụa đi ngang qua gian thờ, hơi thở dốc vì mệt nhọc vô tình làm xao động làn khói hương thanh khiết. Tiếng mõ bỗng khựng lại. Một khoảng lặng đến rợn người.
 
- Làm gì mà như phá nhà vậy con kia? Mày đem cái thứ uế tạp từ ngoài đồng ruộng vào đây làm vẩn đục nơi thanh tịnh, rồi làm sao tao cầu tự cho thằng cháu đích tôn được.
 
Lụa giật mình, đôi vai gầy run lên, cô vội vàng lột nón xuống, đầu cúi gằm không dám ngước lên.
 
- Thưa mẹ, con... con mới đi cấy về, tranh thủ gánh thêm mấy thùng nước cho bà cô ba Lan, lấy tiền mua thuốc cho thằng nhỏ. Vì uống thuốc mới hết, không phải tụng kinh mới có thể khỏi được.
 
- Im miệng - Bà Măng Tu mở mắt, ánh nhìn bén như dao xoáy vào thân hình tội nghiệp của Lụa. Bà tiếp tục nói thêm:
 
- Cái thứ nghèo hèn như mày thì chỉ biết có tiền với tiền. Tao đang tụng kinh làm công đức. Mau ra sau hè mà tắm rửa, đừng đụng vào người thằng nhỏ, nó lớn lên mà lây cái vía nghèo khổ của mày thì tốn công tao lắm. Đi…đi…
 
Bà lại nhắm mắt, tay tiếp tục lần chuỗi hạt, miệng lại bắt đầu lẩm nhẩm: Nam mô A Di Đà Phật... Tiếng mõ lại vang lên đều đặn như chưa từng có cuộc chì chiết vừa xảy ra. Lụa đứng lặng người giữa gian nhà, đôi mắt trong như nước giếng của cô bỗng nhòe đi. Dưới ánh nắng chiều tà còn sót lại, hình bóng cô đổ dài trên nền gạch tàu, đơn độc và nhỏ bé trước sự từ bi lạnh lùng của người mẹ chồng đang được cả xóm ví như Bồ Tát sống. Ngay khi Lụa vừa định quay bước ra sau nhà, từ trong buồng, tiếng chân sáo nhỏ xíu chạy ra kèm theo tiếng reo trong trẻo:
 
- Mẹ! Mẹ về rồi!. - Đứa nhỏ chừng năm tuổi, gương mặt khôi ngô có đôi mắt giống hệt Lụa, và như ba nó, vừa nhìn thấy bóng mẹ đã hớn hở lao tới, đôi tay bé xíu dang rộng muốn được ôm lấy cái cổ gầy của cô.
 
Trái tim Lụa thắt lại, một luồng hơi ấm chạy dọc cơ thể. Cô quên bẵng nỗi nhọc nhằn, quên cả những lời mắng nhiếc vừa rồi, đôi tay run rẩy định đưa ra đón lấy con. Thế nhưng, tiếng mõ bỗng gõ mạnh dằn mặt một cái chát chúa. Bà Măng Tu đứng phắt dậy, nhanh như cắt, bà đưa tay túm lấy cổ áo đứa nhỏ, kéo giật nó lại phía mình.
 
- Đứng lại! Đừng có chạm vào. - Giọng bà rít lên qua hàm răng nhưng vẫn cố giữ cái âm sắc điềm tĩnh giả tạo.
 
Bà lấy thân hình đạo mạo của mình che chắn cho đứa trẻ, như thể đang bảo vệ một bảo vật khỏi thứ dịch bệnh bẩn thỉu. Bà dùng vạt áo của mình, chà xát thật mạnh lên đôi bàn tay nhỏ bé của cháu nội vì nó vừa lỡ chạm nhẹ vào vạt áo sờn của Lụa.
 
- Ngoan, ở đây với bà nội. Mẹ con vừa đi ngoài đồng, bùn hôi vẩn đục bám đầy người, đụng vào là mất hết cái phước báu của con đó.
 
Đứa bé bị bà giữ chặt, gương mặt mếu máo, đôi mắt nhìn Lụa đầy tha thiết. Lụa đứng đó, đôi bàn tay gầy guộc nửa đưa ra nửa rụt lại, lửng lơ giữa không trung. Cô nhìn xuống đôi bàn tay mình, bùn đất từ ruộng mạ đã khô lại, đóng thành từng mảng đen đúa dưới kẽ móng tay. Cô nhìn lại bộ đồ lam sạch sẽ của bà Măng Tu và vẻ khôi ngô sáng sủa của con trai, rồi chợt thấy mình đúng là một vết mực đen lem luốc trên tấm lụa trắng. Bà Măng Tu liếc nhìn Lụa, môi nở một nụ cười hiền từ nhưng lạnh thấu xương.
 
- Lòng từ bi của tao là muốn tốt cho đứa cháu đích tôn. Nghiệt duyên của mày đã vận vào đời thằng Hai rồi, đừng để ám vào đời sau nữa. Đi tắm rửa, rồi xuống bếp mà tự nấu cơm ăn, đừng có đứng đây làm cản trở chuyện tu hành của tao.
 
Lụa không nói được lời nào, cổ họng nghẹn đắng. Cô nhìn con lần cuối, rồi lầm lũi đi vòng ra sau, bóng cô đổ dài xuống nền gạch, tủi thân đến cùng cực. Trong gian thờ, tiếng mõ lại bắt đầu vang lên đều đặn. Hòa lẫn với tiếng khóc thút thít của đứa trẻ bị ngăn cách tình mẫu tử bởi cái danh nghĩa “phước báu” và “tu hành”. Nghe rõ mọi chuyện vợ chồng cậu Ba Thái và cô Hai Lành bước ra. Thay vì một lời can ngăn hay niềm thương xót cho tình mẫu tử bị chia cắt, trên gương mặt họ lại hiện rõ một vẻ hả hê đến tàn nhẫn. Ba Thái gọi ngược Lụa trở lại để răn đe.
 
Cậu ba Thái đứng tựa lưng vào cột nhà, đôi mắt híp lại nhìn dáng vẻ nhỏ thó, lấm lem của Lụa với vẻ khinh khỉnh. Còn Hai Lành, người đàn bà mặc áo gấm lụa, trang sức vàng vòng đầy tay nhưng đôi mắt lại sắc lẹm như dao, cô khẽ che miệng cười ruồi. Với họ, cái chết của người anh trai, cậu hai Khá là một sự may mắn, nhưng sự tồn tại của Lụa và đứa con trai đích tôn lại là cái gai trong mắt, là mối đe dọa trực tiếp đến cái gia sản khổng lồ của nhà bà Măng Tu. Hai Lành bước tới cạnh bà mẹ chồng, bàn tay đầy nhẫn vàng vuốt ve bờ vai đứa trẻ nhưng ánh mắt lại bắn về phía Lụa đầy độc địa.
 
