Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
binh ngo 2026 vegas 1 768x531
Ảnh (Tác Giả gởi)
 
Nhân Năm Ngựa 2026, Tìm Hiểu Nhạc Phẩm Ngựa Hồng Của Nhạc Sĩ Phạm Duy
 
Tác giả: Hiệp Dương (tức Học Trò) và Claude Code (Anthropic AI)
 
Phân chia công việc:

• Hiệp Dương (tức Học Trò): Khởi xướng ý tưởng, sưu tầm tư liệu, định hướng nghiên cứu, am tường văn hóa, góp ý soạn bài (interactive process), kiểm chứng thông tin, duyệt xét lần chót

• Claude (Anthropic AI): Phân tích tư liệu, soạn bản thảo, giữ gìn văn phong, kiểm tra trích dẫn
 
Chủ biên: Hiệp Dương (tức Học Trò)
 
I. Mở Đầu
 
Năm 2026 theo lịch Trung Hoa là năm Bính Ngọ, năm con Ngựa. Trong văn hóa Á Đông, ngựa từ xưa đã là biểu tượng của sức mạnh, tự do, và chiến thắng. Người ta thường nói “mã đáo thành công” để chúc nhau may mắn, hay “thiên lý mã” để ca ngợi những bậc hiền tài xuất chúng. Ngựa phi trên đồng cỏ, bờm tung bay trong gió, là hình ảnh của sự phóng khoáng, không bị trói buộc.
 
Thế nhưng trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, có một bài hát nói về ngựa theo một cách nhìn khác hẳn. Đó là bài Ngựa Hồng của nhạc sĩ Phạm Duy, bài thứ chín trong chương khúc Mười Bài Rong Ca, được sáng tác vào mùa Xuân năm 1988 tại Thị Trấn Giữa Đàng (Midway City), California. Bài hát kể chuyện một con chiến mã từng in vó khắp vùng chiến địa, nay phải cong lưng kéo một chiếc xe thổ mộ, sống kiếp nô lệ khổ nhọc. Qua hình tượng con ngựa hồng, Phạm Duy gửi gắm những suy tư sâu xa về thân phận con người, về nước Việt, và về con đường giải thoát khỏi những ràng buộc của cuộc đời.
 
Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng, trong bài viết đăng trên báo Người Việt ngày 20 tháng 3 năm 1988, đã kể lại một chi tiết thú vị:
 
“Một buổi chiều, cuối tháng Hai, 1988, chúng tôi gồm 3 người, ở vào cái ‘tuổi bản lề’ đã được Phạm Duy mở rộng cánh cửa phòng ông mời vào nơi chúng tôi được dịp nhìn thấy hai bức tranh Ngựa — một của Nhật Bản và một của Trung Hoa — cực kỳ xúc cảm và nghe ông nói về những sáng tác mới nhất của ông.”[1]
 
Hình ảnh hai bức tranh ngựa trong phòng nhạc sĩ như một điềm báo cho bài Ngựa Hồng sắp ra đời.
 
Nhân dịp năm Ngọ, chúng ta hãy cùng tìm hiểu bài hát này để thấy được tài năng của một nhạc sĩ biết dùng hình tượng dân gian quen thuộc để chuyên chở những triết lý cao siêu, những ước mơ thầm kín của cả một dân tộc.
 
***
II. Bối Cảnh Sáng Tác: Mười Bài Rong Ca Và Phong Cách New Age
 
Để hiểu được Ngựa Hồng, trước hết ta cần đặt nó trong bối cảnh ra đời của chương khúc Mười Bài Rong Ca.
 
Vào năm 1986, sau hơn bốn mươi năm sáng tác không ngừng nghỉ, Phạm Duy quyết định tạm ngưng viết nhạc để ngồi nhớ lại năm mươi năm soạn nhạc của mình. Ông dành thời gian sưu tập và ghi chép tất cả những lời hát còn nhớ được để in ra tuyển tập Ngàn Lời Ca. Đó là một công trình đồ sộ, như một cách tổng kết lại cả một đời người làm nhạc.
 
Nhà phê bình Thụy Khuê, viết từ Paris năm 1989, đã trích lời Phạm Duy:
 
“Với tập nhạc Ngàn Lời Ca được ra mắt độc giả vào mùa thu 87, tôi tưởng rằng từ nay, tôi có thể buông đàn bỏ bút để được sống cuộc đời rong chơi bốn mùa như tôi thường mơ ước. Thế nhưng…”[2]
 
Thế nhưng ông chưa ngừng được. Cái duyên hay cái nợ đã xui ông tiếp tục sáng tác.
 
Vào đầu năm 1988, trong vài chuyến đi chơi với bạn bè ở San Francisco, ông bỗng nhìn ra là chỉ còn mười hai năm nữa là tới thế kỷ thứ hai mươi mốt. Cùng lúc đó, ông nhận thấy rõ ràng là thế hệ thứ hai của người Việt Nam sống tại hải ngoại, đặc biệt là ở Hoa Kỳ, tức là lớp tuổi hai mươi, đã quay lưng lại với nhạc Việt. Và có lẽ quan trọng hơn cả, ông ngẫu nhiên gặp lại một người tình cũ, khiến lòng ông bỗng nhiên có hứng để soạn nhạc nữa.
 
