
Giai Đoạn Lão Hóa & Chuyển Động Thế Kỷ (2001-2015)
[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 134-208]
* [Ghi chú: – Trong những phân đoạn của chương II “Các giai đoạn sinh hoạt và phát triển” của Quyển Thượng (Tổng quan), các tác giả và tác phẩm mà chúng tôi giới thiệu chỉ là một phần, vì sẽ còn được phân tích, nhận định trong các chương khác cùng Quyển (như Chương III: Nội dung, thể loại và hiện tượng) hoặc được nhận định một cách đầy đủ hơn trong các Quyển Trung và Hạ (160 tác giả).
– Về biên khảo, tiếu luận và phê bình sẽ được tập trung ghi nhận trong Chương III: Nội dung, thể loại và hiện tượng.
*
Đến đầu thiên niên kỷ thứ Ba và thế kỷ mới XXI, sinh mệnh văn học hải ngoại cũng bước vào một giai đoạn mới chuyển động thế kỷ và lão hoá sau khi đã trải qua những giai đoạn di tản và lưu vong, tị nạn chính trị, hy vọng và hợp lưu và giai đoạn hoài niệm 25 năm trước đó. Văn học hải ngoại chuyển động theo lẽ tự nhiên lão hoá và bất ngờ, bởi nhân tố từ trong nước ra nhập cộng đồng hải ngoại, nhân tố này khác hẳn với lớp cũ. Tuy nhiên đa số vẫn là tập thể tị nạn cùng con cháu họ và nói chung mang cùng tâm thức.
Từ những năm đầu thế kỷ XXI, sinh hoạt văn-chương hải-ngoại như đã theo dòng sinh hoại mà trở nên trầm lắng, rất ít biến cố và tác-phẩm đáng kể. Các nhà văn thơ đã nổi tiếng từ trước 1975 lần lượt ngưng viết, hoặc qua đời. Những nhà văn lớp tiếp theo cũng thay nhau buông bút nhưng cũng có nhiều người tiếp tục sáng-tác dù không gây tiếng vang quan-trọng. Vào những năm cuối giai đoạn xuất hiện “hiện tượng” nhà văn thơ dễ dàng và dễ dãi xuất bản qua không gian internet và phát hành / in theo lối tối thiểu không nộp bản cũng không ra mắt sách.
Điểm đặc biệt đáng ghi nhận là từ vài năm ngay trước và nhất là từ giai đoạn này, nội dung của từ “lưu vong” bớt được dùng (làm như bớt bi thảm, cũng có nghĩa sự bi thảm nhẹ đi!), nhà văn nhà thơ hải ngoại nói đến quê nhà nhiều hơn, theo nghĩa gặp lại hơn chỉ là nhớ lại – nghĩa là có hy vọng theo 2 nghĩa: trong nước nới lỏng kiểm soát di chuyển, thăm viếng và du lịch đối với người Việt hải ngoại về, và nhà văn thơ hải ngoại có thể nói đến quê-nhà nhiều hơn, theo nghĩa, gặp lại hơn chỉ là nhớ lại! Nhưng cũng có những người sợ guồng máy đảng cộng-sản làm khó khi ‘hồi hương’ đã ngưng hoặc chuyển đổi lối viết: “quê hương” đã mất, nay có kẻ tìm lại, thấy lại, và “người xưa”, “cảnh cũ” nay thêm hồi kết như những chuyện phong thần hoặc “diễm tình”!
Một số nhà văn tị nạn đã hồi hương và đã tiếp xúc với thực tại mới trong nước; một số liên hệ văn học (văn và người) đã khó khăn nay dần dà thành hình. Nhiều nhà văn đã thành công vượt thoát những cái nhãn hiệu hoặc kìm hãm các giai đoạn trước đó nhưng nói chung, ở hải ngoại, văn chương vẫn lưu đày, hoài niệm, và lúc nào cũng tự do, chân thật hơn!
Ở đây ghi lại một số tác giả và công trình mới cũng như tiếp nối. Trước hết chúng tôi ghi lại hai đặc điểm riêng của giai đoạn này, đó là việc chuẩn bị và chào đón thiên niên kỷ mới qua sách nghị luận và báo chí.