- Mẹ dạy phải lắm đa. Mạ non mà mọc trên đất phèn thì làm sao mà quý cho được. Chị hai ơi là chị hai, chị nhìn lại mình, đi làm mướn cả ngày về mà không biết thân biết phận, cứ muốn vấy bẩn lên cháu đích tôn của nhà này. Chị muốn con chị nhiễm cái mùi bùn hôi hám đó để sau này cũng chỉ biết đi gánh nước mướn như chị hay sao?.
 
Cậu Ba Thái bồi thêm một câu, giọng đầy mỉa mai
 
- Vợ tôi nói đúng đó. Nhà này không thiếu cơm nuôi mẹ con chị, nhưng chị phải biết chỗ đứng của mình chứ. Cứ hễ thấy con là lao tới như thể sợ người ta bắt mất. Hay là... chị đang tính dùng nó để làm bùa hộ mệnh hòng chiếm lấy cái nhà này?
 
Lời nói của cậu ba như tạt nước lạnh vào mặt Lụa. Sự hả hê của họ không chỉ dừng lại ở lời nói, mà là sự thỏa mãn khi thấy Lụa bị bà mẹ rẻ rúng. Họ biết rõ, chỉ cần Lụa càng bị bà ghét bỏ, càng bị cách ly khỏi con trai, thì cái quyền thừa kế gia sản kia sớm muộn gì cũng thuộc về tay họ, những người tuy không con cái nhưng lại sạch sẽ và môn đăng hộ đối hơn cái thứ dâu nghèo như cô.
 
Lụa đứng giữa sân, tai ù đi trước những lời nhục mạ. Cô nhìn thấy Hai Lành khẽ liếc mắt với Cậu Ba đầy tâm ý, một cái nhìn ngầm hiểu rằng: “Cứ đà này, nó sẽ sớm ra khỏi đây thôi”. Dưới ánh hoàng hôn đỏ quạch như máu, tiếng cười khúc khích của Hai Lành hòa lẫn với tiếng mõ của bà Măng Tu tạo nên một bản nhạc quái dị, bóp nghẹt trái tim người mẹ nghèo. Lụa cúi đầu, ôm lấy nỗi tủi nhục vào lòng, lầm lũi đi về phía nhà bếp tối tăm, bỏ lại sau lưng những con người mang danh nghĩa gia đình nhưng lòng dạ còn lạnh lẽo hơn cả sương đêm ngoài đồng. Không phải tự nhiên bà Năm Măng lại có thêm chữ Tu. Vì bà và con dâu hai Lành hay đi chùa khi gia đình thường xuyên xảy ra những chuyện không may. Đầu tiên là ông Tư Nã chồng bà qua đời trong một lần bạo bệnh, dù đã thuê hẳn thầy thuốc đến tận nhà bắt mạch, chữa trị, châm cứu thường xuyên. Thứ hai là vợ chồng Ba Thái hiếm muộn, đến bây giờ vẫn chưa có con dù lấy nhau đã hơn một năm trời. Thứ ba, cậu Hai Khá chết vẫn không tìm được xác. Đó là vào một ngày cậu lái ghe thay ông Tư Nã để đi đám trên huyện. Đến chiều về cậu say xỉn rồi gặp tai nạn. Khi nghe tin báo gia đình bà Măng ra xem tình hình thì chiếc ghe đã bể nát đầu trước, có thể một cuộc va chạm, nhưng người thì chẳng thấy đâu. Các thanh niên trai tráng được thuê, nhiều ngày liền lặn mò, quăng lưới nhằm tìm xác cậu Hai mang về chôn cất, nhưng kết quả chẳng thấy chút manh mối gì. Kể cả pháp sư gọi vong, thầy tu làm lễ. Đành trở về tổ chức tang lễ mà hoàn toàn không có xác. Lành dẫn bà mẹ chồng đi coi bói được thầy phán: Lụa chính là cái điềm xui xẻo, đã bám lấy nhà bà, muốn hóa giải phải tu tâm tích đức, ngoài ra đứa cháu nội cũng là nghiệp chướng. Bà Măng tin vào lời thầy, nhưng vẫn bám víu hy vọng vào đứa cháu nội duy nhất, mà chưa tống cổ hai mẹ con ra khỏi nhà, đơn giản vì cậu ba Thái chưa có con, ngoài ra còn sợ đến cái uy danh của mình bị mang tiếng nếu đuổi mẹ con Lụa ra khỏi nhà. Người ta sẽ phê phán tới lui, dẫu sao bà cũng là người đức độ trong mắt mọi người xung quanh. Nhưng bà lại không biết đó chỉ là trò rẻ rúng của Hai Lành. Người thầy ấy đã được Hai Lành trả tiền, vì biết bà mê tín dị đoan, cuồng đạo thái quá. Bà được ví là bồ tát sống ngoài lời nói mang vẻ thánh thiện, người lúc nào cũng đeo chuỗi hạt, thường xuyên tới chùa lễ Phật, mà còn là một nguyên nhân khác. Đó là vào mùa nước nổi năm ngoái, nước lớn tràn về quá lớn, con đê vỡ, làm những người nông dân không kịp trở tay, lúa bị nhấn chìm, họ trắng tay khốn khổ vì mất mùa. Chiều đó bà Măng Tu sang nhà bà Tứ để mua dầu lửa về thắp đèn măng xông. Thấy bà Tứ đang ngồi trước nhà làm cá, bà Măng Tu tặc lưỡi.
 
- Lại sát sanh. Tất cả động vật đều có quyền sống, hãy ăn chay niệm Phật, để giảm bớt nghiệp.
 
Bà Tứ không nói gì chỉ cười đáp qua loa.
 
- Em cũng biết, nhưng không ăn chay được, thôi thì tu tâm bất tu khẩu vậy. Mà mùa nước này cá to phải biết. Ông nhà em mới giăng lưới có một buổi thôi mà nửa thau cá.
 
- Vui sướng cái nỗi gì, chỉ chết thêm. Nghiệp báo không bao giờ kết thúc.
 
Câu nói ấy chưa hiểu rõ hàm ý bà Măng Tu nói tới vấn đề gì. Nước lớn thì cá về nhiều, người ta bắt về ăn gây ra nghiệp báo, hay chỉ là thấy thương cho người nông dân vừa rồi bị mất mùa? Vậy mà chiều đó bốn đứa trẻ trong xóm rủ nhau ra đồng tắm, bơi lội. Do nước nhấn chìm cánh đồng chúng không biết nơi nào là ao sâu, đã vô tình đuối nước rồi chết tại đó. Một tin chấn động xóm nhỏ, người ta ra vớt xác, bà Tứ lại rùng mình khi nhớ tới câu nói của bà Măng Tu lúc trưa: “vui sướng cái nỗi gì, chỉ chết thêm. Nghiệp báo không bao giờ kết thúc”. Rồi bà Tứ lan tin khắp xóm rằng: Bà Măng Tu, đã đắc đạo, có khả năng biết trước sự việc sắp diễn ra. Người ta kéo tới nhà bà Măng Tu để chất vấn, tại sao biết trước mà không can ngăn để xảy ra sự việc thương tâm tới như vậy. Bà Măng Tu cũng tái xanh mặt mày, chỉ là câu nói tào lao thể hiện sự mộ đạo đối với nỗi khổ của chúng sanh như hàng ngày bà cũng thường rao giảng, nhưng không ngờ lại trùng hợp, mà không hẳn là trùng hợp, vì bà hoàn toàn không có ý nói tới sẽ có người chết. Bà lấy lại bình tĩnh rồi bào chữa rằng:
 
- Đó là nghiệp báo, là nhân quả, Phật hiển linh nói với bà như thế.
 