Nguyễn Xuân Hoàng nhận xét:
 
“Phạm Duy ‘rất trẻ’ trong nhiều nghĩa của từ ngữ quen thuộc ấy. Chỉ còn 12 năm nữa thôi là chúng ta giã từ thế kỷ 20 để bước vào thế kỷ 21. Ông làm chúng tôi ngạc nhiên về một sự nhắc nhở như vậy. Mười bài Rong Ca trong một thứ Chương Khúc của ông, chính là tiếng nói cho Thế Kỷ đó.”[1]
 
Phạm Duy quyết định chọn phong cách nhạc New Age cho chương khúc mới này. New Age là loại âm nhạc điện tử với những giai điệu êm dịu, giản đơn, thuần khiết, cộng với những khoảng không rộng rãi, yên bình. Những đề tài trong New Age thường bao gồm không gian và vũ trụ, môi trường và thiên nhiên, tính nhân bản của con người, sự hòa hợp của chính bản thân với thế giới. Nhạc New Age hay kể về những giấc mơ hoặc những cuộc hành trình của tâm trí hay tinh thần.
 
Ông giải thích lý do chọn phong cách này như sau: nội dung của Rong Ca là sự vượt thoát ra khỏi cái chật hẹp tù túng để vươn tới cái mênh mông bát ngát, cho nên phải có một cái áo mới phù hợp với thân xác. Hình thức nhạc New Age sẽ làm cho người yêu nhạc khoái tai hơn là phải nghe lại hình thức cũ kỹ trước đây.
 
Đoàn Xuân Kiên, trong bài phân tích sâu sắc đăng trên Tập San Thế Kỷ 21 năm 1994, đã viết về sự chuyển biến này:
 
“Mười Bài Rong Ca đánh dấu một bước chuyển biến mới trong nghệ thuật sáng tác của Phạm Duy tại hải ngoại. Trước đó, trong khoảng hơn mười năm, ông cũng như bao nhiêu người Việt lưu vong khác vướng bận tâm tư trong nỗi dằn vặt về một thân phận biệt xứ và nỗi bất bình về tình hình chính trị của đất nước. Hát Trên Đường Tị Nạn (1978), Ngục Ca (1981), Hoàng Cầm Ca (1984) ra đời trong hoàn cảnh ấy. Khi những nét nhạc cuối của Bầy Chim Bỏ Xứ tương đối đã hoàn tất vào năm 1985 thì người nghệ sĩ Phạm Duy cũng tìm thấy lại phong thái của một người bõ già của thế kỉ và hát lên những rong khúc vừa thanh thản mà vững chãi, vừa rất trữ tình mà vẫn sâu lắng, ‘rất Phạm Duy’.”[3]
 
Đoàn Xuân Kiên còn nhấn mạnh về nghệ thuật ngôn ngữ trong Rong Ca:
 
“Tất cả mười bài rong ca đều viết ở thể hát kể (ballad), một thể loại của truyền thống những người hát rong (troubadour). Những bài hát kể thường kết cấu đơn giản, nội dung là những lời tán tụng tình yêu hay những suy ngẫm siêu hình, lời hoạt kê thời sự xã hội… Lần này, Duy Cường thể nghiệm phối khí một số bài theo phong cách nhạc new age rất trẻ trung, mới mẻ.”[3]
 
***
III. Nội Dung Ca Từ: Hình Tượng Con Ngựa Hồng
 
Bài Ngựa Hồng mở đầu bằng hình ảnh oai hùng của một con chiến mã trong quá khứ. Ngựa Hồng xưa kia cùng bậc chinh nhân bách chiến nơi sa trường đời. Đó là hình ảnh của vinh quang, của những ngày tháng huy hoàng khi con ngựa phi nước đại trên chiến trường, bờm tung bay trong cơn gió sớm, đuôi cong vung lên trong chiều khói lam. Con tuấn mã oai phong dấn thân đi trong vinh quang sa trường.
 
Thế nhưng ngay sau đó, Phạm Duy đưa người nghe vào một thực tại hoàn toàn khác. Ngựa Hồng hôm nay bị cột vào yên cương, cong lưng kéo chiếc xe. Đường đời quanh co chật chội, bụi bờ quanh năm lầy lội, cỏ hèn đã úa từng cội. Con ngựa đi quanh thành cổ tan hoang, đi quanh miếu cũ rêu phong. Ngựa khiêng bao nặng nề trên lưng, vó bước phong sương ngập ngừng. Long đong, trụi bờm, se lông, cong lưng, vó bước mông lung.
 
