Tôi từng có một thời làm sinh viên ở đất Sài Gòn. Học đủ thứ trường, nhiều ngành học, và biết những câu chuyện về sinh viên, nên giờ ngồi lật lại ký ức, tự dưng thấy nó như một cuốn sổ tay dày cộm. Không chỉ là chuyện của riêng tôi đâu, mà còn là những gì tôi lượm lặt được từ người đi trước, từ những ngôi trường đã đứng đó ở Sài Gòn từ lâu lắm rồi.
Đường Duy Tân Cây Dài Bóng Mát

Đường Duy Tân, Sài Gòn, trước năm 1975. Photo: Blog Nhạc Xưa
Một vài câu hát mà hễ ai từng qua thời sinh viên Sài Gòn trước 1975 cũng thuộc lòng: “Con đường Duy Tân cây dài bóng mát, buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngắt”. Khúc đường ấy, đoạn nay là Phạm Ngọc Thạch mới đích thị là khung trời Đại Học đầu tiên và nổi tiếng nhất của Sài Gòn cũ. Nó nằm lọt thỏm giữa hai nhịp sống trái ngược. Một bên là phố thị rộn rã của đường Charner (Nguyễn Huệ), một bên, chỉ cần tản bộ theo Catinat (Đồng Khởi) hướng về nhà thờ Đức Bà, là gặp ngay một khoảng lặng xanh mát, thơ mộng, cứ như thành phố tự nhiên hạ giọng xuống khi bước vào đây.
Buổi sáng cuối tuần nọ, tôi ngồi ở góc “cà phê bệt” ngã tư Nguyễn Đình Chiểu – Pasteur, chỗ sinh viên Kiến Trúc với Kinh Tế hay tụ, ngắm mấy hàng cổ thụ cao vút mà thấy không khí xưa vẫn còn phảng phất đâu đây, dù người cũ đã đi xa lắm rồi.
Trường Luật khi ấy tên chính thức là Luật Khoa Đại Học đường Sài Gòn đóng đô ở số 17 Duy Tân, kéo dài từ ngã tư Nguyễn Đình Chiểu–Phạm Ngọc Thạch đến tận Nguyễn Đình Chiểu–Pasteur. Nghe kể lại: “Hồi đó học sinh ghi danh học Luật đông lắm, trường lớp không đủ chỗ ngồi… Hồi đó học Đại Học không điểm danh nên sinh viên tản ra xung quanh ‘ôm cua’.” Chữ “cua” ấy vốn từ chữ cours là khóa học mà đẻ ra cái từ “cúp cua” học trò bây giờ vẫn xài tỉnh bơ, chẳng biết gốc gác của nó từng đi qua một giảng đường đông nghẹt người.
Con số thì khiến người ta phải lắc đầu. Niên khóa 1974–1975, số sinh viên ghi danh lên tới 58.000 người, mà bốn năm trước đó, khóa 1970 có 13.000 người vào năm nhất thì chỉ 715 người tốt nghiệp, rớt đến 94,5%, và đó là tỷ lệ phổ biến suốt nhiều năm liền. Kỳ thi chia làm hai đợt, đầu hè và cuối hè, sàng đi sàng lại, cuối cùng toàn miền Nam, tính luôn cả Luật Khoa Huế mỗi năm chỉ cho ra chừng một trăm đến hai trăm Cử Nhân Luật. Nguyễn Tất Nhiên, cái ông thi sĩ hay đa mang chuyện tình con gái, cũng không bỏ lỡ dịp châm biếm nhẹ nhàng:
“Nghe nói em vừa thi rớt Luật/ Môi trâm anh tàn héo nụ xa vời…”
Ấy vậy mà tỷ lệ rớt kinh khủng đó chẳng làm ai chùn bước, học trò vẫn ùn ùn ghi danh, vì học phí rẻ, không thi tuyển đầu vào, muốn học là ghi tên, còn đậu hay rớt là chuyện của trời. Sinh viên đông mà trường chật, nên họ la cà khắp nơi. Như quanh hồ Con Rùa, trước trụ sở Tổng Hội Sinh Viên, hay góc Thư Viện Quốc Gia trên đường Gia Long.