Lại thêm chuyện khác. Một buổi chiều bà đi dạo quanh trong xóm, dáng người khoan thai tao nhã như dạo chơi vườn thượng uyển, gặp nhiều người đang tụ tập cười nói trước cửa nhà bà Năm Hội, vì cậu Hai Quý mới du học ở Pháp trở về. Thấy bà đi ngang họ im lặng nhìn, không bàn về chuyện cậu Hai Quý nữa. Bà Măng Tu lên tiếng.
 
- Gì mà thấy tôi, mấy người im lặng như mấy cái xác ngoài đồng vậy.
 
Rồi bà quay lưng đi. Vậy mà tối đó một tiếng nổ kinh hoàng ngoài đồng. Người ta đốt đuốc chạy ra xem thấy cảnh tượng hết sức ghê rợn. Hàng loạt lính Pháp chết nằm la liệt, thì ra bị dính mìn. Họ sực nhớ ra câu nói lúc chiều của bà Măng Tu. Họ tin rằng bà đã đắc đạo, biết trước sự việc do Phật hiển linh nói cho bà biết. Từ đó họ coi bà là Bồ Tát sống. Bà Măng Tu không ngần ngại chụp lấy cơ hội tự cho mình là con Phật. Là đấng bề trên, tất cả mọi người xung quanh chỉ là những kẻ phàm phu tục tử. Lời nói của bà không còn là người phàm nữa, đúng hơn là của Phật. Tất cả lời nói và hành động của bà chỉ có một từ “đúng” hoàn toàn không có “sai”, nếu sai thì chắc chắn là “nghiệp báo” không phải do bà. Vợ chồng Hai Lành cũng thổi phồng lên về những mầu nhiệm ấy. Nếu ai đó rũ lòng thương thấy Lụa vất vả quanh năm, mà vợ chồng Ba Thái quá sướng, bà chỉ nói vỏn vẹn một câu: “đó là nghiệp báo của nó, do kiếp trước gây ác, nên bây giờ phải trả nghiệp”. Còn bà và vợ chồng Hai Lành kiếp trước tu thành chánh quả, nên kiếp này hưởng. Người ta chỉ biết im lặng mà gật đầu thở dài, vì làm sao họ có thể biết được kiếp trước mà đánh giá thực hư, đúng sai! Tóm lại bà nói sao là vậy. Ngày trước người làm công cho gia đình bà rất nhiều, từ khi Lụa về làm dâu bà cho nghỉ việc hết, chỉ giữ lại thằng Tý để chăn trâu. Bà có quan niệm rằng Lụa đã đem tới những biến cố cho gia đình, vì vậy phải làm để chuộc tội. Ngoài ra phải kiếm tiền mang về cống nạp. Công trả cho Lụa là những bữa cơm tự nấu ăn cùng thằng Tý. Bà ăn chay, không muốn Lụa đụng vào nồi niêu chén đũa của mình. Vợ chồng Ba Thái thì chê Lụa dơ bẩn, vì vậy họ tự nấu, tự ăn.
 
Đêm đó, dưới ánh đèn dầu leo lét, Cậu Ba Thái và Hai Lành ngồi chụm đầu bên bàn trà. Hai Lành vừa dũa móng tay vừa thấp giọng, ánh mắt lóe lên sự xảo quyệt
 
- Mình tính sao thì tính, chứ thằng nhỏ ngày một lớn, bà già thì cứ khư khư giữ nó như báu vật, mặc dù thầy đã nói nó là nghiệp chướng, nhưng mẹ vẫn tin cứ tu sẽ hóa giải. Để lâu ngày, tình máu mủ với chị Hai trỗi dậy, bà lại đổi ý chia gia sản cho họ vợ chồng mình trắng tay mất.
 
Cậu Ba Thái đang hút thuốc phiện đôi mắt lơ đãng, khẽ nhếch mép.
 
- Moa đã có cách, Toa yên tâm. Bà già xưa nay trọng nhất là cái thanh sạch và gia phong. Chỉ cần khiến con Lụa phạm vào tội tày đình, để bà thấy nó là đứa vấy bùn lên thanh danh nhà này, thì đến đứa cháu bà cũng chẳng thèm nhìn mặt nó nữa, nói gì đến chuyện ở lại đây.
 
Chiều hôm sau, cả nhà rúng động bởi tiếng la bài hãi của Hai Lành.
 
- Trời đất ơi! Mất rồi! Chiếc vòng kiềng vàng của mẹ mất rồi. Con vào quét dọn đã thấy cái hộp mở tung ra.
 
Bà Măng Tu mặt biến sắc, tràng hạt trên tay đứt tung, những hạt gỗ rơi lạch cạch xuống nền gạch như điềm báo chẳng lành. Cậu Ba Thái lập tức đi lục soát khắp nơi, rồi cuối cùng dừng lại ở căn chái bếp của Lụa. Chỉ một lát sau cầm chiếc vòng vàng bước ra, giơ cao trước mặt bà, giọng đầy vẻ kinh ngạc:
 
- Nó nằm ngay dưới chiếu của con Lụa! Đúng là nuôi ong tay áo, nhà nghèo nên tham lam không bỏ được thói trộm cắp.
 
Lụa vừa gánh nước từ ngoài giếng về, đôi vai còn trĩu nặng, nghe thấy lời buộc tội thì bàng hoàng đến mức đôi thùng nước đổ nhào, nước mắt giàn giụa tuôn ra. Cô quỳ sụp xuống, đôi mắt trong như nước giếng lúc này đầy sự hoảng loạn và oan ức.
 
- Con không lấy! Con không bao giờ dám làm chuyện tày trời đó đâu.
 
Bà Măng Tu nhìn chiếc vòng, rồi nhìn Lụa bằng ánh mắt ghê tởm như nhìn một vật uế khí. Hai Lành đứng bên cạnh khẽ nháy mắt với chồng, rồi vờ vịt than khóc.
 
- Mẹ thấy chưa? Cái thứ này không chỉ nghèo hèn mà còn tâm địa gian xảo. Nó tính trộm vàng để sau này bỏ trốn theo trai hay mang về nuôi đám em nheo nhóc của nó đó.
 