Đỗ Thái Nhiên, trong bài phân tích triết học về Rong Ca, đã viết:
 
“Ngựa Hồng là hình ảnh tượng trưng cho đời sống của một người. Vinh nhục trong đời người chẳng khác gì vinh nhục trong kiếp ngựa.”[4]
 
Ông tiếp tục phân tích:
 
“Điều bi thảm nhất là đời người và kiếp ngựa đã đồng qui lại một sự thể: ngựa làm nô lệ cho chủ ngựa, người là nô lệ cho tà thuyết, cho bạo quyền, cho thế giới của sự giầu có nhưng ngu dốt một cách ngạo nghễ. Ngựa bị che mắt bởi hai miếng da, người bị che mắt bởi tuyên truyền xuyên tạc, quảng cáo bóp méo, giáo dục nhồi sọ.”[4]
 
Những hình ảnh trong bài hát thật đau lòng. Từ một con chiến mã oai hùng, Ngựa Hồng nay phải chịu đựng từng ngọn roi đau tàn bạo, từng gò dây cương nghẹn ngào, một hàm thiếc khóa miệng vào. Đó là cuộc đời lao đao của kẻ vong thân, khiêng voi cõng rắn trên lưng.
 
Câu “khiêng voi, cõng rắn trên lưng” là một hình ảnh rất đắt. Nó gợi lên thành ngữ “cõng rắn cắn gà nhà,” ám chỉ những kẻ phản bội, rước kẻ thù về hại đồng bào mình. Con ngựa không chỉ bị nô dịch mà còn phải gánh chịu những gánh nặng của sự phản bội, của những hệ lụy do chính đồng loại mình gây ra.
 
Điệp khúc đầu tiên nhấn mạnh sự tương phản giữa xưa và nay. Ngựa Hồng xưa kia oai phong tuấn mã, đi trong vinh quang sa trường dấn thân. Thế nhưng ngựa dù hôm nay có đeo yên gấm vóc hay đưa xe loan thì cũng là kiếp nô. Kiệu vàng trên lưng, nhưng đôi mắt đã bị che ngang, bơ vơ trên đường nhấp nhô.
 
Đây là một ý tưởng sâu sắc. Dù có được trang hoàng lộng lẫy, dù có kéo xe loan hay đeo kiệu vàng, thì bản chất vẫn là nô lệ. Mà tệ hơn nữa, đôi mắt bị che ngang, không còn thấy được đường đi, không còn biết được mình đang ở đâu, đi về đâu. Đó là bi kịch của sự mù quáng, của việc đánh mất chính mình.
 
Thế rồi, trong buổi chiều trăm năm, Ngựa Hồng bỗng thấy xa xăm Ngựa Rừng. Đó là Ngựa Thần không yên, Ngựa Hùng không cương, oai linh cất vó trong sương. Ngựa Rừng động lòng thương cho đồng loại, phi qua ngọn đồi, nồng nàn hí tiếng mời gọi: Ngựa Hồng ơi, tung xiềng để ra đi, thênh thang khắp cõi tang thương.
 
Hình ảnh Ngựa Rừng là hình ảnh của tự do, của bản ngã nguyên sơ chưa bị thuần hóa, chưa bị trói buộc. Ngựa Thần, Ngựa Hùng không yên không cương, oai linh cất vó trong sương. Đó là tiếng gọi của thiên nhiên, của tự do, của cái ta đích thực.
 
Và điệp khúc cuối cùng là sự giải thoát. Ngựa Hồng quay lưng đưa chân đá vỡ yên cương, thong dong lên đường thoát thân. Cỏ nội xanh tươi thơm tho đón gió, sương rơi trên muôn hoa ngàn ngát hương. Ngựa Hồng không còn ai che đôi mắt nữa, trông ra hai bên con đường rất xa. Và cuối cùng, Ngựa Hồng vươn lên phi qua lỗ bé trôn kim, thong dong đi vào cõi không.
 
***
IV. Triết Lý Khổng-Lão Trong Ngựa Hồng
 
Phạm Duy đã viết trong Những Trang Hồi Âm rằng ông soạn bài Ngựa Hồng “như một người hiền.” Ông giải thích:
 
“Ngựa hồng nhập thế, làm tròn bổn phận với đời như một Khổng Tử. Ngựa hồng thoát tục, nhẹ nhàng đi vào cõi không, như một Trang Tử.”
 
Đây là chìa khóa để hiểu được chiều sâu triết học của bài hát. Phạm Duy đã tổng hợp hai dòng tư tưởng lớn của Á Đông: Nho giáo và Đạo giáo.
 
Theo Nho giáo, người quân tử phải nhập thế, phải làm tròn bổn phận với gia đình, xã hội, quốc gia. Khổng Tử dạy về tam cương ngũ thường, về trách nhiệm của kẻ sĩ đối với thiên hạ. Con ngựa hồng xưa kia bách chiến sa trường chính là hình ảnh của sự nhập thế, của việc làm tròn bổn phận với đời.
 
Thế nhưng Đạo giáo, đặc biệt là qua tư tưởng của Trang Tử, lại dạy về sự thoát tục, về việc vượt qua những ràng buộc của danh lợi, của xã hội, để trở về với cái ta đích thực, với thiên nhiên, với đạo. Trong sách Nam Hoa Kinh, Trang Tử kể nhiều câu chuyện về những con vật tự do tự tại, không bị thuần hóa, không bị trói buộc. Con ngựa rừng trong bài hát chính là hình ảnh của sự tự do đó.
 