Cách đó không xa, Kiến Trúc lại là một câu chuyện khác, trường ít người, nhưng “sang”. Mỗi khóa chỉ năm bảy trăm sinh viên, như năm 1969 chỉ có 689 người ghi danh, còn tỷ lệ tốt nghiệp thì “đáng sợ” hơn cả Luật. Suốt 24 năm, từ 1951 đến 1975, cả trường chỉ đào tạo ra 252 Kiến Trúc Sư. Văn phòng kiến trúc nằm ở số 12 Duy Tân, chính từ cái địa chỉ khiêm tốn, mà bao nhiêu bản vẽ thiết kế làm nên những biệt thự, tòa nhà cho Sài Gòn.
Cả hai trường Luật Khoa và Kiến Trúc đều tựa lưng vào trụ sở Viện Đại Học Sài Gòn. Nó là cơ quan quản lý chung của các phân khoa thời đó, nay là Văn phòng đại diện Bộ Giáo Dục – Đào Tạo. Gần đó nữa là Đại Học Y Khoa Sài Gòn, số 28 Trần Quý Cáp. Ba trường này gần nhau đến mức chuyện sinh viên Luật, Kiến Trúc, Y Khoa qua lại hẹn hò là chuyện thường ngày, cũng trên trục đường ấy còn có Đại Học Xá Trần Quý Cáp dành cho nữ sinh viên, còn nam sinh viên thì ở Đại Học Xá Minh Mạng.
Tôi vẫn nhớ những mùa hè hoa sao bay rợp trời nơi ấy, một khung cảnh lãng mạn đến mức nhạc sĩ Giáp Văn Thạch đã viết thành câu hát: “Cánh hoa dầu xoay tít bay bay…”. Giờ nghĩ lại, chẳng biết vì ngày ấy mình còn trẻ nên dễ rung động, hay vì cây cối thuở ấy thật sự đẹp hơn bây giờ, ít bị tỉa cành, tán lá cứ tự nhiên vươn rộng, che kín cả một khoảng trời.
Khi xưa, những vòm cây dày đến mức đi trên đường Trần Quý Cáp ra hồ Con Rùa, tôi cứ ngỡ mình đang bước trong một đường hầm lá xanh. Ra khỏi hàng cổ thụ là gặp mặt hồ lãng đãng, cây soi bóng nước; đi thêm một quãng, qua khỏi hồ, hướng về nhà thờ Đức Bà sẽ gặp trụ sở Tổng hội Sinh viên Sài Gòn ở số 4 Duy Tân, nay là Nhà Văn hóa Thanh niên, vẫn nép dưới hai hàng cây cao vút. Kề bên đó là nhà thờ Đức Bà và công viên Thống Nhứt, rậm rạp như một khu rừng nhỏ giữa lòng thành phố, một vẻ đẹp đã làm say lòng biết bao thế hệ học trò.
Sinh viên Luật, Kiến Trúc còn hay la cà sang tận Đại Học Văn Khoa Sài Gòn ở đường Gia Long, để rồi từ đó mà bao mối duyên tình Đại Học đã âm thầm nối dài thêm cái khung trời này. Sau năm 1966, khi Văn Khoa dời về đại lộ Cường Để, ngôi trường cũ ở Gia Long bị phá để xây Thư Viện Quốc Gia, nhưng nơi đó vẫn tiếp tục là chốn sinh viên lui tới học hành, tìm tài liệu, và… tâm sự, như một khung trời không dễ gì xóa được chỉ bằng một quyết định dời trường.
Văn Khoa – Ngôi Trường Sống Qua Hai Thế Kỷ

Trường Đại Học Văn Khoa – Sài Gòn Xưa. Nguồn: FB Sài Gòn Xưa
Nếu phải chọn một ngôi trường mang trong mình nhiều lớp lịch sử nhất Sài Gòn, tôi nghĩ ngay đến Văn Khoa, nay là Đại Học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn, nằm ở đầu đường Đinh Tiên Hoàng, cái cổng bạc màu thời gian mà biết bao thế hệ sinh viên từng đi qua, trong đó có cả tôi, năm bảy năm gì đó của đời mình.