Ngày trước khi sinh ra đứa con đầu lòng. Lụa cũng bị vợ chồng Hai Lành buộc tội là không phải con của cậu Hai Khá. Nhưng cậu Hai Khá thương vợ lắm. Cậu đã thương Lụa từ cái lần Lụa đi gánh nước trong xóm. Cậu thường lân la ra giếng, để gặp Lụa. Lụa cũng rất thương cậu, vì con nhà giàu nhưng không giống bất cứ một công tử bột nào. Cậu cũng vất vả quanh năm, cũng như những người nghèo dân đen. Đặc biệt hơn nữa là cậu không theo Tây, không thích người Pháp hiện diện tại nơi này. Cậu đã từ chối sang Pháp du học, từ chối làm việc quản lý đồn điền cho Pháp, mặc dù có trình độ và chuyện làm quan đầy rộng mở. Cậu âm thầm dạy chữ cho bà con lối xóm, trong đó có cả Lụa. Mọi chuyện cậu hoạt động đều là bí mật, chẳng một ai hay. Biết rằng bà Măng Tu sẽ không chấp nhận một cô gái nghèo làm dâu, họ đã quyết định có thai trước. Cái chết đầy bí ẩn của cậu Hai làm một xóm sững sờ thương xót. Nếu Ba Thái là một người đàn đúm, hút sách, rượu chè, đánh bạc, thì cậu Hai hoàn toàn trái ngược.
 
Tiếng mõ không vang lên nữa, chỉ còn tiếng quát tháo của bà Măng Tu át cả tiếng gió lùa qua cánh đồng mạ. Lụa giờ đây hoàn toàn bất lực trước lời buộc tội của những kẻ có tiền, có quyền trong gia đình giàu có nhưng thiếu vắng tình người ấy. Trong cái nhà này đầy rẫy những ganh tị, chẳng ai ngờ được rằng toàn bộ sự việc tối qua đã lọt vào tầm mắt của thằng cu Tý. Bà Măng Tu đang run rẩy chỉ tay vào mặt Lụa mà định thốt lời đuổi cổ, và khi Hai Lành đang chuẩn bị nhếch mép cười đắc thắng, thì thằng Tý lếch thếch chạy vào sân. Nó vốn là đứa trẻ bộc trực, lại rất quý Lụa, vì hai chị em thường ăn cơm chung, nhiều lần nó thấy Lụa khóc, nước mắt chảy xuống chén cơm, mà tình thương lại dâng lên tràn đầy như người con thấy người mẹ khóc. Thấy chị Lụa đang quỳ dưới đất, khóc không thành tiếng trước món đồ trang sức trên tay Cậu Ba, thằng Tý bỗng đứng sững lại, đôi mắt tròn xoe rồi la lớn.
 
- Ủa! Cái vòng đó... tối qua con thấy Cậu Ba cầm mà! Sao giờ lại nói chị Lụa lấy?
 
Không gian bỗng chốc im phăng phắc, chỉ còn tiếng gió lùa qua kẽ lá rít lên từng hồi. Mặt cậu ba Thái biến sắc, từ tái mét chuyển sang đỏ gay vì giận dữ và sợ hãi. Cậu quát lên, át cả tiếng gió:
 
- Mày nói bậy bạ gì đó? Có tin tao đánh què chân mày không?
 
Nhưng, đứa trẻ chăn trâu vốn không biết sợ sự uy quyền giả tạo, nó dõng dạc nói tiếp, tay chỉ thẳng vào phía cửa chái bếp.
 
- Con nói thiệt! Tối qua con thức dậy ra đống rơm đái, nhìn qua khe hở con thấy Cậu Ba cầm ngọn đèn dầu nói chuyện với mợ Lành, tay cầm cái vòng này đưa ra ngọn đèn soi rồi cười. Mợ Lành còn nói: Em cố tình xé rách tí vải trên vỏ hộp, ngoài ra còn lục tung, đặt chiếc khăn tay dưới hộp. Mai đợi con Lụa nó ra đồng, anh chỉ việc đem cái vòng bỏ xuống chiếu là xong. Bà không tin lời con thì cứ vào xem cái hộp có rách không? Chiếc khăn tay có nằm dưới hộp không? Con còn tưởng cậu mợ cho chị, ai dè…
 
Hai Lành đứng bên cạnh run bắn người, bà Măng Tu bàng hoàng nhìn đứa con trai út. Ánh mắt bà vốn đang tràn đầy sự ghê tởm đối với Lụa, nay bắt đầu dao động, chuyển sang dò xét Cậu Ba. Bà là người mộ đạo, dù cay nghiệt với con dâu nhưng bà cực kỳ kiêng kị chuyện dối trá ngay dưới mái nhà thờ Phật của mình. Thà bà dối người khác, nhưng chẳng muốn ai dối mình. Lụa ngước đôi mắt trong như nước giếng nhìn thằng Tý, rồi nhìn sang Cậu Ba. Trong đôi mắt ấy không có sự hả hê của kẻ được giải oan, mà chỉ có một nỗi xót xa vô hạn. Cô nhận ra rằng, dù cô có làm lụng đến kiệt sức, có cam chịu đến héo hon, thì những người thân này vẫn muốn dồn cô vào đường cùng chỉ vì việc thừa kế tài sản.
 
​Bà Măng Tu im lặng hồi lâu, tràng hạt trên tay bà khẽ rung lên. Sự thật phơi bày giữa thanh thiên bạch nhật, dưới cái nắng gắt gao của cánh đồng mạ non đang dội vào. Bà sẽ phải đối mặt thế nào với cái danh hiệu “Bồ Tát sống” khi chính con trai bà lại là kẻ bày mưu hãm hại người mẹ của cháu đích tôn mình? Sự thật từ miệng thằng cu Tý như một cái tát giáng vào mặt bà Măng Tu, làm lung lay cái vẻ trang nghiêm của một gia đình đạo hạnh. Chính bà đã vào kiểm tra, đúng như những gì nó nói. Cậu Ba Thái và Hai Lành cứng họng, mặt cắt không còn giọt máu, chỉ biết đứng chôn chân. Thế nhưng, bà Măng Tu không hề trách phạt con trai. Bà nhắm mắt lại, tay sờ một dây chuỗi khác, miệng lầm rầm khấn vái như để xua đuổi cái sự thật trần trụi vừa hiển hiện. Sau một hồi im lặng đến nghẹt thở, bà mở mắt ra, ánh nhìn vẫn lạnh lẽo nhưng đầy vẻ toan tính cho thể diện của mình. Bà hắng giọng, thanh âm khàn đặc:
 
- Thằng Tý con nít biết gì mà nói bậy. Chắc là Cậu Ba đùa giỡn với tao thôi. Chuyện này coi như là xong, chiếc vòng đã tìm thấy thì thôi, không ai được nhắc lại nữa.
 