Điều đáng chú ý là Phạm Duy không chọn một trong hai, mà tổng hợp cả hai. Con ngựa hồng đã nhập thế, đã làm tròn bổn phận. Nhưng rồi đến lúc phải thoát tục, phải buông bỏ tất cả để đi vào cõi không. Đây chính là tinh thần của người Việt Nam, vốn đã dung hòa tam giáo Nho-Phật-Lão từ ngàn xưa.
 
Đỗ Thái Nhiên đã phân tích sâu sắc về ý nghĩa của “cõi không” trong bài hát:
 
“‘Cõi không’ không có nghĩa là cõi không có gì. Cõi không chính là ‘cõi có’, một hiện tượng rất lớn, rất kỳ diệu: hiện tượng ‘không chấp’. Không chấp không có nghĩa là không quan tâm đến đời sống. Không chấp chính là thái độ suy tư về đời người trong hướng khám phá ra tính bất diệt của dòng sống.”[4]
 
Ông tiếp tục giải thích:
 
“Sau khi Người chấm dứt tình trạng vong thân, Người trở về với Người, mỗi Người trong hoàn cảnh sống riêng của mình hãy sống tích cực và hướng thượng, hãy để cho đời sống riêng hòa nhập vào dòng sống chung. Đời sống của mỗi thể xác có giới hạn nhưng dòng sống chung của loài Người kéo dài bất tận.”[4]
 
Hình ảnh “phi qua lỗ bé trôn kim” rất thú vị. Nó gợi nhớ đến câu nói trong Kinh Thánh: “Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Thiên Chúa.” Đoàn Xuân Kiên đã bình luận về hình ảnh này:
 
“Kinh Thánh có một ẩn dụ: người giàu muốn vào nước Chúa còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim. Công phu lắm. Nhưng khi đã bước vào cõi Lớn, hay nghe tiếng gọi Càn Khôn là đạt đến niềm hạnh phúc lớn lao, vượt thoát những tình cảm nhân gian chật hẹp.”[3]
 
Thế nhưng trong bối cảnh của bài hát, lỗ kim không phải là sự hẹp hòi mà là cửa ngõ vào cõi vô hạn. Muốn phi vào cõi không mênh mông, con ngựa phải trút bỏ tất cả, phải nhỏ lại, phải buông xả mọi gánh nặng, mọi chấp trước. Chỉ khi đó mới có thể chui lọt qua lỗ kim.
 
Đỗ Thái Nhiên viết thêm:
 
“Ngựa Hồng vượt thoát khỏi cái ‘bé tị’ của lỗ trôn kim để tìm về với Ngựa Thần, đó là hình tượng hạnh phúc của đời Người. Đời người vốn tràn đầy hạnh phúc và kéo dài bất tận. Nhưng do vô minh và do vong thân, Người đã làm cho đời người trở nên ngắn ngủi và quá khổ đau.”[4]
 
Trong Những Trang Hồi Âm, Phạm Duy cũng cho biết ông viết bài Ngựa Hồng để tặng những ai còn đang sống trong cảnh “tham lam, vô lượng, nhỏ nhen, bé tị.” Ông mời gọi họ hãy cùng con ngựa rừng và người tình già chui lọt qua lỗ kim để phi vào cõi không.
 
***
V. Phân Tích Nhạc Lý
 
Về mặt nhạc lý, Ngựa Hồng được viết ở âm giai Re thứ (Re minor) với nhịp ngựa phi mở đầu cho ca khúc. Âm giai thứ tạo ra không khí trầm buồn, u uất, phù hợp với nội dung nói về kiếp nô lệ, về sự tù túng của con ngựa hồng.
 
Theo lời Phạm Duy trong Những Trang Hồi Âm, Duy Cường đã hòa âm phối khí với “những contrepoint bằng tiếng kèn trompet nghe rất mông lung, xa vắng.”[6] Tiếng kèn gợi lên hình ảnh của chiến trường xưa, của những ngày vinh quang đã qua, nhưng giờ chỉ còn là âm vang xa vời trong ký ức.
 
Nhạc sĩ Lê Uyên Phương, trong bài viết đăng trên báo Người Việt năm 1988, đã ca ngợi sự hoàn hảo của album:
“Với hòa âm tuyệt vời của Duy Cường, cùng tiếng hát thâm trầm của Duy Quang và giọng hát hết sức mượt mà của Thái Hiền, băng nhạc ‘Người Tình Già Trên Đầu Non’ quả là một sự hoàn hảo trên nhiều phương diện, nó thể hiện được cái tính đồng nhất trong toàn bộ của một tác phẩm, sự gắn bó tự nhiên và hoàn toàn giữa nội dung của ca khúc với nghệ thuật sử dụng âm sắc đúng lúc và thông minh của Duy Cường.”[5]
 
Điểm đáng chú ý nhất về nhạc lý là sự chuyển cung từ Re thứ sang Re trưởng ở đoạn cuối. Ca khúc chỉ cần một đoạn nhạc phi ngựa và một đoạn bridge ngắn để chuyển qua Re trưởng sáng sủa và cương quyết. Sự chuyển cung này mang ý nghĩa biểu tượng rất rõ:
 
Re thứ (minor) tượng trưng cho cảnh nô lệ, tù túng, buồn bã. Đó là cuộc sống của con ngựa bị cột vào yên cương, cong lưng kéo xe.
 