Tiền thân của khu đất này cũng nằm trong thành Bát Quái, còn gọi là thành Quy, vì có tám hướng tám cửa tồn tại từ 1790 đến 1835 thì bị phá bởi cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi chống nhà Nguyễn. Năm 1836, nhà Nguyễn xây lại thành trên nền đất cũ, dịch về phía Đông Bắc. Đến khoảng 1870-1873, người Pháp lại biến nơi này thành một khu quân sự khép kín, xây bằng bê tông kiên cố với kho đạn, kho dược, dấu tích còn sót lại đến nay là tòa nhà K trong khuôn viên trường. Năm 1954, sau hiệp định Genève, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa từng dùng nơi này giam giữ tù nhân đối lập, rồi đến năm 1957 mới chuyển thành khu văn phòng của Đại học Tổng Hợp, mà sau này đổi thành Khoa học Xã hội và Nhân văn như đã nói.
Một khu đất đi qua từng ấy vai trò, thành trì, kho binh khí, trại giam, rồi giảng đường, chính vì đi qua nhiều biến động đến vậy nên cái không khí ở Văn Khoa mới thấm đẫm một chất trầm tư riêng, không giống bất cứ trường nào khác. Ấy vậy mà giữa thời chiến, những chàng trai cô gái Văn Khoa vẫn giữ được cho mình cái hồn nhiên, mộng mơ hiếm có, để rồi gửi gắm vào câu hát còn vang đến bây giờ:
“Con đường mộng hoa xưa, vẫn từng đôi từng lứa…
Hỡi người tình Văn khoa, bóng người trên hè phố…”
Hỡi người tình Văn khoa, bóng người trên hè phố…”
Nghe câu hát ấy, tôi cứ hình dung ra cảnh lá đổ đầy đường, và một đôi bóng dáng nào đó sóng bước bên nhau, chẳng biết còn hay mất, chỉ biết câu hát thì vẫn còn nguyên đó, như một lời nhắn gửi của một thời đã qua gửi lại cho những ai còn nhớ.
Những Tên Trường Nối Dài Theo Vận Nước
Ngay khu trung tâm, ở các quận 1, 3, 5, 10 cũ còn có cả một chuỗi trường Đại Học khác, mỗi trường mang mộtsố phận riêng, cứ đổi tên, đổi chủ, đổi cả sứ mệnh theo từng khúc quanh của lịch sử, mà tôi ngồi gom lại thấy như đọc một cuốn gia phả của cả một nền giáo dục.
Trường Đại Học Kiến Trúc bắt nguồn từ Ban Kiến Trúc thuộc Trường Mỹ Thuật Đông Dương, lập năm 1926 tại Hà Nội theo khuôn mẫu Pháp. Sau 1975, Bộ Xây Dựng tổ chức lại thành Khoa Kiến Trúc – Xây Dựng trực thuộc Đại Học Bách Khoa, rồi đến 1981 mới tách ra thành trường độc lập, cơ sở chính hiện nay ở số 196 Pasteur.
Đại Học Y Dược thì có gốc gác từ Đại Học Y Khoa Sài Gòn, lập năm 1947 như một phân hiệu của Y Khoa Hà Nội, ban đầu do giáo sư người Pháp C. Massias làm Hiệu Trưởng. Năm 1954 đổi tên thành Y Dược Sài Gòn, đến 1961 tách thành Y Khoa và Dược Khoa riêng biệt, năm 1962 lại tách thêm Nha Khoa, ba trường độc lập trong lòng Viện Đại Học Sài Gòn. Sau 1975, cả ba nhập lại thành Đại Học Y Dược, trụ sở nay ở 217 Hồng Bàng, Chợ Lớn có lẽ là một trong những trường lâu đời bậc nhất miền Nam, vì đào tạo bậc Đại Học ngay từ ngày thành lập.
Đại Học Sài Gòn lại có một khởi đầu bất ngờ hơn. Gốc trường này là từ Trường Trung Học Pháp – Hoa, lập năm 1908, dạy cả tiếng Pháp lẫn tiếng Hoa, nên người tốt nghiệp có vị thế xã hội cao, nổi tiếng khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh với danh xưng “Mái Chín”, cái tên từng xuất hiện trong văn chương của Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc.
