luunguyenNhà thơ Lưu Nguyễn (1947 – 2026)
 
Tôi không nghĩ phải viết bài này sớm như vậy. Cái tổ viết lách của chúng tôi gồm 7 người, vui một chút có thể gọi là thất hiền. Bảy người hiền này gồm, theo thứ tự ra đời: Trang Châu, Song Thao, Hoàng Xuân Sơn, Luân Hoán, Võ Kỳ Điền, Lưu Nguyễn, Hồ Đình Nghiêm. Lâu lâu, ông Trang Châu thấy cô đơn lại ới tôi. Moa thèm gặp anh em quá, toa ới mọi người. Ngày 26/9 vừa qua, tôi bắc loa ới. Như thường lệ, ông Lưu Nguyễn là người trả lời sớm nhất. Ông này coi bộ cũng cô đơn. Nhưng cuộc “họp tổ” chưa thành vì ông Hoàng Xuân Sơn không có mặt tại Montreal. Cuộc họp “chi bộ” được hoãn tới tháng 11. Mọi người đều chờ. Ông Lưu Nguyễn không chịu chờ. Ông lẻn đi mất.

Cứ theo luật tạo hóa thì mọi sự cứ tuần tự nhi tiến. Ông Lưu Nguyễn còn phải xếp hàng mỏi chân mới tới lượt giã từ vũ khí. Nhưng ông ma lanh chen ngang tiến lên hàng đầu. Không ai nghĩ ông sớm dứt áo ra đi. Ông là người ăn khỏe nhất đám. Sinh lực còn tràn đầy, vậy mà ông bai bai anh em một sớm một chiều làm mọi người ngây ra.
 
Tin sét đánh được ông Luân Hoán loan báo trên Facebook sáng nay, 15/10, mọi việc đã xong xuôi. Ông đã dặn con cháu không tổ chức đám tang, không thăm viếng, không phúng điếu, thân xác được hỏa táng và trải đi theo gió. Bữa nay, con cháu đã thực hiện xong xuôi di chúc của ông rồi mới loan báo cho mọi người biết.
 
Diễn tiến đúng như tính tình ông. Trong số anh em, ông là người ít nói nhất. Mặc cho chúng tôi ba hoa, ông chỉ nghe và thỉnh thoảng chêm vào một câu ngắn gọn. Lúc sau này ông lại ít nói hơn. Bữa nhạc sĩ Diệu Hương qua, anh em có tổ chức một buổi gặp gỡ. Bữa đó, tôi bị anh chàng gút hành cho nhỏ xác. Tính chống gậy tới họp nhưng bàn chân sưng vù không đi giày đi dép chi được nên đành cáo lỗi. Bữa sau, coi hình, thấy ông Lưu Nguyễn ngồi phía sau, mặt không được vui, tôi phôn hỏi ông Trang Châu. Ông này cũng thấy như vậy nhưng “moa không  biết tại sao”. Mê tín một chút thì nghĩ đó là cái điềm. Nhưng chúng tôi ít nghĩ tới cái cõi xa vời đó.
 
Ông Lưu Nguyễn chẳng nhắn nhủ chi, đi là đi. Đi trước anh em mặc dù đã từ lâu ông chỉ đi metro và xe buýt. Số ông Lưu Nguyễn vất vả, lúc nào cũng thấy ông tất bật, vướng víu. Thường thì ông tới tay xách nách mang, túi nọ túi kia, màu sắc không cần biết. Không biết trong mớ túi xách nhựa ông quấn theo mình có chi. Độ sau này, ông “đổi mới”. Đeo một chiếc ba lô lúc nào cũng căng phồng. Trông ông gọn gàng hơn. Chẳng lẽ ông thu vén cho một chuyến đi xa?
 