Nhìn lại thế kỷ vừa qua đi và để chuẩn bị năm 2001 cùng thiên niên kỷ mới, Đặng Phùng Quân soạn Hành Trạng Tư Tưởng Giữa Hai Thế Kỷ (Chủ Đề, 2002) và Phê Phán Hệ Tư Tưởng Mác Xít (2002). Trong cuốn đầu, sau khi nhìn lại những thành quả và thay đổi cho văn chương và triết học, ông nêu cơ sở cho “phê bình luận vị lai” (“Thế giới dàn trải trước mặt không phải là một cảnh tượng mà là một văn bản để khai phá và sao chép” và các nhà tư tưởng, phê bình văn chương đều “mơ trở thành một nhà địa chí ở khởi điểm một tìm kiếm sau cùng không phải trên những cá thể mà trên tổng thể của một vũ trụ gọi tên là Cộng Hoà Văn chương”, tr. 33), đặt nghi vấn về sự “khả hữu” của tiểu thuyết và xác tín rằng nhà văn sử dụng chữ – khác với nhà tu dùng lời và nhà chính trị dùng chữ qua người khác (tr. 54). Ở cuốn sau, ông phê phán tư tưởng Mác Xít đã đến và phải ra đi như thế nào.
Nguyễn Nam Châu của thời tạp chí Đại Học (Huế) giữa thập niên 1950, trước khi mất, đã viết Karl Marx, Con Đường Huyễn Hoặc (2003), với kết luận: “Chủ nghĩa Cộng sản không thể nào thực hiện được, dù người ta muốn sửa đổi, chỉnh đốn, bổ túc hay xoay sở làm sao đi nữa, bởi vì lý thuyết Mác xít đã sai lầm từ căn bản tri-hệ-thức của nó. Sai lầm trên mọi phương diện triết học, nhân sinh, xã hội, kinh tế và văn hoá …” và ông “ước mong rằng một ngày không xa, chế độ Cộng sản sẽ hoàn toàn tan rã trên toàn thế giới” (tr. 351, 365).
Nghĩa là cả hai ông đều loại bỏ chủ nghĩa huyễn hoặc Mác Xít ra khỏi toàn diện cuộc sống của con người hôm nay và ngày mai!

Nếu bên sáng tác, Hà Thúc Sinh đã nhìn lại sự nghiệp làm cuộc Tống Biệt Hai Mươi (Xuân Thu, 1999), thì bên báo chí, tờ Việt ở Úc đã khởi động cho cuộc vận hội mới từ hơn 2 năm trước đó và tạp chí Chủ Đề ở Hoa Kỳ tiếp nối về chủ đích dự phóng văn học mới. Dọn đường thì không thể không nói đến tờ nguyệt san Thế Kỷ 21 của công ty Người Việt Inc. ở Quận Cam California. Thế-Kỷ 21 ở 12 năm trước đã sớm nhắm thế kỷ XXI sẽ tới nhưng nhiều mục đích làm báo hơn và vẫn dựa nhiều vào quá khứ, nhân sự tự thỏa mãn và cộng tác viên víu thân thế, đã không thực sự tham gia việc chuyển đổi văn hoá. Việt ban biên tập không hoặc ít quá khứ, nhưng còn vịn những cây cổ thụ. Chủ Đề ít bám thời cũ, người xưa, nhưng không được ủng hộ với hình thức báo giấy, trong khi đó dù không toàn diện, Da Màu đến sau sẽ đi xa với không gian siêu mạng.
Cũng từ những năm đầu thế kỷ mới, một số tạp chí hải ngoại dấn thân vào những miền đất mới, taboo, hoang, lạ, tinh thần khai phóng nhưng nhân bản, tự nhiên – vốn là kỵ tránh trước đó của văn chương, xã hội. Như trường hợp Hợp Lưu sau khi bứt lằn ranh chính trị và giải phóng đề tài cùng hiện thực ngôn ngữ văn chương, mở cửa tính dục và nữ quyền, khi muốn đi xa hơn với chủ đề “Văn Chương Da Màu: Bước Rẽ của Văn Chương Hoa Kỳ” đáng lẽ đi trên Hợp Lưu số 84 đã phải di dời sang Thế Kỷ 21 số 198 tháng 10-2005 thành chủ đề “Màu da và Ngôn ngữ: Văn chương di dân Việt trong bối cảnh Hoa Kỳ” do Đặng Thơ Thơ và Nguyễn Hương thực hiện, v.v. Trang mạng Da Màu bắt ngọn từ đó và nay đã trở thành diễn đàn văn chương nghệ thuật đáng kể dù vẫn bị vài thế lực chính trị hoặc thanh giáo phá hoại.