Đại Học Sư Phạm ngày nay tiền thân là Sư Phạm Sài Gòn (1957), sau 1975 tổ chức lại và năm 1976 chính thức mang tên hiện tại. Đại Học Kinh Tế thì ra đời ngày 27/10/1976, trường Đại Học đầu tiên đào tạo khối kinh tế, quản lý ở Việt Nam sau năm 1975, đến 1995 từng sáp nhập vào Đại Học Quốc Gia rồi tách ra năm 2000, và tháng 10/2023 lại được nâng cấp thành Đại Học.
Riêng Đại Học Khoa Học Tự Nhiên và Khoa Học Xã Hội Nhân Văn thì có chung một gốc. Từ Trường Cao Đẳng Khoa Học thuộc Viện Đại Học Đông Dương (1941) và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn (1957), sau 1975 gộp chung thành Đại Học Tổng Hợp, đến năm 1996 mới tách làm hai như bây giờ. Trụ sở của Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn nằm ngay khuôn viên cũ từ thời Pháp là Trường Collège Chasseloup Laubat, sau đổi Jean Jacques Rousseau, để rồi cuối cùng trở về đúng cái tên gắn với bao thế hệ sinh viên, Văn Khoa.
Ngồi liệt kê từng cái tên theo bao lần đổi chủ đổi tên ấy, tôi mới thấm thía một điều. Đất thì vẫn ở đó, cây thì vẫn xanh đó, chỉ có cái bảng tên trước cổng là cứ thay đi thay lại theo vận nước. Lịch sử thích viết đi viết lại cùng một câu chuyện, chỉ đổi vài chữ đầu dòng.
Áo Tím, Áơ Dài Và Những Mái Trường Trăm Tuổi
Thời tôi học Sư Phạm, đi kiến tập rồi thực tập, nên cũng biết qua một số trường Trung Học nổi tiếng của Sài Gòn.
Trường Marie Curie là ngôi trường mà trong một, hai năm đầu học Sư Phạm tôi đến kiến tập, nghĩa là chỉ mới được vào lớp ngồi xem thầy cô dạy. Đây là ngôi trường hiếm hoi giữ nguyên tên gốc từ thời Pháp đến giờ, mở cửa năm 1918, ban đầu chỉ nhận nữ sinh, dạy bằng tiếng Pháp, dành cho con nhà Pháp và một số ít nữ sinh con nhà thế lực. Sau 1975 mới nhận cả nam lẫn nữ, có thời từng là trường lớn nhất nước với hơn 5.000 học sinh mỗi năm, đến 2007 mới trở lại thành trường công lập, giảm sĩ số để nâng chất lượng. Kiến trúc Pháp trên cổng chào, cầu thang gỗ, vườn có đài phun nước vẫn còn nguyên đến bây giờ, như một lời chứng thầm lặng cho gần 110 năm tuổi trường.
Trường Lê Hồng Phong xây năm 1927 với tên Collège Petrus Ký, còn Lê Quý Đôn thì là trường Trung Học xưa nhất thành phố, thành lập 1874, xây xong 1877, ban đầu tên Collège Indigène rồi đổi Chasseloup Laubat. Hai ngôi trường mang dáng dấp Đông Dương, Tây Âu ấy đến nay vẫn đứng sừng sững, tường vàng mái ngói, như chưa từng biết đến khái niệm cũ kỹ.
Trưng Vương thì nằm ở số 3A Nguyễn Bỉnh Khiêm, gốc từ trường Nữ Trung Học Đồng Khánh lập ở Hà Nội năm 1917, sau hiệp định Genève một bộ phận trường dời vào Nam, đến 1957 mới chính thức về địa chỉ hiện nay, nằm sát bên Võ Trường Toản, khi ấy chỉ dành cho nam sinh. Một cựu học sinh Võ Trường Toản, tóc giờ đã bạc trắng, kể lại gốc cây trước cổng trường: “Gốc cây này là nơi chúng tôi, những nữ sinh Trưng Vương và nam sinh Võ Trường Toản đã túm tụm quanh chiếc xe đạp của ông bán bò khô để thưởng thức… trên đĩa gỏi nhỏ.” Chỉ nghe kể vậy thôi mà tôi hình dung ra được cả một thời thanh xuân, đơn sơ, chẳng cần gì to tát, chỉ cần một đĩa gỏi nhỏ dưới gốc cây cũng đủ thành ký ức mang theo cả đời.