Người tưởng như vô vi lại có một quá khứ nhộn nhịp. Lưu Nguyễn tên cúng cơm là Nguyễn Thế Nghiệp, sanh ngày 5/8/1947 tại Quế Sơn, Quảng Nam. Anh tốt nghiệp Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm. Vượt biển năm 1980 sau một thời gian đi tù cải tạo. Định cư tại Montreal, Canada, anh là người hoạt động không mỏi mệt. Anh tham gia nhóm Vượt Biển, làm báo Vượt Biển từ năm 1982 tới 1989. Thời gian này tôi vừa chân ướt chân ráo tới Montreal vào giữa năm 1985, túi bụi chuyện áo cơm nên không biết tới những đóng góp của anh. Nghe nói anh là một trong những người năng nổ nhất. Tới năm 1995, khi anh đứng ra thành lập tờ Nắng Mới, tôi mới có dịp thân cận với anh. Anh lèo lái tờ Nắng Mới, một tập san địa phương tới một tờ báo nổi đình nổi đám trên toàn thế giới, những nơi có đông đảo người Việt cư ngụ. Anh tham gia với Trang Châu, Võ Kỳ Điền trong Văn Bút Québec, có thời gian giữ chức Chủ Tịch Văn Bút Québec cho hai ông bạn kia rảnh tay nắm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, ông Trang Châu làm Chủ Tịch và ông Võ Kỳ Điền giữ chân Tổng Thư Ký. Anh làm thơ ít nhưng có hơi thơ riêng về tình yêu, tình bạn, tình yêu nước và thân phận lưu vong. Anh đã cho xuất bản 3 cuốn thơ: Tri Âm (1990), Ngày Qua Rất Vội (1993) và Trái Tim Người Biết Yêu (2009).
 
sao ta bỗng chốc điên cuồng
bỗng say ngây ngất, bỗng buồn rứt ray
xứ người tay vẫn trắng tay
ngày qua ngày lại kéo cày nuôi thân
nuôi cho mập cái si sân
một đời như thể phù vân mây trời.
 
Tôi thực sự tham gia viết lách trở lại vào năm 1990 và ra mắt tập truyện ngắn đầu tay “Bỏ Chốn Mù Sương” vào ngày 22/5/1993 cùng với tập thơ “Ngày Qua Rất Vội” của Lưu Nguyễn. Anh quen nhiều và có tài tổ chức nên tôi dựa hơi đúng chỗ. Buổi ra mắt sách quy tụ vài trăm độc giả tại một  hội trường của thành phố ở khu đông đúc người Việt Côte des Neiges. Độc giả ngày đó còn nhiều nhiệt huyết nên tập thơ của anh đi “rất vội”, tập truyện đầu tay của tôi cũng “bỏ chốn mù sương” khiến bữa tiệc ăn mừng sau đó rất xôm tụ.
 
luunguyen1Nhà thơ Lưu Nguyễn (trái) và nhà văn Song Thao
 
“Ngày Qua Rất Vội” nên tấm lòng đau đáu với quê hương bên kia bờ Thái Bình dương cũng rất vội.

sớm mai cưỡi ngựa vào rừng
vung thanh kiếm gỗ tưng bừng lá rơi
chém nhằm một cụm mồng tơi
trái vừa chín mọng tưởng rơi máu đào
chiều chiều luyện kiếm bên hồ
chém phăng mặt nước xôn xao vỡ trời
nào ngờ một đám bèo trôi
ngang qua vướng phải hỡi ơi kiếm sầu
 
Lóng sau này, bạn bè không còn thấy bầu nhiệt huyết của anh sôi sùng sục như những ngày qua. Anh hầu như không làm thơ. Có lẽ tuổi tác của một U80 đã níu chân anh. Anh lơi tay trong khi bạn bè, cũng còng lưng với gánh tuổi, vẫn còn cố bơi trong biển chữ nghĩa. Trang Châu, Hoàng Xuân Sơn, Luân Hoán, Hồ Đình Nghiêm, Võ Kỳ Điền vẫn lai rai nhả chữ trong khi anh một mặt mím môi sống nhẩn nha qua cầu. Anh có chuyện chi, chúng tôi không được biết. Anh là người rất kín tiếng. Anh ôm cái cô đơn trong lòng. Anh có chơi Facebook nhưng không viết chi, tuy rất chăm chỉ thả tim với những bài viết của bạn bè.
 