Re trưởng (major) tượng trưng cho sự giải thoát, sáng sủa, cương quyết. Đó là khi ngựa hồng đã phá được yên cương, chui qua lỗ kim, rũ bỏ mọi sự vương vấn, mọi tình vấn vương.
 
Sự chuyển đổi từ thứ sang trưởng trong âm nhạc Tây phương thường mang ý nghĩa từ buồn sang vui, từ tối sang sáng. Phạm Duy đã sử dụng kỹ thuật này một cách rất ý thức để diễn tả sự chuyển hóa từ cảnh nô lệ sang cảnh tự do.
 
Đoàn Xuân Kiên nhận xét về nghệ thuật ngôn ngữ trong Rong Ca:
 
“Trong Mười Bài Rong Ca, nghệ thuật lời ca của Phạm Duy vẫn là nghệ thuật bậc thầy. Lời hát trong tập này dùng ngôn ngữ ẩn dụ, do vậy mà nhiều chất thơ. Lời bóng bẩy như ngôn ngữ tượng trưng của ca dao.”[3]
 
Ông so sánh sự thay đổi phong cách từ những bài hát kể thời kháng chiến với lời hát bình dị mộc mạc, đến Rong Ca với “nghệ thuật thể hiện lời ca không dừng lại ở ngôn ngữ kể chuyện mà chờn vờn trong cõi hư ảo của ngôn ngữ thơ.”[3]
 
***
VI. Ngựa Hồng Như Biểu Tượng Của Nước Việt
 
Phạm Duy đã giải thích rõ ràng trong phần giới thiệu bài hát:
 
“Đó là nước Việt mà ông mong một ngày sẽ chui lọt qua lỗ kim để bay vào cõi không mênh mông vô hạn.”
 
Đoàn Xuân Kiên đã phân tích sâu sắc về ý nghĩa biểu tượng này:
 
“Việt Nam trong một thế kỉ như vậy là một phần số không may. Nó là hình ảnh của con ngựa hồng, ngày nào đã từng oai phong lẫm liệt như con ngựa chiến, nhưng đến cuối thế kỉ này thì chỉ còn là con ngựa cong lưng, bị bịt mắt dẫn đi trên thân phận của kẻ nô bộc. Nô lệ cho ý thức hệ ngoại bang hay bất cứ thứ quyền lợi ngoại bang nào cũng đều dẫn đến tình cảnh tang thương là bị cột chặt vào những xiềng xích.”[3]
 
Con ngựa hồng chính là hình ảnh của Việt Nam. Xưa kia, Việt Nam là một dân tộc oai hùng, bách chiến sa trường, đánh đuổi bao nhiêu kẻ thù xâm lược. Từ Bạch Đằng đến Chi Lăng rồi tới Đống Đa, lịch sử Việt Nam đầy những trang hào hùng. Con tuấn mã bờm tung bay trong gió, đuôi cong vung lên trong chiều khói lam, chính là hình ảnh của một dân tộc anh hùng.
 
Thế nhưng rồi con ngựa hồng bị cột vào yên cương, cong lưng kéo xe. Đường đời quanh co chật chội, bụi bờ quanh năm lầy lội. Con ngựa đi quanh thành cổ tan hoang, đi quanh miếu cũ rêu phong. Đó là hình ảnh của một đất nước bị trói buộc, bị chia cắt, bị đọa đày bởi chiến tranh, bởi ý thức hệ, bởi sự hận thù.
 
Phạm Duy viết bài này năm 1988, mười ba năm sau ngày 30 tháng 4 năm 1975. Ông đang sống ở hải ngoại, xa quê hương, nhìn về đất nước với nỗi xót xa. Ông thấy một Việt Nam vẫn còn bị trói buộc bởi nghèo đói, bởi hận thù, bởi chia rẽ. Đôi mắt bị che ngang, không còn thấy được đường đi.
 