Nói xong, bà quay sang nhìn Lụa, đang quỳ sụp dưới đất, đôi vai gầy run lên bần bật. Bà không một lời xin lỗi, không một ánh nhìn thương xót, chỉ phán một câu xanh rờn:
 
- Mày thấy chưa, phước đức nhà này lớn lắm. Mau đứng dậy.
 
Sự bao che trắng trợn của bà Măng Tu khiến trái tim Lụa như có hàng ngàn mũi kim châm vào. Cô hiểu rằng, công lý và lòng tốt chẳng bao giờ tồn tại dưới mái nhà sực nức mùi trầm hương này. ​Cô lầm lũi quẩy đôi thùng không ra giếng nước. Dưới cái nắng bắt đầu gắt gao, dáng người nhỏ thó của Lụa đổ dài trên con đường đê nhỏ hẹp. Cô vẫn ở lại, vì cô chẳng còn nơi nào để đi, và quan trọng nhất, đứa con trai tội nghiệp của cô vẫn còn nằm trong tầm tay của bà nội theo kiểu Tam Tòng Tứ Đức. Lụa lại cúi mình bên thành giếng, tiếng nước đổ vào thùng vang lên nặng nề như tiếng thở dài của phận đời nghèo khổ. Cánh đồng mạ non xanh mướt ngoài kia vẫn vươn mình trong nắng, đẹp đẽ và thơ mộng, nhưng trong mắt Lụa lúc này, mỗi ngọn mạ như một mũi chông đang đợi sẵn bước chân cô.
 
Một thời sau nhà bà Măng Tu lại có tin vui. Hai Lành đã mang thai. Một tin tuy không chấn động rầm rộ, nhưng nó vẫn thể hiện được sự tu tập của bà. Sau quá trình chịu khó gõ mõ tụng kinh. Cuối cùng Phật cũng đã nghe được lời cầu khẩn và đã ban phước lành. Ba Thái vui lắm, chắc chắn gia sản nhà này sẽ không thuộc về mẹ con Lụa. Một lần Ba Thái đi đánh bạc trên chợ, nhà chẳng còn ai sai việc. Bà Măng Tu lấy ghe đi lên huyện để hốt thuốc bổ thai cho con dâu. Trời đổ mưa bà tấp vào một quán rượu ven sông để trú tạm. Tại đây bà gặp những cô gái ăn mặc rất thời thượng. Nói chuyện hỏi ra mới biết thì ra những cô gái này đều có quen biết với Ba Thái. Nhưng khi bà nói lên huyện để lấy thuốc bổ thai cho vợ Ba Thái, họ sững sờ nhìn nhau như không tin vào tai mình.
 
- Thím có chắc đó là con anh Ba không? - Một câu nói vô thưởng vô phạt của gái giang hồ. Khiến bà tối tăm mặt mày. Thấy bà có vẻ không được vui. Họ nói vạch toẹt.
 
- Bốn đứa tụi cháu trước đây là nhân tình của anh Ba. Biết gia đình thím rất giàu, nên ai cũng muốn về làm dâu. Cũng hiểu thím sẽ không chịu bọn cháu, nên sẽ để có thai, chắc chắn thím sẽ đồng ý. Nhưng rồi, cả bốn người chẳng ai có mang như dự tính. Vậy là anh Ba đã chữa được chứng bệnh vô sinh rồi hả?. Thế thì chúc mừng dâu của thím.
 
Đó là họ nói thật. Lời của gái giang hồ, tuy chợ búa khó nghe, không hoa mỹ, nhưng nó chẳng chút giả dối. Cả bốn cô gái đều cam đoan đúng như vậy. Họ muốn làm dâu nhà giàu để từ bỏ cái nghề bán thân xác làm thú vui cho thiên hạ. Bà Măng Tu ngồi chết lặng. Không đợi hết mưa bà ủ rũ ra về, chẳng còn tâm trí để đi lấy thuốc. Vậy cái thai trong bụng của Hai Lành là ai? Việc này Ba Thái có biết chưa? Hay vẫn còn chưa biết mình bị vô sinh. Bà bỏ mặc không quan tâm nữa.
 
Đêm ấy, trăng khuyết treo lơ lửng trên đầu ngọn tre, tỏa thứ ánh sáng xanh xao xuống ngôi nhà đang chìm trong giấc ngủ của sự giả dối. Giữa không gian tĩnh mịch, chỉ có tiếng côn trùng rỉ rả và tiếng trâu nhai lại rơm khô sột soạt. Thằng Tý nằm vắt vẻo ngoài cái chái để giữ chuồng trâu, hai tay gối đầu, mắt thỉnh thoảng lim dim nhìn đom đóm bay lập lòe. Bỗng nhiên, một bàn tay rắn rỏi luồn vào mùng khẽ bịt miệng nó lại, cùng lúc đó là một giọng nói trầm thấp, thân thuộc đến run người vang lên bên tai:
 
- Tý! là Qua đây. Đừng la lên.
 
Thằng Tý giật nảy mình, đôi mắt nó trợn trừng. Dưới ánh trăng mờ ảo, hiện ra trước mặt nó không phải hồn ma vất vưởng, mà là một người đàn ông vạm vỡ, gương mặt sạm sương gió nhưng đôi mắt sáng quắc như sao đêm. Là giọng Cậu Hai Khá! Cậu mặc bộ đồ bà ba đen của dân kháng chiến, chiếc khăn rằn che kín đáo, khí chất khác hẳn cái vẻ thư sinh yếu ớt ngày trước.
 
Thằng Tý lắp bắp, suýt chút nữa thì té xuống khỏi chõng tre:
 
- Cậu... Cậu Hai? Cậu chưa chết? Con... con có nằm mơ không?
 
Hai Khá siết chặt tay nó như để chứng minh mình bằng xương bằng thịt:
 
- Tại sao em không còn chăn trâu trên gò me nữa. Qua ra đó đợi mãi mà không thấy. Qua còn sống, nhưng mạng Qua hiện giờ là để đánh Tây, cứu nước. Nghe đây Tý, Qua không thể lộ mặt ngay lúc này. Con Hai Lành là người Pháp cài vào, nó đã hại Qua một lần, nó sẽ không tha cho chị Lụa của em đâu.
 
Nghe đến đó, thằng Tý run lên vì sợ hãi lẫn phẫn nộ. Hai Khá lấy từ trong ngực áo ra một chiếc nhẫn đồng nhỏ xíu tín vật riêng của hai vợ chồng ngày cưới rồi dặn dò:
 
- Đêm mai, đợi lúc bà tụng kinh, em tìm cách đưa cái này cho chị Lụa. Nói với chị ấy hai câu: “Người đi cày chưa bỏ ruộng, lúa mạ rồi sẽ trổ bông”. Lụa sẽ hiểu. Bảo chị ráng nhẫn nhịn, giữ sức khỏe và chăm con cho tốt. Ngày độc lập, Qua sẽ về.
 