Thành phố Montreal, xa cách Cali 6 giờ bay, nhưng có số người viết khá đông đảo, có lẽ chỉ kém thủ đô tỵ nạn. Có lần Báo Văn của Nguyễn Xuân Hoàng đã phải làm một số đặc biệt “Những Người Viết Canada”. Nhóm viết lách Montreal lúc đầu có tám mống: Trang Châu, Song Thao, Nguyễn Đông Ngạc, Luân Hoán, Võ Kỳ Điền, Hoàng Xuân Sơn, Lưu Nguyễn, Hồ Đình Nghiêm. Chẳng biết có nên gọi là “bát tiên” không. Cuối tuần chúng tôi họp nhau đấu láo tại các quán cà phê. Lưu Nguyễn luôn là người tới sớm nhất, dùng bao dùng túi, dùng áo dùng sách giữ chỗ trước. Dù mưa hay tuyết, chúng tôi có mặt đầy đủ. “Đồng chí” nào có sách mới ra ký tặng tuýt suỵt cho các… tiên. Bỗng một bữa, khi trời sang xuân, giáp Tết Bính Tý 1996, Nguyễn Đông Ngạc chơi trò ú tim, bỏ anh em đi cái rụp. Số… tiên tụt mất một mống, còn lại 7. Không biết có nên gọi “thất hiền” chăng. Chẳng nên, vì sẽ có cuộc bỏ phiếu coi ai hiền hơn ai. Ai cũng hiền cả. Hiền từ ngoài đời tới trong những con chữ.
 
Cà phê buổi tối cuối tuần tàn dần, lâu lâu ông Trang Châu kêu nhớ các “ông” quá nên lại tụ họp. Lần này lên đời, chẳng còn cà phê vài đồng mà tiệc tùng bạc chục hẳn hoi. Được ít năm, hai ông Luân Hoán và Võ Kỳ Điền giở chứng nhất định làm người già cho phẻ. Vậy là hai “cụ” cáo lão, xin vắng mặt. Còn lại 5. Con số quái ác. Thất có “thất hiền”, ngũ có ngũ chi, chẳng nên nói tới chuyện quỷ ma.
 
Thần chết có nhiều chiêu. Có khi ông vờn như mèo vờn chuột, cho nhức nhối tới bến mới giải đi. Có khi ông quẵm gọn trong tích tắc. Ông đã quẵm ông Nguyễn Đông Ngạc gọn ghẽ như vậy. Nay ông vớt ông Lưu Nguyễn cũng gọn gàng như vậy. Hội chúng tôi nay còn 4, tứ tử trình làng. Chúng tôi đều thuộc vào ca-tê-gô-ri sống dai, có đi cũng chẳng oan ức chi. Chỉ mong được ra đi gọn bâng như hai ông Nguyễn Đông Ngạc và Lưu Nguyễn. Đó là cái phúc cái phận.
 
Thôi thế thì thôi, ông Lưu Nguyễn nhé. Ông Nguyễn Thế Nghiệp đã trả hết nghiệp, ông Lưu Nguyễn đã trở về thiên thai. Bọn tôi bốn đứa còn lại sẽ dành một chiếc ghế trống với ly rượu đầy mỗi khi họp tổ. Ông nhớ vào e-mail coi ngày hẹn nhé.
 
Song Thao
10/2026
 
Nguồn: https://tranthinguyetmai.wordpress.com/2026/10/16/tien-luu-nguyen
 
Lưu Nguyễn (1947–2026) - Nguyễn Vy Khanh
 
luunguyen3
Nhà thơ Lưu Nguyễn. Nguồn ảnh: Sáng Tạo
 
Vô cùng thương tiếc nhà thơ Lưu Nguyễn vừa ra đi, tại Montréal, theo như tin anh Luân Hoán thông báo hôm nay. Cầu chúc anh vui hưởng hạnh phúc nơi cõi Niết bàn. Xin chia buồn cùng gia đình.
 