Các tạp chí thuần túy văn chương góp phần làm trưởng thành văn-học hải-ngoại nhưng rồi các tạp chí này không sống lâu vì với thời gian bắt đầu dần chết theo đà lão hoá của cộng đồng và giới trí thức (người đọc, người viết đều lớn tuổi, bệnh tật, chết; tuổi trẻ tiếp nối rất ít hoặc hội nhập dòng chính Âu Mỹ). Các tạp chí văn chương thì lâm vào khủng hoảng thứ nữa vì hình như tinh thần gìn giữ văn-học truyền thống, dân-tộc, dần mất ý nghĩa và sự cấp thiết, và cuối cùng, tiến bộ của kỹ thuật thông tin với mạng lưới Internet lớn mạnh khiến khó có bài vở độc đáo cho báo giấy và độc giả cũng như các nhà văn nhà thơ hội nhập theo. Các tạp chí văn học, nghị luận, tư tưởng lần lượt đình bản: Làng Văn, Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Định Hướng, Truyền Thông, Hợp Lưu,… Ngoài ra, đã có những cố gắng đẹp của một số đàn anh hy vọng chuyển lửa văn hoá cho thế hệ sau, với các tạp-chí như Dòng Việt, Văn Lang, Vietnamologica, Việt Học, v.v., nhưng theo thiển ý giữa các thế hệ này đã có sự bất cảm thông, văn hoá dị biệt giữa các thế hệ. Mục tiêu đẹp nhưng thực tế không dễ. Lý do vì thiếu trầm trọng các uy tín thật về văn hoá, giáo dục, cũng như sự khắng khít giữa các thế hệ nghiên cứu.
*
Thời này, thơ văn vẫn mạnh về số lượng nhưng không nhiều mới lạ thôi thúc người đọc khám phá và chưa đủ để làm sống động sinh hoạt văn học như trước. Thơ vẫn là bộ môn có nhiều ấn phẩm nhất nhưng từ nay phần lớn để tặng bạn bè và gia đình hoặc giới thiệu qua các buổi ra mắt sách. Trong số có thể ghi nhận Viên Linh, Hải Phương, Huy Phương, Nguyễn Nam An, Đức Phổ, Vinh Hồ, Hoa Văn, Trần Mộng Tú, Ngô Tịnh Yên, Lê Hân, Lê Giang Trần, Trần Phù Thế, Phạm Hồng Ân,… có tác phẩm mới.
Thơ phong phú về lượng ở thế hệ người Việt hải ngoại thứ nhất, rồi dần yếu đi – phải chăng đã đủ chứng tích, hay ý chí sáng tạo thơ muôn đời đã bớt hoặc hết còn thôi thúc?
Cách chung, các nhà thơ Hoàng Anh Tuấn, Mai Trung Tĩnh, Vương Đức Lệ,… cũng cho xuất-bản tác-phẩm làm thời còn ở trong nước sau 1975 và khi ra được hải-ngoại:
Vương Đức Lệ ( 15-11-1937 – 20-1-2008). Thơ Tình Vương Đức Lệ (“mấy vần thơ còn sót lại trong trí nhớ”, Tiếng Quê Hương, 2002), thơ cho đến những ngày trọng bệnh:
“Tử thần bắt hụt ta lần nữa.
Bạn mới mừng chung khóa nỗi vui.
Bạn cũ buồn riêng ly rượu phạt.
Ôm vai bá cổ ngẩn ngơ cười!
Đã mấy lần rồi tai giả điếc.
Tử thần lay gọi mãi, không nghe!
Bởi còn lưu luyến duyên phàm tục.
Mãi đợi người xưa lạc lối về…”.
Bạn mới mừng chung khóa nỗi vui.
Bạn cũ buồn riêng ly rượu phạt.
Ôm vai bá cổ ngẩn ngơ cười!
Đã mấy lần rồi tai giả điếc.
Tử thần lay gọi mãi, không nghe!
Bởi còn lưu luyến duyên phàm tục.
Mãi đợi người xưa lạc lối về…”.
Tâm ông bình thản chờ đợi con tàu vô hình đưa ông vào cõi vô minh:
“Bàn tay nào vuốt mắt tôi.
Ngón nào bấm nút châm mồi hỏa thiêu?
Trăm năm mộng ước còn nhiều.