- Dạ, con nhớ rồi. - Tý nói.
 
- Em có thương Qua với chị Lụa không?
 
- Dạ có. - Tý trả lời.
 
- Em có yêu quê hương mình không?
 
- Dạ có. - Tý đáp.
 
- Em có biết tại sao lại sống khổ sở, không được đến trường, không được ấm no hay không? - Hai Khá hỏi.
 
- Tại con nghèo. - Tý nói.
 
- Không phải. Là do bọn Tây gây ra. Chúng đè đầu cưỡi cổ dân ta, chúng bóc lột chúng ta, Chúng biến dân An Nam thành nô lệ. Chúng không cho ta đi học để dễ cai trị. Chúng đưa ra hàng trăm thứ sưu thuế, biến ta thành công cụ để cống nạp. Chúng đưa thuốc phiện vào để đầu độc An Nam. Nhớ! lúc trước Qua đã dạy chữ cho em rồi. Bây giờ khi ra đồng em phải dạy lại cho những đứa khác. Phải tuyệt đối bí mật.
 
Thằng Tý nắm chặt cái nhẫn trong lòng bàn tay đầy vết chai, gật đầu lia lịa. Hai Khá nhìn về phía chái bếp tối om nơi Lụa đang ngủ, ánh mắt cậu hiện lên một nỗi xót xa vô hạn và cả một ngọn lửa căm thù rừng rực.
 
- Qua đi đây. Nhớ kỹ, không được cho ai biết, kể cả bà. Tin Qua đi, sự thật về con Hai Lành bán nước cầu vinh sắp lộ ra rồi.
 
Bóng Hai Khá thoắt cái đã hòa vào màn đêm đen kịt, biến mất sau những bụi tre rậm rạp phía sau vườn. Thằng Tý ngồi lặng người trên chõng tre, tim đập thình thịch. Nó nhìn xuống chiếc nhẫn đồng, rồi nhìn vào gian nhà chính, nơi tiếng mõ của bà Măng Tu kết thúc từ lúc chạng vạng. Tiếng Hai Khá vang lên trong đêm thanh vắng trước lúc rời đi.
 
- ​Lụa ơi, cái nắng gắt trên đồng mạ sắp qua rồi, cơn mưa rào của tự do đang kéo đến rất gần.
 
Sáng hôm sau, cái nắng lại bắt đầu gay gắt trên sân nhà. Hai Lành, trong bộ đồ gấm lụa màu vàng, đang đứng trên hiên cao, tay cầm chiếc quạt giấy gõ nhịp xuống lòng bàn tay, miệng không ngớt lời chì chiết. Lụa lấy cuốc chuẩn bị ra đồng. Thằng Tý dắt trâu ra, tay xách giỏ cỏ đựng mấy củ khoai lang ngang qua. Nó thấy cảnh chị Lụa bị nhục mạ thì nghiến răng căm tức, nhưng sực nhớ lời dặn của Cậu Hai, nó kìm lòng lại. Lợi dụng lúc Hai Lành quay lưng đi vào nhà thằng Tý giả vờ vấp ngã, đổ ụp giỏ cỏ ngay sát vào người Lụa làm cả hai té ngã.
 
- Có sao không Tý - Lụa hỏi.
 
- Dạ không sao. Cái sàn trơn quá.
 
Thằng Tý nhanh tay nhét một vật cứng, lạnh vào lòng bàn tay Lụa. Nó thì thầm sát bên tai cô, giọng run lên vì xúc động:
 
- Chị Lụa, nhẫn của Cậu Hai! Cậu còn sống! Cậu dặn: Người đi cày chưa bỏ ruộng, lúa mạ rồi sẽ trổ đòng. Chị ráng nhịn, sắp tới ngày rồi…
 
Lụa sững người. Cảm giác cái nhẫn đồng xù xì nằm gọn trong gan bàn tay như một luồng điện cực mạnh chạy dọc sống lưng, làm trái tim vốn tưởng đã chết héo của cô đập liên hồi. Cô bàng hoàng mở hé lòng bàn tay, chỉ thấy lấp lánh một màu đồng cũ kỹ nhưng thân thuộc đến xé lòng. Là nhẫn của anh! Là hơi ấm của anh.
 
- Làm cái gì mà ngẩn người ra đó. Tính ở nhà rồi ăn hả? Còn thằng kia, tại sao chưa dắt trâu ra đồng. - Tiếng Hai Lành choe choét vang lên.
 
- Dạ! con đi ngay đây mợ ba. Con trượt chân té nên mợ hai đỡ dậy. - Thằng Tý nói.
 
Lụa lập tức nắm chặt bàn tay lại. Lần đầu tiên sau bao năm cam chịu, cô không cúi đầu né tránh. Cô ngước mắt nhìn thẳng vào Hai Lành. Đôi mắt trong như nước giếng của cô giờ đây không còn là mặt nước tĩnh lặng nữa, mà là một mặt hồ đang cuộn sóng, ánh lên sự kiên cường và một niềm hy vọng rực rỡ hơn cả nắng trưa. ​Cô đứng dậy, vội vàng cho chiếc nhẫn vào miệng, rồi thản nhiên vác cuốc đi thẳng ra phía ngoài đồng, bỏ mặc tiếng la lối của Hai Lành phía sau. Lụa biết, cái dáng người nhỏ thó này từ nay sẽ không còn run rẩy trước nanh vuốt của kẻ thù nữa. Bởi vì anh vẫn sống, bởi vì lúa mạ của cô đang chuẩn bị đến ngày gặt hái độc lập.
 
Tối đó trong căn bếp, Lụa vừa nhóm lửa vừa để mặc cho nước mắt rơi xuống đôi bàn tay bánh mật. Cô không biết rằng, cái chết của chồng mình không phải do tai nạn như lời đồn. Sự thật kinh khủng hơn nhiều: Hai Lành chính là một con rắn độc, một kẻ tình báo cho quân Pháp, kẻ đã dùng vẻ ngoài đài các để thâm nhập vào gia đình bị tình nghi là tham gia kháng chiến chống Pháp, nhằm dò xét những phong trào yêu nước đang âm thầm lớn mạnh. Khi phát hiện Hai Khá không phải là một cậu ấm chỉ biết ăn chơi mà là một chiến sĩ cách mạng kiên cường đã hoạt động lén lút, Hai Lành đã không ngần ngại ra tay. Thuê người ám sát cậu để lập công với quan thầy. Nhưng mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên, kẻ sát thủ mà Hai Lành thuê có danh tiếng là lưu manh, cộm cán, dân lăn cá đá dưa, lại là một chiến sĩ nằm vùng tham gia trong phong trào chống Pháp. Người này đã dựng lên một màn kịch thủ tiêu người đồng đội ngoài sông, rồi âm thầm đưa Hai Khá rời khỏi đó để tiếp tục hoạt động chiến khu trong rừng dừa nước, để lại sau lưng một cái tin chết giả mất xác và một nỗi đau thấu trời xanh cho Lụa.
 