Đàn anh của tôi ở Đại Học Văn Khoa và Sư Phạm, đến Montreal xứ người mới biết và một thời cùng sinh hoạt cộng đồng, văn nghệ và gia đình cựu giáo chức. Tìm lại hình ảnh thì còn giữ vài tấm…

Để tưởng nhớ nhà thơ, xin đăng lại phần chúng tôi viết về Lưu Nguyễn trong bộ Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Trung (Toronto: Nguyễn, 2025).
 
*
Nhà thơ tên thật Nguyễn Thế Nghiệp (5-8-1947, Quế Sơn, Quảng Nam), tốt nghiệp Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư phạm Sài Gòn, sau 1975 bị tù “cải tạo”. Năm 1980 làm thuyền nhân sang Canada và đã liên tục đấu tranh, từ nhóm Vượt Biển xuất-bản báo cùng tên từ 1982-89 rồi Nắng Mới 1995, với những Vũ Ngọc Hiến, Bắc Phong, … là những người dứt khoát không chấp nhận thỏa hiệp, “hợp tác”!

Lưu Nguyễn con người đơn sơ cũng như thơ ca đan thanh, nhưng tâm hồn và nhiệt huyết thì một thời sôi nóng, cho đến nay đã đóng góp với đời ba thi tập Tri Âm (Sông Thu, 1990), Ngày Qua Rất Vội (Montréal: Nắng Mới, 1993) và Trái Tim Người Biết Yêu (Nắng Mới, 2009) gồm những áng thơ về tình bạn, tình yêu, về những tà áo dài tha thướt, những khuôn mặt diễm lệ, của một thời học trò và làm thầy rồi thân phận lưu vong, tâm tư hướng về quê nhà – một quê nhà đang bị bạo quyền chiếm đóng và người dân đang sống lầm than.
 
Tri Âm:
 
Lưu Nguyễn nhận chân làm thân lưu xứ không dễ:
 
“sao ta bỗng chốc điên cuồng
bỗng say ngây ngất, bỗng buồn rứt ray
xứ người tay vẫn trắng tay
ngày qua ngày lại kéo cày nuôi thân
nuôi cho mập cái si sân
một đời như thể phù vân mây trời”.
(Si Sân, Tri Âm, tr. 84)
 
Trong khi bạn bè đang chìm đắm trong nghịch cảnh. Ông Gửi Bạn Bè Còn Ở Lại với những lo toan cho bạn hữu với niềm vui, hy vọng:
 
“… ta với nó vẫn trên cùng đất nước
mà mấy năm không gặp gỡ một lần
từng cánh thư đi, từng cánh thư về, bao lần hẹn ước
khói lửa chiến trường cuốn hút nỗi chờ mong
rồi đất nước trong nỗi sầu tang tóc
tháng Tư nhục nhằn, Một Chín Bảy Lăm
nó nhìn ta đôi mắt buồn muốn khóc
trước mũi súng thù hai đứa vẫn lặng câm (…)
giờ ta ở bên này trái đất
sống tủi hờn một kiếp nhục đào vong
nghe tin nó đã thoát vòng tù ngục
chọn con đường chiến đấu diệt thù chung (…)
(Tri Âm, tr. 8,9)
 
Nơi đây, phố phường xa lạ, của người. Đi giữa đám đông xa lạ mà nhớ về Hội An, Những Mùa Xuân Tuổi Nhỏ:
 
“bạn bè xưa giờ đâu vắng cả
thằng đi cải tạo, thằng bôn đào
ta ngơ ngác giữa phố phường tàn tạ
đêm mịt mờ ta đứng đếm trời sao
thôi tạm biệt Hội An
những mùa xuân tuổi nhỏ
thôi tạm biệt Hội An
thành phố buồn bỏ ngỏ
ta cúi đầu lặng bước nỗi mênh mang” (Tri Âm, tr. 44)
 