Gia Long nay là Nguyễn Thị Minh Khai là ngôi trường tôi từng thực tập đứng lớp, ra vào cả tháng. Trường gắn liền với hình ảnh nữ sinh áo tím nổi tiếng khắp Sài Gòn. Trường ra đời từ đề nghị của giới trí thức Việt năm 1908, đến 1915 mới tuyển khóa đầu tiên với 42 nữ sinh, đồng phục áo dài tím, biểu tượng cho sự tinh khiết, đoan trang, kín đáo của người con gái Việt. Một nữ sinh từng chia sẻ: “Áo tím là niềm tự hào của rất nhiều thế hệ nữ sinh trường không chỉ học giỏi, đức độ mà còn biết đặt mơ ước vào những lý tưởng cao cả.” Đến niên khóa 1978-1979, trường giải thể cấp 2, nhận cả nam sinh, đổi tên thành Nguyễn Thị Minh Khai, nhưng màu tím vẫn còn đó, chảy tiếp vào đồng phục nữ sinh hiện nay, như một sợi chỉ mảnh nối liền ba thế hệ “Áo Tím – Gia Long – Minh Khai”.

Trường nữ Trung Học Gia Long trước năm 1975. Ảnh: Dân Việt News
Rồi hai ngôi trường chuyên, trường mang tên Trần Đại Nghĩa, gốc từ trường Lasan Taberd do cha Henri De Kerlan tự bỏ tiền lập năm 1874, bàn giao cho Sở Giáo Dục tháng 12/1975. Và trường Lê Hồng Phong, mang phong cách kiến trúc Đông Dương, từng là cái nôi đào tạo bao thế hệ trí thức, nhà khoa học, văn nghệ sĩ cho thành phố này.
Tính đến tháng 10/2025, toàn thành phố có 321 di tích đã xếp hạng, trong đó có đến 12 ngôi trường, từ phổ thông đến Đại Học được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật. Ngồi gom nhặt lại chừng ấy cái tên, chừng ấy con đường, tôi chợt nhận ra một điều giản dị, những mái trường ấy không chỉ dạy chữ, chúng còn âm thầm giữ hộ cho thành phố này một phần ký ức mà không tòa nhà cao tầng nào thay thế được. Người ta có thể phá một cổng trường, đổi một cái tên, nhưng cái bóng mát của hàng cây cổ thụ, cái mùi hoa sao bay trong nắng chiều, và những câu hát cũ vẫn cứ lẩn khuất đâu đó, chờ một ngày có ai tình cờ đi ngang, chợt dừng chân, và bỗng dưng thấy lòng mình chùng xuống như tôi lúc này.

Trường THPT Lê Quý Đôn, Q3. Hình tác giả cung cấp
*****
Nhân Bản – Dân Tộc – Khai Phóng: Một Giấc Mộng Giáo Dục
Những thứ mất đi rồi người ta mới thấy nó quý, tôi muốn nói đến nền giáo dục miền Nam trước năm 1975. Ngồi gõ lại mấy dòng này, lòng tôi cứ chộn rộn, như đang lật lại một cuốn album cũ, tấm ảnh nào cũng ngả màu, nhưng nhìn kỹ vẫn thấy rõ mồn một cái thần thái của một thời.
Những Mái Trường Của Một Thời

Văn phòng Viện Đại Học Sài Gòn cạnh bên Hồ con rùa (góc đường Duy Tân – Trần Quý Cáp), nay là Cơ quan đại diện Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh. Author: USIA
Ngày ấy, nhắc đến Đại Học ở Sài Gòn là nhắc đến Viện Đại Học Sài Gòn, trung tâm giáo dục lớn nhất miền Nam. Tiền thân của viện là Viện Đại Học Đông Dương thành lập năm 1906, qua nhiều lần đổi tên trước khi chính thức mang tên Viện Đại Học Sài Gòn vào năm 1957. Trực thuộc viện là hàng loạt trường thành viên quen thuộc như Đại Học Khoa Học, Văn Khoa, Y Khoa, Dược Khoa, Luật Khoa và Sư Phạm. Dẫu về sau đổi tên hay sáp nhập, nền tảng của những ngôi trường ấy vẫn còn được kế thừa, lặng lẽ hiện diện trong hệ thống các Đại Học quốc gia ngày nay.