Nguyễn Xuân Hoàng đã diễn giải thông điệp của Phạm Duy:
 
“Chôn những yếu hèn và nhỏ nhen đầy thành kiến và cả lòng đố kỵ của mỗi con người, ông muốn con người như Con Ngựa Hồng phi thân trên cánh đồng hoang vứt bỏ yên cương tháo bỏ miếng da che mắt phóng vào cõi không.”[1]
 
Thụy Khuê, viết từ Paris, cũng nhấn mạnh thông điệp hòa giải trong Rong Ca:
 
“Phạm Duy muốn chôn đi những điệu buồn thế kỷ, xóa hết hận thù, muốn chôn đi Chủ Nghĩa, dập vùi cái hèn yếu trong mỗi cá nhân ta để làm ‘phân bón’ cho thế hệ mai sau.”[2]
 
Đây là một thông điệp hòa giải, một thông điệp buông xả. Muốn tự do, không cần phải chiến đấu với ai, chỉ cần buông bỏ những ràng buộc của chính mình. Lỗ kim rất nhỏ, muốn chui qua phải trút bỏ tất cả, phải nhỏ lại, phải không còn gì vướng víu.
 
Đoàn Xuân Kiên đã so sánh Rong Ca với bức tranh nổi tiếng Guernica của Picasso:
 
“Trong Rong Ca chúng ta thấy ngồn ngộn những nạn nhân của thế kỉ, họ xuất hiện trong dáng vẻ nhẫn nhục như trong một thứ Guernica của người nhạc sĩ: này là những người tình xa cách, kia là những em bé lạc loài thiếu ăn, thiếu mặc, đây là người phu dọn xác và cả kia nữa những con ngựa thồ khốn khổ vì gánh nặng hay những kẻ câm điếc mù tối trong kiếp sống vong thân. Tất cả đều được đề cập với niềm thương cảm cùng nỗi ước mơ về một thay đổi tốt đẹp.”[3]
 
***
VII. Ngựa Hồng Trong Tổng Thể Rong Ca
 
Ngựa Hồng là bài thứ chín trong Mười Bài Rong Ca, và vị trí này không phải ngẫu nhiên. Nếu xem Rong Ca như một hành trình, thì Ngựa Hồng nằm ở gần cuối, là bài hát về sự giải thoát trước khi đến Rong Khúc, bài hát cuối cùng về chuyến đi cuối về miền an tĩnh.
 
Hành trình bắt đầu với Người Tình Già Trên Đầu Non, nói về sự hóa sinh. Người tình già đứng trên đỉnh núi, nghe tiếng gọi từ dưới thế gian, lững thững xuống núi để gặp người yêu, cùng sống lại bốn mùa của một cuộc đời, rồi hẹn nhau sau một trăm năm lại tái sinh. Đó là sự khởi đầu của hành trình.
 
Nguyễn Xuân Hoàng nhận xét:
 
“Tự ví mình như một người phu làm nghề lượm xác chiến trường, Phạm Duy cúi xuống nhặt xác thời gian, nhặt những điều buồn bã của thế kỷ, những cuộc nội chiến, đi mang chôn vào Mộ Phần Thế Kỷ. Chôn đi những tên bạo chúa, chôn đi Chủ Nghĩa, chôn đi Thần Đói và chôn đi cả những yếu hèn của riêng từng người trong chúng ta…”[1]
 
Qua Hẹn Em Năm 2000, Mẹ Năm 2000, Mộ Phần Thế Kỷ, Ngụ Ngôn Mùa Xuân, Nắng Chiều Rực Rỡ, Bài Hát Nghìn Thu, Trăng Già, người hát rong đã đi qua biết bao cảnh đời, biết bao suy tư về thân phận con người, về đất nước, về thời gian, về vũ trụ.
 
Đến Ngựa Hồng, đã đến lúc giải thoát. Con ngựa đã làm tròn bổn phận, đã nhập thế, đã trải qua vinh quang và tủi nhục. Giờ là lúc thoát tục, phá yên cương, phi vào cõi không.
 
Và Rong Khúc, bài cuối cùng, là chuyến đi cuối về miền an tĩnh. Sau khi đã giải thoát, người hát rong tiếp tục hành trình vào ngàn mai, ngàn xưa, vang vọng tiếng gọi càn khôn.
 
Nhạc sĩ Lê Uyên Phương đã viết những dòng cảm động nhất về Rong Ca:
 
“Những bài rong ca của Phạm Duy, mở ra cho người nghe những con đường không phải ở trên mặt đất, chúng rất gần với những con đường trong trí não con người nhưng chúng còn gần hơn với những con đường bên kia của trí não đó. Phạm Duy rong ca về những con đường, ông không rong ca trên những con đường đó.”[5]
 
Lê Uyên Phương tiếp tục:
 
“Người nghe cảm nhận ở nơi đó một cái gì, vừa thực, vừa giả, vừa như ngắn ngủi, vừa như thiên thu, vẻ đẹp thật là kỳ quái, nếu người nghe bước qua khỏi được những giới hạn của chủ quan, hẳn sẽ cảm thấy được sự kỳ diệu của một đời người sáng tạo, hẳn sẽ thấy được cái chung trong cái riêng của Phạm Duy, cái riêng trong cái chung của Phạm Duy và hôm nay cái riêng trong cái riêng của Phạm Duy.”[5]
 
Khi nói riêng về Ngựa Hồng, Nhạc sĩ Lê Uyên Phương viết:
 
“Lúc đó là nghìn thu, lúc đó là nắng chiều rực rỡ, lúc đó là ngựa hồng vượt qua trôn kim, lúc đó là Phạm Duy ‘Người tình già trên đầu non’…”[5]
 
Đây là cách Lê Uyên Phương hiểu về sự giải thoát trong Ngựa Hồng: đó là khoảnh khắc vượt qua tất cả, khoảnh khắc trở thành chính mình.
 