Ở Lưu Nguyễn còn tình yêu và những kỷ niệm đẹp, tình tứ, từ chốn nhà trường:
 
“vẫn có chút ngập ngừng trong ánh mắt
tay run run rượu sánh đổ tràn ly
trong hạnh phúc giữa đất trời quay quắt
thẹn thùng em khép bờ mi.
muốn là gió len qua vài sợi tóc
nhè nhẹ mơn man phiến má hồng
mỗi bận vui tan em có khóc
hong khô những giọt lệ nồng”
(Bài Thơ Cho Em, Tri Âm, tr. 54)
 
Hay
 
“mai em ở lại trường làm thầy dạy học
mai anh về như thể về không”
(Như Thể Về Không, Tri Âm, tr. 46).
 
Những giấc mộng lớn và nhỏ của năm xưa như đang dậm chân, khó bước – khác với hoài bão, tâm nguyện:
 
“… xin hiểu cho ta bạn bè thương mến
muốn rất nhiều nhưng sức chẳng bao nhiêu
có nắng sớm mai, có gió ban chiều
có kẻ ở, có người đi, có dùng dằng nửa đi nửa ở
xin đừng trách ta bạn bè thương mến
hào khí năm xưa bay mất tự bao giờ
tiếng sáo Cao Tiệm Ly vẫn chờ đưa tiễn
mà Kinh Kha mãi uống rượu ngâm thơ …
xin tạ lỗi cùng bạn bè thương mến
muốn rất nhiều nhưng sức chẳng bao nhiêu.”
(Bài Tạ Lỗi, Tri Âm, tr. 74-75)
 
Ngày Qua Rất Vội, thi tập thứ hai, tiếp nối những ý tình, tâm sự và hoài bão của Tri Âm – những tình nước, tình bạn, tình riêng,… Nhưng đời sống đã khác và thời gian đi qua rất nhanh, khó níu kéo dù có bao thiện chí và lòng thành đi nữa. Trích Này Thanh Kiếm Gỗ:
 
“này thanh kiếm gỗ
sớm mai cưỡi ngựa vào rừng
vung thanh kiếm gỗ tưng bừng lá rơi
chém nhằm một cụm mồng tơi
trái vừa chín mọng tưởng rơi máu đào
chiều chiều luyện kiếm bên hồ
chém phăng mặt nước xôn xao vỡ trời
nào ngờ một đám bèo trôi
ngang qua vướng phải hỡi ơi kiếm sầu
khuya về cưỡi ngựa qua cầu
vung tràn kiếm gãy chém nhầu bóng trăng
lung linh đáy nước chị hằng
bên cành rong nhỏ kiếm văng mất rồi
buồn tình phi ngựa lên đồi
lấy tay làm kiếm rạch đôi sơn hà
tưởng chừng thiên hạ mình ta
vườn hoang mặc sức vào ra múa cuồng
giật mình tóc trắng như bông.
(Ngày Qua Rất Vội, tr. 12-13)
 
Đến Trái Tìm Người Biết Yêu, người đọc cảm nhận được những u hoài, tưởng tiếc trong thơ Lưu Nguyễn, như Khi Về Qua Trường Cũ:
 
“Ta trở lại trường xưa một chiều tháng Chạp
hàng phượng im lìm ướt sũng buồn thiu
những tà áo bên hàng hiên gió tạt
văng vẳng tiếng cười khúc khích tuổi hoa niên.
Một thuở nọ sân trường em áo trắng
cặp sách trong tay rạng rỡ môi trầm
ta một thuở cũng sân trường áo trắng
mà tâm hồn như già cỗi trăm năm (…)
Nỗi nhớ đêm đêm râm ran cồn ngực
thôi thúc trở về chốn cũ ngày xưa
bỗng thấy mình ta một chiều tháng Chạp
gã học trò già trước cổng trường xưa.
Trường lớp vẫn lớp trường xưa rêu phủ
bạn bè ta tan tác ở đâu rồi?” (tr. 12, 14)
 