Trần gian nào dễ đủ điều nỉ non.
Ngón nào bấm nút châm mồi hỏa thiêu?
Trăm năm mộng ước còn nhiều.
Trần gian nào dễ đủ điều nỉ non.
Tử sinh nẻo thuộc đường mòn.
Âm dương đôi ngả vuông tròn đó thôi!
«Ta sinh từ đất, mai về đất
Bỏ lại sau lưng nỗi muộn phiền
Bỏ lại sau lưng nỗi muộn phiền
Còn chút niềm vui ta đã mất
Ai người nhặt được giữ thầm riêng
Ta sinh từ đất, mai về đất
Bỏ lại sau lưng nỗi nhục nhằn
Còn những ngày không ai sẽ cất
Cất rồi có giấu được ăn năn
Ta sinh từ đất, mai về đất
Bỏ lại sau lưng chút nợ nần
Người sẽ cùng ta rồi cũng khuất
Hỏi thầm đáy huyệt gặp nhau không?” (Mai Về Đất)
Mai Trung Tĩnh Thơ Mai Trung Tĩnh (Tiếng Quê Hương, 2001). Bài Trong Trại Cải Tạo ông ghi lại sự mong đợi khó đến của một chuyến tàu hoả xuôi Nam, như anh chàng Mô-rĩt trong truyện Giờ Thứ 25 của C.V. Gheorghiu:
“Bỗng dưng vẳng tiếng não lòng
Tai nghe tàu gọi mà không thấy tàu
Đến đây ngay tự buổi đầu
Chỉ mong một chuyến lên tàu về thôi.
Tai nghe tàu gọi mà không thấy tàu
Đến đây ngay tự buổi đầu
Chỉ mong một chuyến lên tàu về thôi.
Ta về như trở lại đời
Ta về tìm lại tiếng, hơi, gia đình
Ta về tìm lại chính mình
Ở đây chỉ gặp bóng hình của ai
Đêm là đêm của thở dài
Ngày là ngày của kẽm gai thân tù
Tàu đi rồi bỏ ta ư?
Đời ta chắc sẽ như “Giờ 25”
Thân tàn qua các trại giam
Thương chàng Mô- rít lầm than tháng ngày
Hôm nay còn ở nơi này
Ngày mai biết sẽ lưu đày nơi đâu?”
Hoàng Anh Tuấn với Yêu Em, Hà Nội Và Những Bài Thơ Khác (2004).
Cũng vậy, Tô Thùy Yên có Thắp Tạ (An Tiêm, 2005) và tái bản Tô Thùy Yên Tuyển Tập (Đức, 1994; 1995; tb Kẻ Sĩ, 2018). Trích phần đầu bài Ta Về, sáng tác khi ở trại “cải tạo” ra:
“Ta về – một bóng trên đường lớn
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao vẫn nghe đau mềm phế phủ
Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay
Thơ chẳng ai đề vạt áo phai
Sao vẫn nghe đau mềm phế phủ
Mười năm, đá cũng ngậm ngùi thay
Vĩnh biệt ta-mười-năm chết dấp
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt xạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ
Chốn rừng thiêng im tiếng nghìn thu
Mười năm mặt xạm soi khe nước
Ta hóa thân thành vượn cổ sơ
Ta về qua những truông cùng phá
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay
Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may
Ta ngẩn ngơ trông trời đất cũ
Nghe tàn cát bụi tháng năm bay
Chỉ có thế. Trời câm đất nín
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi đất bạc màu
Đời im lìm đóng váng xanh xao
Mười năm, thế giới già trông thấy
Đất bạc màu đi đất bạc màu
Ta về như bóng chim qua trễ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ
Cho vội vàng thêm gió cuối mùa
Ai đứng trông vời mây nước đó
Ngàn năm râu tóc bạc phơ phơ
Một đời được mấy điều mong ước
Núi lở sông bồi đã lắm khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi?
Núi lở sông bồi đã lắm khi
Lịch sử ngơi đi nhiều tiếng động
Mười năm, cổ lục đã ai ghi?