​Trong khi Hai Lành hả hê vì tưởng đã nhổ được cái gai trong mắt, thì ở một nơi nào đó giữa rừng sâu chiến khu, Hai Khá vẫn đang ngày đêm nung nấu ý chí chiến đấu, không chỉ để giải phóng đất nước mà còn để trở về cứu lấy người vợ nhỏ thó và đứa con thơ dại khỏi nanh vuốt của lũ bán nước cầu vinh.
 
​Lúc này, trên gian thờ, bà Măng Tu vẫn gõ mõ tụng kinh, tiếng cốc... cốc... vang lên nghe thật mỉa mai. Bà đâu biết rằng đứa con dâu bà khinh rẻ là nghèo hèn lại chính là người giữ lửa cho một chiến sĩ cách mạng, và đứa con dâu bà tin cẩn là quý phái lại mang tâm địa của một kẻ phản quốc.
 
​Lụa ngước mắt nhìn về phía cánh đồng mạ non đang chìm trong ráng chiều đỏ rực. Đôi mắt trong như nước giếng của cô lúc này không chỉ có nỗi buồn, mà dường như có một tia sáng lạ kỳ. Cô không biết chồng mình còn sống, nhưng bản năng của người vợ và sự kiên cường của một người phụ nữ nghèo khổ dường như đang mách bảo cô rằng: Giông tố chỉ mới bắt đầu, và ngày phán xét cho những kẻ như Hai Lành, sẽ không còn xa nữa.
 
Một chiều thằng Tý hớt hải chạy về báo tin. Nó biết rằng lúc này Ba Thái không có ở nhà. Từ khi Hai Lành mang thai, cậu Ba thường xuyên đi chơi la cà bên ngoài để tìm thú vui mới. Bà Măng Tu đang đọc kinh nó chạy vào hét lên:
 
- Bà ơi! Con trâu đã mất ngoài gò me rồi. Con tìm mãi không thấy. Bà đi với con.
 
Không đợi bà Măng Tu trả lời nó vội vàng chạy đi ngay. Một con trâu là tài sản rất lớn trong thế kỷ 19 này. Dù đọc kinh quan trọng thật, nhưng tài sản vẫn quan trọng hơn. Bà ngồi bật dậy chạy theo thằng Tý. Lụa vừa gánh nước về cũng quăng thùng chạy theo. Họ chạy qua hai cánh đồng đến một gò me hoang vu. Dưới gốc me đầy những địa đạo hiểm trở được phủ lên một lớp cỏ khô để ngụy trang, khu căn cứ phục vụ cho việc đánh Tây nối dài vào khu rừng. Ba người tới nơi thở không ra hơi. Một người đàn ông mặc bà ba đen, trên vai chiếc khăn rằn Nam Bộ xuất hiện. Lụa khóc vì nhớ chồng, bà Măng Tu đứng như chết lặng nói không thành lời.
 
- Thằng Hai… sao…
 
Thằng Tý khẽ cười chỉ tay vào cậu Hai Khá.
 
- Đây là người chiến sĩ của quê hương. Chính người anh hùng này đã kêu con về báo cho bà ra gặp. Trâu không mất, nó kia kìa. - Tý chỉ tay vào một góc dừa, nơi đang buộc con trâu nhai cỏ.
 
- Chuyện này là sao hả Hai. - Bà Măng Tu hỏi.
 
- Con Hai Lành chính là tình báo của bọn mắt xanh mũi lõ. Nó muốn giết con, vì nó đã nghi là chiến sĩ nằm vùng, phục vụ cho kháng chiến. Còn nữa, con có tình báo nó cặp với sĩ quan Pháp, có thể cái thai trong bụng nó là của người Pháp. Tổ chức của nó sắp bị đánh bại trong vài ngày tới. Mọi người giữ bí mật về chuyện này. Tý! Lụa. Hai em cũng là chiến sĩ đó đã góp công rất nhiều. Còn Mẹ! Hãy sống thật với bản thân mình, đừng vì những cái giả tạo mê tín đó. Nếu đã mầu nhiệm như vậy, tại sao chú Ba lại không có con như hàng đêm mẹ ao ước cầu khấn. Trên đời này Mẹ sẽ không bao giờ tìm ra đứa con dâu như Lụa đâu. Nơi này rồi sẽ bị bại lộ, con sẽ đổi vị trí để bọn Pháp không lằn ra. Thôi, về đi.
 
Ba người lủi thủi ra về. Họ không nói với nhau được lời nào. Thằng Tý dắt theo con trâu miệng lẩm bẩm đọc các chữ cái. Nó và Lụa cười nói với nhau, thi thố bằng các chữ đã học được từ người chiến sĩ Hai Khá. Sự thật như một cơn giông bão bất ngờ quét sạch lớp màn sương khói hương nghi ngút trong gian thờ Phật nhà bà. Bà Măng Tu, người bấy lâu nay tự huyễn hoặc mình trong tiếng mõ kinh kệ, cuối cùng đã đối diện với sự thật trần trụi và tàn khốc nhất. Trong một đêm mưa gió, khi bà và Ba Thái rình nghe cuộc trò chuyện lén lút giữa Hai Lành và một tên mật thám Pháp ngay sau vườn, bà bàng hoàng nhận ra mình đã nuôi ong tay áo. Đứa con dâu quý tộc mà bà tin cẩn lại là kẻ bán nước, kẻ đã mưu hại chính con trai ruột của bà, như một luồng ánh sáng cực mạnh rọi thẳng vào bóng tối trong lòng bà.
 
​Bà Măng Tu đổ sụp xuống ngay trước bàn thờ Phật, dù đã được Hai Khá nói, nhưng bà vẫn nửa tin nửa ngờ. Tiếng mõ đêm đó không còn đều đặn nữa, mà lúc nhanh, lúc chậm, nghẹn ngào như tiếng khóc.
 
​Sáng hôm sau, cái nắng giữa cánh đồng mạ non vẫn rực rỡ, nhưng không gian đã hoàn toàn khác. Bà Măng Tu bước xuống bếp, nơi Lụa đang lầm lũi nhóm lửa chuẩn bị tự nấu, tự ăn. Nhìn dáng người nhỏ thó, đôi bàn tay bánh mật sần sùi vì gánh nước, bà bỗng thấy tim mình đau thắt lại. Bà nhớ lại những lời cay độc mình đã thốt ra, nhớ lại cảnh mình chia cắt mẹ con cô, và cả cái lần bà bao che cho tội ác của vợ chồng Cậu Ba. ​Bà bước tới, đôi tay run rẩy chạm vào vai Lụa. Khi Lụa giật mình quay lại với ánh mắt ngơ ngác, bà Măng Tu bỗng quỳ sụp xuống trước mặt cô con dâu nghèo:
 
​- Lụa ơi... mẹ sai rồi! Mẹ tu hành cả đời mà tâm mẹ tối tăm quá. Mẹ đã hại con, hại cả thằng Khá... Con ơi, tha lỗi cho mẹ.
 