Hoặc khi nhớ lại Quá Khứ:
 
“Quá khứ bốc hơi mùi ẩm mốc
nghe nhói đau từ tận tấc lòng
nỗi nhớ như đầu tên tẩm độc
ân huệ cuối đời chiến sĩ sang sông.
Thanh gươm rỉ ngày ngày đối bóng
rất ngại ngần kể lại chuyện xưa
thuở tuổi trẻ đứng đầu ngọn sóng
tiếng thét nào còn vọng những chiều mưa.
Ôi nỗi nhớ cũng là quá khứ
có vinh quang trên những nhục nhằn
có nước mắt bên lề cuộc lữ
có trận cười nhỏ máu trong tim.” (tr. 111-112)
 
Và một Lưu Nguyễn của chốn tĩnh, thiền:
 
“Khi im lặng người với ta là bạn
bỡi vô ngôn, tự nó đã nhiệm mầu
xin hãy nâng ly cùng ta uống cạn
chén đắng, chén sầu, kể cả chén say (…)
dẫu dã trăm năm, dẫu từ thiên cổ
cuộc rong chơi hồ dễ mấy ai từ
có chút ngại ngần trong từng nhịp thở
giọt nước mắt nào nhỏ xuống chiều nay.”
(Cuộc Rong Chơi, Tri Âm, tr. 30).
 
Nếu có Ngộ thì cũng theo cung cách của nhà thơ:

“luân hồi mấy kiếp rồi em
chênh vênh trần thế lạnh mênh mông bờ
Như Lai cũng khéo ỡm ờ
Sao không độ quách lại chờ ngộ chi.” (Tri Âm, tr. 31)
 
luunguyen2
Nhà thơ Lưu Nguyễn (thứ hai từ trái sang) và những người bạn văn, năm 2023. Nguồn ảnh: Nguyễn Vy Khanh.
 
Về sau, Lưu Nguyễn thiên về cách tân lục-bát một cách nhẹ nhàng, như theo tâm cảm chứ không phá cách triệt để nên dễ tìm được đồng cảm:
 
“Vào chùa / kinh / kệ
ra đường thấy / gái / sắc không động lòng.”
(Sắc, Trái Tim Người Biết Yêu, tr. 118)
 
“Em từ / hoang dại về chơi
ta / từ / thiên cổ / luân hồi ghé qua
tình cờ / như hạt / mưa sa
phiêu du nghìn cõi / ta bà tịch liêu
Gặp nhau giữa chốn chợ chiều
không dưng / mà lại lắm điều thị phi
thà / rằng / chẳng gặp / có khi
em vui / ta cũng bớt đi / não phiền”
(Như Hạt Mưa Sa, Trái Tim Người Biết Yêu, tr. 108-109)
 
Gấp thi tập cuối, nhà thơ ghi lại những câu Đốt Đuốc Soi Chân của tập Ngày Qua Rất Vội:
 
“Ta về / đốt đuốc soi chân
ta về / đốt cái phù vân / soi người
trăm năm / một trận / khóc cười
vẽ nhăng mất nét
cho đời / soi chung”.
 
Phải chăng đấy đã là chuẩn đích cập nhật của thơ Lưu Nguyễn? Cùng cố xứ Quảng Nam như Thái Tú Hạp, Luân Hoán, Hoàng Lộc, … , gia tài thơ Lưu Nguyễn có thể không bằng về lượng nhưng đã góp phần cho thi ca hải ngoại ở phần hiện thực thân phận lưu xứ và hoài bão cho tương lai đất nước và cội nguồn Việt Nam!

Nguyễn Vy Khanh
 
Nguồn: https://thekymoi.media/nguyen-vy-khanh-luu-nguyen-1947-2026-35749/