Rồi tới năm 1973, Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức ra đời, mang một tham vọng khác hẳn. Nó đào tạo đa ngành, thiên về thực hành hơn là sách vở suông. Gốc gác của nó là Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ và Trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc, hai cái tên nghe có vẻ khiêm tốn nhưng lại chính là tiền thân của Bách Khoa và Nông Lâm Sài Gòn.
Bên cạnh khối công lập, tư thục cũng nở rộ không kém. Viện Đại Học Vạn Hạnh trên đường Trần Quốc Toản, mang hơi hướng Phật giáo, là chỗ học của biết bao trí thức trẻ. Viện Đại Học Minh Đức, trường tư thục Công giáo đầu tiên do tư nhân đứng ra gầy dựng. Rồi Trường Đại Học Regina Pacis, một nữ học viện nhỏ nhưng có bản sắc riêng, theo mô hình Đại Học cộng đồng. Ngần ấy cái tên, ngần ấy sắc thái, đủ để thấy Sài Gòn hồi đó không chỉ có một con đường học, mà có cả một khu vườn trăm hoa, ai hợp giống nào thì tìm tới giống đó.
Con Đường Chữ Nghĩa Lắm Truân Chuyên
Nhưng muốn ngồi được vào giảng đường, học trò miền Nam phải đi qua một chặng đường gian nan, chớ không phải dễ dàng gì. Hệ thống giáo dục hồi đó gồm ba bậc: Tiểu Học, Trung Học, Đại Học với mạng lưới trường công, trường tư giăng khắp, quản lý từ trung ương xuống tận địa phương. Điều đáng nói là chỉ có bậc Tiểu Học được phổ cập, trẻ đủ sáu tuổi là có quyền vào trường công, học miễn phí. Còn từ cấp hai trở lên, con đường học vấn biến thành một cuộc sàng lọc khắc nghiệt.
Học xong lớp Năm, trò nhỏ phải thi để lấy bằng Tiểu Học, kỳ thi chọn lọc dữ dằn, tỷ lệ đậu vào trường công chỉ chừng sáu mươi hai phần trăm, còn lại phải bươn chải học trường tư, tự lo học phí. Xong lớp Chín lại thi Trung Học Đệ Nhất Cấp, dù không bắt buộc để lên lớp Mười. Rồi tới lớp Mười Một, thi Tú Tài I, rớt là coi như chấm dứt, không được học tiếp lớp Mười Hai, con trai rớt còn phải trình diện đi quân dịch hai năm hoặc vào trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế. Cuối cùng, hết lớp Mười Hai, thi Tú Tài II, đậu mới được ghi danh Đại Học. Mà tỷ lệ đậu hai kỳ thi Tú Tài chỉ loanh quanh mười lăm đến bốn mươi lăm phần trăm, nghe đã thấy ngộp.
Một tờ nội san thời đó ghi lại một câu mà tôi đọc xong cứ thấy nhói nhói trong lòng: “Cứ một trăm em vào lớp đầu của bậc Tiểu Học thì chỉ có ba em được học Trung Học Đệ Nhị Cấp, còn chín mươi bảy em bị hất ra ngoài nền giáo dục đại chúng.” Nghe vậy mới hiểu, mộng đèn sách của một đứa trẻ miền Nam ngày đó, không phải ai cũng đi trọn được. Tới năm 1974, chỉ chừng bảy mươi phần trăm dân số biết đọc biết viết, ba mươi phần trăm còn lại vẫn chịu cảnh mù chữ. Học hành thời loạn, đâu có dễ dàng như mình tưởng.