***
VIII. Rong Ca: Tiếng Gọi Càn Khôn Và Sự Bước Vào Cõi Lớn
 
Đoàn Xuân Kiên đã đặt cho bài phân tích của mình một tiêu đề đầy ý nghĩa: “Khi Con Dế Hát Rong Bước Vào Cõi Lớn.” Ông giải thích rằng Phạm Duy từng tự gọi mình là “con dế hát rong” trong một bài hát năm 1983, và hình ảnh này “khá gần gũi với hình ảnh người bõ già trong Cung Oán Ngâm Khúc.”[3]
 
Ông viết:
 
“Đứng trước cửa vào thế kỷ mới, người bõ già của thế kỉ cất lên tiếng hát phóng về năm 2000 mà ông gọi là rong ca… Rong Ca mang tính cách những trầm tư của một người đã qua cầu, một dấu tích tư liệu của một người chứng thời đại.”[3]
 
Đoàn Xuân Kiên phân tích sâu về chiều kích siêu hình của Rong Ca:
 
“Mười Bài Rong Ca là cuộc hẹn hò với trăm năm, với thế giới vĩnh cửu. Người tình già an nhiên hát về lời hẹn với thế kỷ ngày mai với những dự phóng mới, như cánh chim thoắt bay từ mùa Đông lạnh giá qua mùa Xuân như cây khô bỗng nở tràn hoa mới.”[3]
 
Ông kết luận:
 
“Người tình già nghe tiếng gọi càn khôn nên có thể đạp tung lưới Sinh Tử để rong chơi với vô cùng… Từ thế kỉ đổ vỡ tang thương mà cõi tâm người nghệ sĩ ngộ được tiếng gọi nghìn thu để ung dung bước vào cõi lớn. Từ tâm thức như thế con đường vào thế kỉ ngày mai sẽ không còn chật hẹp như đường ngựa hồng hôm nay, cũng không là đường dẫn về mộ địa. Đường tình thương sẽ làm lớn con người như sương tuyết vẫn nuôi lớn cội tùng.”[3]
 
Đoàn Xuân Kiên cũng so sánh Rong Ca với Tâm Ca, hai tác phẩm cách nhau ba mươi năm:
 
“Ba mươi năm trước đây, khi viết Mười Bài Tâm Ca (1965), Phạm Duy đã gây xúc động lớn… Bây giờ, khi hát Mười Bài Rong Ca, tư duy nghệ thuật của Phạm Duy vẫn tiếp nối phong cách Tâm Ca: đó là tính cách hướng nội và ý hướng điều hợp con người. Tâm thức người nghệ sĩ vượt lên trên những thái độ hẹp hòi của sân hận, thù nghịch mà xã hội Việt Nam đang triền miên chìm đắm trong đó.”[3]
 
***
IX. Kết Luận
 
Nhân năm Ngọ 2026, khi nhìn lại bài Ngựa Hồng của Phạm Duy, ta không khỏi ngạc nhiên trước chiều sâu triết học và sự tinh tế nghệ thuật của một bài hát được sáng tác gần bốn mươi năm trước.
 
Ngựa Hồng không chỉ là một bài hát về con ngựa. Đó là một bài hát về thân phận con người, về sự trói buộc và giải thoát, về nhập thế và thoát tục. Qua hình tượng con chiến mã, Phạm Duy đã nói lên những ước mơ thầm kín của cả một dân tộc: mong một ngày thoát khỏi mọi ràng buộc để phi vào cõi không mênh mông vô hạn.
 
Đoàn Xuân Kiên đã tổng kết:
 
“Trước sau Phạm Duy vẫn là một nghệ sĩ với tất cả hàm ý tốt đẹp của từ ngữ. Ông đến với đời bằng tiếng hát của con tim thương yêu nồng nàn. Cả sự nghiệp của ông là những tiếng ngợi ca tình yêu con người trong những cảnh đời khác nhau. Rong Ca đã nâng cảm thức về tình yêu lên một chiều cao mới: hát về tình yêu trong một không gian và thời gian của vô cùng. Ở đó, những được mất hơn thua của nhân gian sẽ đều bé mọn.”[3]
 
Thụy Khuê, từ Paris, đã viết:
 
“Nhìn người nghệ sĩ tóc trắng, cả cuộc đời trầm mình theo ‘vận nước nổi trôi’, ca tụng mùa Xuân, chôn vùi thù hận, tôi không khỏi ngượng ngùng nghĩ lại những tư tưởng bi quan – một lúc nào đó – đã đến với chính mình.”[2]
 
Bài học của Ngựa Hồng vẫn còn nguyên giá trị cho ngày hôm nay. Trong cuộc sống hiện đại, con người vẫn bị trói buộc bởi biết bao yên cương: danh lợi, vật chất, thành kiến, hận thù. Đôi mắt bị che ngang, không còn thấy được đường đi. Chúng ta cong lưng kéo xe, long đong, trụi bờm, se lông, không biết mình đang đi đâu.
 