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng
Làng ta ngựa đá đã qua sông
Người đi như cá theo con nước
Trống ngũ liên nôn nả gióng mừng
Ta về như lá rơi về cội
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này
Bếp lửa nhân quần ấm tối nay
Chút rượu hồng đây xin rưới xuống
Giải oan cho cuộc biển dâu này
Ta khóc tạ ơn đời máu chảy
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức nghe buồn tận cõi xa
Ruột mềm như đá dưới chân ta
Mười năm chớp bể mưa nguồn đó
Người thức nghe buồn tận cõi xa
Ta về như hạt sương trên cỏ
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa, người ơi
Kết tụ sầu nhân thế chuyển dời
Bé bỏng cũng thì sinh, dị, diệt
Tội tình chi lắm nữa, người ơi
Quán dốc hơi thu lùa nỗi nhớ
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm, bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời
Mười năm người tỏ mặt nhau đây
Nước non ngàn dặm, bèo mây hỡi
Đành uống lưng thôi bát nước mời
Ta về như sợi tơ trời trắng
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài quãng vắng
Phải, ôi vàng đá nhắn quan san?
Chấp chới trôi buồn với nắng hanh
Ai gọi ai đi ngoài quãng vắng
Phải, ôi vàng đá nhắn quan san?
Lời thề truyền kiếp còn mang nặng
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta
Nên mắc tình đời cởi chẳng ra
Ta nhớ người xa ngoài nỗi nhớ
Mười năm ta vẫn cứ là ta
Ta về như tứ thơ xiêu tán
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ, mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền (…)
Trong cõi hoang đường trắng lãng quên
Nhà cũ, mừng còn nguyên mái, vách
Nhện giăng, khói ám, mối xông nền (…)
Phương Triều (Lê Huỳnh Hoàng, 2-6-1942, Sa Đéc – ) nhà báo, nhà giáo rồi sĩ quan QL/VNCH, định cư tại Hoa Kỳ năm 1994 và sáng tác thơ trở lại. Sau thi tuyển Thơ Phương Triều (Tình Thương, 1995) và Trăm Bài Thơ Xuân (2000) là hai thi tập Xóm Mộ (2001) và Giọt Sữa Đất (2002) – 3 tập sau đều do Lê Huỳnh ở Minnesota xuất bản. Ở Phương Triều, tiếng thơ và hồn thơ đa phần mang tính nam kỳ lục tỉnh, nhưng đã được phong cách hoá và nâng thành ngôn ngữ chung của con dân Việt – như trong bài Bóng Quế:
“Đêm ta về ma vẫn giả hình
Cõi sống chập chờn bóng quế lung linh
Nhiều em mặt giả và tên giả
Cười nói rân ran chuyện bất bình!
Cõi sống chập chờn bóng quế lung linh
Nhiều em mặt giả và tên giả
Cười nói rân ran chuyện bất bình!
Góc phố ông già say ngất ngưởng
Bên hè bà cụ ngồi thất kinh
Cớ sao ta tưởng ta đoàn tụ
Mà bóng đìu hiu cũng bóng mình?..”
Bên hè bà cụ ngồi thất kinh
Cớ sao ta tưởng ta đoàn tụ
Mà bóng đìu hiu cũng bóng mình?..”
Dĩ nhiên sông nước miền Tây luôn hiện diện trong thơ ông:
“Thương giọt phù sa như là sữa đất
Đêm quê nghèo mưa trắng lạnh Tiền giang…
Em thả tóc hương lài thơm gối mộng
Búp tay mềm với gọi giấc mơ tan
Đêm quê nghèo mưa trắng lạnh Tiền giang…
Em thả tóc hương lài thơm gối mộng
Búp tay mềm với gọi giấc mơ tan
Mùa ốc gạo anh còn đi xúc tép
Chiều Tân Hưng ngõ bướm rợp hoa vàng
Mai họp chợ Nha Mân xuồng ghé sớm
Em buổi chiều Rạch Rắn đợi anh sang!
Chiều Tân Hưng ngõ bướm rợp hoa vàng
Mai họp chợ Nha Mân xuồng ghé sớm
Em buổi chiều Rạch Rắn đợi anh sang!
Mấy nhỏ bạn miệt Nàng Hai, Xóm Cửi
Dặn mua giùm xoài tượng với dưa gang
Anh hái mận ra Cái Tàu đổi rẻ
Thêm chục xoài cát ngọt cúng trên trang!
Dặn mua giùm xoài tượng với dưa gang
Anh hái mận ra Cái Tàu đổi rẻ
Thêm chục xoài cát ngọt cúng trên trang!
Van vái được cưới em ngày mới lớn
Hạnh phúc đơm đầy hoa lá bình an
Đâu biết được mộng đau vùi giấc bướm
Nha Mân buồn Rạch Rắn đã sang ngang!