Ba Chữ Vàng: Nhân Bản — Dân Tộc — Khai Phóng
Ấy vậy mà giữa cái khắc nghiệt đó, người làm giáo dục miền Nam vẫn cố công dựng lên một triết lý cho ra hồn. Ba chữ nhân bản, dân tộc, khai phóng trở thành cái xương sống của cả nền giáo dục.
Nhân bản, là đặt con người lên hàng đầu, coi con người là gốc chớ không phải công cụ, chấp nhận sự khác biệt giữa người với người nhưng không lấy đó làm cớ phân biệt giàu nghèo, vùng miền, tôn giáo. Dân tộc, là giữ lấy cái hồn cốt, cái truyền thống của ông cha, để văn hóa mình không bị hòa tan, biến mất giữa những nền văn hóa khác. Khai phóng, là không đóng cửa, không bảo thủ, biết mở lòng đón nhận cái mới, cái tiến bộ của khoa học kỹ thuật thế giới, mà vẫn không đánh mất mình.
Ba chữ đó nghe thì đẹp, thiệt đẹp, nhưng tới khi chính quyền qua đời cũng chưa từng có một văn bản nào cụ thể hóa nó cho rõ ràng. Thành ra khi đem áp dụng vào thực tế, người ta cứ loay hoay, lúng túng. Tôi nghĩ bụng, đó cũng là số phận chung của mọi lý tưởng đẹp trên giấy, nhưng đem ra đời sống thì cứ vấp phải cái thực tại gồ ghề của nó. Dạo gần đây tôi hay nghe thiên hạ tranh cãi về hai chữ “khai phóng”, người thì bênh, người thì bác, mà ít ai nhớ rằng trước năm 1975, ở miền Nam, nó từng là một nguyên tắc sống, không phải chuyện lý luận suông.
Từ cái nền triết lý đó, mục tiêu giáo dục cũng được vạch ra rõ ràng. Phát triển toàn diện mỗi cá nhân, theo đúng bản tính tự nhiên của từng người, nuôi dưỡng tinh thần quốc gia, để học trò hiểu sử nước nhà, yêu đất nước mình, giữ tiếng Việt cho trong sáng, và gầy dựng tinh thần dân chủ, óc khoa học. Để mỗi người biết làm việc độc lập, biết phán đoán, biết chịu trách nhiệm. Nghe qua thấy đơn giản, nhưng đó chính là cái mộng lớn của một nền giáo dục muốn đào tạo ra con người tự do, chớ không phải con người rập khuôn.
Tháp Ngà Học Vấn
Bước chân vào cổng Đại Học, sinh viên miền Nam gặp một mô hình khá lạ, mô hình viện Đại Học, phỏng theo University của Mỹ và Tây Âu, có hệ thống tín chỉ đàng hoàng. Mỗi viện Đại Học gồm nhiều phân khoa hay trường trực thuộc, trong mỗi phân khoa lại chia ra từng ngành, từng ban. Học xong bốn năm cấp một, ai theo khối nhân văn khoa học thì lấy bằng Cử Nhân, ai theo khối chuyên nghiệp thì lấy bằng tốt nghiệp hay bằng Kỹ Sư. Học thêm một hai năm nữa, lấy bằng Cao Học hay Tiến Sĩ đệ tam cấp. Muốn học lên hơn, phải học thêm hai ba năm, làm luận án, mới lấy được bằng Tiến Sĩ, tương đương Ph.D. bên Mỹ. Riêng ngành Y, vì phải thực tập bệnh viện, nên học sinh phải è cổ ra học thêm sáu năm hoặc hơn.
Số liệu sinh viên qua từng năm cũng nói lên một câu chuyện thú vị. Năm 1959 chỉ có 7.500 sinh viên, vậy mà tới niên khóa 1974 – 1975 đã vọt lên 160. 475 người. Một sự tăng trưởng chóng mặt, phản ánh đúng cái khát vọng học hành của cả một thế hệ trẻ miền Nam giữa thời buổi chiến tranh.