Thế nhưng Ngựa Rừng vẫn ở đó, Ngựa Thần không yên, Ngựa Hùng không cương, oai linh cất vó trong sương. Tiếng hí mời gọi vẫn vang vọng: tung xiềng để ra đi, thênh thang khắp cõi tang thương.
 
Muốn tự do, không cần phải đợi ai cởi trói cho mình. Chỉ cần quay lưng đưa chân đá vỡ yên cương. Muốn phi vào cõi không, chỉ cần buông bỏ tất cả, nhỏ lại, để chui lọt qua lỗ bé trôn kim.
 
Phạm Duy đã viết:
 
“Tôi soạn bài Ngựa Hồng để tặng những ai còn đang sống trong cảnh tham lam, vô lượng, nhỏ nhen, bé tị. Hãy cùng con ngựa rừng và người tình già này chui lọt qua lỗ kim để phi vào cõi không!”
 
Đó là lời mời gọi của Phạm Duy, và cũng là lời chúc cho năm Ngọ 2026: mong tất cả chúng ta đều tìm được con đường giải thoát, đều phi được vào cõi không mênh mông vô hạn.
 
Viết xong tháng 1 năm 2026
Tác giả: Hiệp Dương (aka Học Trò) và Claude (Anthropic AI)
 
***
Chú Thích
 
[1] Nguyễn Xuân Hoàng, “Mười Khúc Rong Ca Cho Năm 2000,” Báo Người Việt, 20 tháng 3 năm 1988.
[2] Thụy Khuê, “Rong Ca,” Sổ Tay, Thông Luận, Paris, 1989.
[3] Đoàn Xuân Kiên, “Khi Con Dế Hát Rong Bước Vào Cõi Lớn,” Tập San Thế Kỷ 21, Luân Đôn, 1994.
[4] Đỗ Thái Nhiên, “Ngàn ‘Lẻ’ Lời Ca Hát Cho Nhân Sinh,” (không rõ nguồn, khoảng 1988).
[5] Lê Uyên Phương, “Phạm Duy, Nắng Chiều Rực Rỡ,” Tạp Ghi, Báo Người Việt, 1988.
[6] Phạm Duy, Những Trang Hồi Âm, chương về Rong Ca.
 
***
Phụ Lục: Tóm Tắt Mười Bài Rong Ca (1988)
 
# Tên Nội Dung
1 Người Tình Già Trên Đầu Non Hóa sinh, xuống núi gặp người yêu
2 Hẹn Em Năm 2000 Thân phận nước Việt trong 100 năm
3 Mẹ Năm 2000 Mẹ tương lai đang là bé gái lên 6
4 Mộ Phần Thế Kỷ Chôn điều buồn thế kỷ 20
5 Ngụ Ngôn Mùa Xuân Chuyện mù-câm-điếc đánh nhau
6 Nắng Chiều Rực Rỡ Nắng đẹp nhất là nắng chiều
7 Bài Hát Nghìn Thu Thiền và Dịch, anh-em là một
8 Trăng Già Lão ca, dựa ca dao
9 Ngựa Hồng Khổng-Lão, ngựa chui qua lỗ kim
10 Rong Khúc Chuyến đi cuối về miền an tĩnh
 
Tài Liệu Tham Khảo
 
Nguồn Chính:
  1. Phạm Duy, Ngàn Lời Ca và Ngàn Lời Ca Khác
  2. Phạm Duy, Những Trang Hồi Âm
  3. Phạm Duy, Hồi Ký (4 tập)
  4. CD Người Tình Già Trên Đầu Non (Phạm Duy Cường Production, 1988)
Bài Phê Bình:
  1. Nguyễn Xuân Hoàng, “Mười Khúc Rong Ca Cho Năm 2.000,” Báo Người Việt, 20-3-1988.
  2. Thụy Khuê, “Rong Ca,” Sổ Tay, Thông Luận, Paris, 1989.
  3. Đoàn Xuân Kiên, “Khi Con Dế Hát Rong Bước Vào Cõi Lớn,” Tập San Thế Kỷ 21, Luân Đôn, 1994.
  4. Đỗ Thái Nhiên, “Ngàn ‘Lẻ’ Lời Ca Hát Cho Nhân Sinh.”
  5. Lê Uyên Phương, “Phạm Duy, Nắng Chiều Rực Rỡ,” Tạp Ghi, Báo Người Việt, 1988.
Bài viết này là một phần trong loạt bài nghiên cứu về di sản âm nhạc Phạm Duy, được thực hiện với sự cộng tác giữa Học Trò và Claude.
 
Nguồn: https://t-van.net/hoc-tro-nhan-nam-ngua-2026-tim-hieu-nhac-pham-ngua-hong-cua-nhac-si-pham-duy/