​Lụa bàng hoàng, cô vội buông thanh củi, đỡ lấy bà mẹ chồng vốn luôn cao ngạo. Trong đôi mắt trong như nước giếng của Lụa, những giọt nước mắt bắt đầu rơi, nhưng không phải là nước mắt của sự uất ức, mà là sự giải tỏa sau bao năm bị kìm nén. ​Bà Măng Tu tháo tràng hạt trên cổ xuống, đặt vào tay Lụa:
 
- Từ nay, con không phải làm dâu, con là con gái của mẹ. Đứa trẻ này là máu mủ của nhà ta, mẹ sẽ bảo vệ. Còn lũ gian tà kia... trời đất sẽ không dung tha, nhân dân sẽ xé nát.
 
​Cái nóng từ bếp lửa lúc này dường như dịu lại, không còn thiêu đốt đôi vai Lụa nữa mà như đang sưởi ấm cho sự hồi sinh của một gia đình. Bà Măng Tu bắt đầu trút bỏ vẻ Bồ Tát giả tạo để thực sự sống với lòng từ bi chân chính. Bà âm thầm dùng của cải nhà mình để tiếp tế cho kháng chiến, biến ngôi nhà vốn là hang ổ của tình báo Pháp thành một trạm liên lạc bí mật cho Hai Khá dưới sự dẫn đường của Lụa và thằng Tý. Cuộc đối đầu diễn ra vào một buổi trưa nắng quái, khi cái nắng trên đồng mạ non bốc lên hừng hực như thiêu như đốt. Trong gian buồng tối, Hai Lành đang điên cuồng lục lọi hòng tìm lại danh sách các đầu mối liên lạc đã sơ ý đánh mất. Hai Lành không ngờ rằng, Lụa đã nhanh hơn một bước. Lụa đứng ngay ngưỡng cửa, dáng người nhỏ thó che khuất ánh sáng vàng vọt bên ngoài. Trên tay cô là xấp giấy mỏng manh nhưng nặng tựa ngàn cân bằng chứng đanh thép về tội phản quốc của Hai Lành.
 
- Mợ Ba đang tìm cái này phải không? - Giọng Lụa bình thản đến lạ lùng.
 
Hai Lành quay ngoắt lại, gương mặt đài các thường ngày giờ đây biến dạng vì kinh hoàng và giận dữ. Hét lên:
 
- Con khốn! Đưa đây cho tao! Cái thứ bùn đất như mày thì biết cái gì mà xen vào chuyện đại sự? Đưa đây, nếu không tao kêu Cậu Ba đánh chết mày.
 
- Kêu đi. Mợ tưởng tôi không biết chữ hả? Mợ nói đúng, tôi chỉ là bùn đất. Nhưng bùn đất này sẽ chôn vùi quân bán nước như mợ làm tay sai cho Pháp.
 
Hai Lành lao tới như một con thú dữ, đôi bàn tay gấm vóc định giật lấy xấp giấy. Nhưng Lụa không còn là cô dâu nghèo cam chịu của ngày xưa. Cô né người đầy linh hoạt sự nhanh nhẹn của một người phụ nữ vốn quen với việc gánh nước mướn và chạy đồng. Cô đẩy mạnh khiến Hai Lành ngã dúi dụi xuống nền gạch. Bên ngoài, tiếng súng nổ, pháo kích vang lên chát chúa. Cậu Ba Thái hớt hải chạy vào miệng nói oang oang.
 
- Từ đầu trên xóm dưới quân Pháp chết như ngả rạ. Anh Hai nhà mình chỉ huy đánh trận này đó mẹ.
 
Trong khoảnh khắc hỗn loạn đó, Lụa cầm chặt xấp tài liệu chạy xuống ném vào bếp lửa. Hai Lành vác bụng bầu bỏ chạy thoát thân, vừa ra đầu ngõ đã té xuống nằm bất động dưới làn mưa đạn của quân kháng chiến. Ánh sáng lúc này không còn là kẻ thù, nó là thứ rọi thẳng vào sự thật, báo hiệu ngày tàn của lũ bán nước và sự hồi sinh của một dân tộc. Ba Thái bị Pháp bắt vì nhầm lẫn đó là Hai Khá. Để chuộc những lỗi lầm, cậu Ba chấp nhận thế vai cậu Hai.
 
Mấy năm ròng rã kháng chiến trôi qua như một giấc chiêm bao, cuối cùng ngày độc lập cũng về trên xóm nhỏ. Cánh đồng mạ non năm xưa giờ đã biến thành một biển lúa mênh mông, vàng óng ả và đang vào thì lên đòng. Gió từ sông thổi vào, mang theo mùi hương lúa mới dịu ngọt, thanh khiết cái mùi của ấm no và tự do mà Lụa đã hằng mơ ước suốt bao năm dài chịu đựng. Lụa đứng giữa bờ đê, dáng người vẫn nhỏ thó nhưng đã không còn vẻ khắc khổ, héo hon. Cô mặc bộ bà ba đen mới, mái tóc vấn cao gọn gàng, đôi mắt trong như nước giếng nay lấp lánh niềm vui sướng khôn tả. Bà Măng Tu đứng cạnh đó, tay dắt đứa cháu nội giờ đã lớn bổng. Bà nhìn ra cánh đồng, miệng không còn tụng kinh mà mỉm cười thanh thản, lòng thành kính hướng về những điều thiện lương đích thực. Từ phía con đường độc đạo dẫn vào xóm, một đoàn quân ca khúc khải hoàn đang tiến bước. Một bóng người cao lớn, vạm vỡ tách đoàn, bước nhanh về phía mẹ con cô.
 
- Lụa ơi! Anh đã về rồi đây.
 
Tiếng gọi vang lên giữa không gian thơm nồng mùi lúa. Lụa ngỡ ngàng, đôi bàn tay bánh mật run rẩy che miệng để ngăn tiếng khóc nức nở. Hai Khá lao tới, ôm chầm lấy vợ và con vào lòng. Mùi khói súng, mùi sương gió trên áo anh hòa quyện với mùi hương lúa đòng đòng tạo nên một mùi vị của sự đoàn viên, của chiến thắng. Không còn sự ghẻ lạnh của mẹ chồng. Chỉ còn tình yêu và lòng trung kiên đã trổ bông sau những ngày bão táp. Lúa lên đòng như đang hát ca, từng bông lúa trĩu nặng nhựa sống như chính cuộc đời Lụa, một người con gái nhỏ bé nhưng đã kiên cường đi qua nắng cháy để chạm đến ngày trái ngọt sum vầy vị thơm tho.
 
Quang Nguyễn
Nguồn: Fb Quang Nguyễn