Tới thập niên 1960, 1970, giữa lúc hội nghị hòa bình Paris đang diễn ra, chính quyền Sài Gòn đã tính chuyện tái thiết hậu chiến, hình dung ra viễn cảnh người lính từ các bên trở về cần được đào tạo lại để hòa nhập đời thường. Từ đó, hai mô hình mới ra đời, trường Đại Học cộng đồng, mô phỏng Community College của Mỹ, đào tạo sơ cấp, đa ngành, gắn liền với nhu cầu địa phương và viện Đại Học Bách Khoa, như Viện Đại Học Bách Khoa Thủ Đức, chú trọng thực tiễn, có khuôn viên rộng lớn được thiết kế để khơi gợi cảm hứng sáng tạo cho người học.
Nói tới tự trị đại học, Hiến pháp quy định vậy, nhưng thực tế Tổng Thống vẫn là người bổ nhiệm viện trưởng, mọi chuyện thành lập khoa, trường, văn bằng đều phải qua Bộ Giáo Dục duyệt. Cho nên, dù trên danh nghĩa là tự trị, viện Đại Học vẫn cứ trực thuộc Bộ Giáo Dục, khó tránh khỏi sự chi phối. Vì vậy mà sinh viên miền Nam từng dấy lên không ít phong trào đấu tranh đòi thực thi tự trị Đại Học thực sự. Nhưng bù lại, sinh viên các phân khoa công lập hầu hết chỉ cần ghi danh, không phải thi tuyển, không phải đóng học phí, một ưu đãi mà nhìn lại, tôi thấy cũng đáng để trân trọng.
Trăm Hoa Đua Nở
Ngoài Sài Gòn, các viện Đại Học công lập còn tỏa ra khắp miền Nam. Viện Đại Học Huế thành lập năm 1957 với năm phân khoa; Viện Đại Học Cần Thơ ra đời năm 1966 phục vụ cho cả miền Tây sông nước. Khối tư thục thì phong phú không kém. Viện Đại Học Đà Lạt, gầy dựng trên nền một chủng viện Công giáo, trong gần hai mươi năm đã đào tạo hơn 26.000 người; Viện Đại Học Phương Nam, Viện Đại Học An Giang của Phật giáo Hòa Hảo, Viện Đại Học Cao Đài ở Tây Ninh. Mỗi viện mang một màu sắc tôn giáo, vùng miền riêng, như từng đóa hoa trong một khu vườn lớn.
Chưa kể tới các học viện chuyên biệt như Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, đào tạo công chức từ năm 1950, hay những viện nghiên cứu mang tên tuổi quốc tế như Viện Pasteur Sài Gòn, Viện Hải Dương Học Nha Trang, Viện Nguyên Tử Lực Đà Lạt. Rồi những trường Đại Học cộng đồng mọc lên từ năm 1971. Tiền Giang thiên về nông nghiệp, Duyên Hải thiên về ngư nghiệp, mỗi trường một bản sắc, gắn chặt với đời sống dân sinh nơi nó tọa lạc.
Bên mảng nghệ thuật, cũng không thiếu những cái tên đáng nhớ. Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ, Trường Quốc Gia Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn. Nơi ươm mầm cho biết bao tài năng nghệ sĩ. Và cũng có những đứa con xa xứ, những sinh viên được cấp phép du học, phần đông sang Pháp, một số sang Mỹ, mang theo cái hoài bão học hỏi tinh hoa thế giới rồi đem về dựng xây quê nhà.
Ngồi liệt kê lại ngần ấy trường, tôi thấy rằng, một nền giáo dục dẫu còn khiếm khuyết, chưa được trọn vẹn tự trị như nó từng mơ, nhưng vẫn mang trong mình một cái khát vọng rất người. Khát vọng đào tạo ra những con người biết suy nghĩ độc lập, biết yêu quê hương, biết mở lòng đón nhận thế giới. Sài Gòn ngày ấy, giữa bom đạn và thi cử ngặt nghèo, vẫn cố giữ cho được cái phần hồn ấy của giáo dục. Và tôi, ngồi viết lại những dòng này hôm nay, chỉ mong sao cái tinh thần nhân bản, dân tộc, khai phóng kia đừng chỉ nằm im trong những sách cũ, mà biết đâu, một ngày nào đó, lại được ai đó tiếp nối, thắp lên lần nữa.
Nguyễn Đông A