Hạnh phúc đơm đầy hoa lá bình an
Đâu biết được mộng đau vùi giấc bướm
Nha Mân buồn Rạch Rắn đã sang ngang!
Đêm trở lại ngậm ngùi trăng cố thổ
Bóng hình xưa bèo bọt giấc mơ tàn”
Bóng hình xưa bèo bọt giấc mơ tàn”
(Giọt Sữa Đất, GSĐ, tr. 5)
Du Tử Lê Vì Em, Tôi Đã Làm Sa Di (2001),… cho đến Tuyển Tập Thơ Du Tử Lê 1957-2015 (2015) và Em cho tôi mãi nhé: ấu thơ mình, 2016-2019, tuyển thơ do nhà Văn Học Press, Khi Gối Đầu Lên Ngực Em (HT Productions, 2016), hồi ký và truyện, và hai tập ký sự đã nói ở phần trước.
Hoa Văn tức Anh Hoa của văn-học miền Nam trước 1975, tên thật Ngô Văn Hoà (1932, Phú Thọ – ), định cư sau nhiều năm tù “cải tạo” tại Boston từ 1993, sáng tác và xuất bản đều đặn nhất ở hải ngoại: Thơ Và Thời Gian (Boston: Thăng Long, 2002), Tạ Ơn Đời (2005), Che Đời Mưa Bay (2008), Như Áng Mây Hồng (2010), Vạt Nắng Bên Đời (2012), Cõi Thơ Ta Ở Một Đời (2014), Gió Cuốn Mây Bay (2015). Tập Thơ và Thời Gian (Boston : Thăng Long, 2002) gồm thơ trước 1975 và thơ từ thời tị nạn ở Hoa-Kỳ, sau gián đoạn gần 20 năm điên đảo của đất nước. Bài Lục Đạo Luân Hồi của thời lưu vong:
“Thưa rằng nhớ chẳng hao mòn
Ngày vui chưa cạn tháng buồn lại qua
Thưa rằng nguyệt tuế chưa già
Mà sao ngày tháng vội nhòa mặt gương
Hình như nắng loãng bên tường
Bóng ta chới với cuối đường hoa bay
Mai cầm quá-khứ trên tay
Hương mờ nhật nguyệt rượu cay mắt đời
Trong ta hiện kiếp qua rồi
Hình em lục đạo luân hồi còn mang” (TvTG, tr. 105)
Ngày vui chưa cạn tháng buồn lại qua
Thưa rằng nguyệt tuế chưa già
Mà sao ngày tháng vội nhòa mặt gương
Hình như nắng loãng bên tường
Bóng ta chới với cuối đường hoa bay
Mai cầm quá-khứ trên tay
Hương mờ nhật nguyệt rượu cay mắt đời
Trong ta hiện kiếp qua rồi
Hình em lục đạo luân hồi còn mang” (TvTG, tr. 105)
Thơ mang nhiều hoài niệm một thời đã qua:
“Co ro phố đợi người về
Buồn hai mươi tuổi nghe tề tựu xong
Chiến trường tiếng hát lâm chung
Vòng hoa mười tám chợt mong căn phần
Màu tím nghe cũng tần ngần
Vuốt ve cho hết cuộc trầm luân thôi
Bước đi nghe cũng bồi hồi
Đêm lên tiếng vọng nghe đời buồn tênh
Bước về đau nỗi tử sinh
Đắng cay vào tuổi chiến tranh đã nhiều”
Buồn hai mươi tuổi nghe tề tựu xong
Chiến trường tiếng hát lâm chung
Vòng hoa mười tám chợt mong căn phần
Màu tím nghe cũng tần ngần
Vuốt ve cho hết cuộc trầm luân thôi
Bước đi nghe cũng bồi hồi
Đêm lên tiếng vọng nghe đời buồn tênh
Bước về đau nỗi tử sinh
Đắng cay vào tuổi chiến tranh đã nhiều”
(Tuổi Chiến Tranh, TvTG, tr. 132)
Huy Phương có thi tập Chúc Thư Của Người Lính Chết Già (2012) với những bài thơ ngậm ngùi hậu chiến:
“ … Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp
Có vui chi nhìn người lính chết già
Hổ thẹn đã không tròn ơn nước
Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa.
Hãy quên tôi đi, người lính già lưu lạc
Ðừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi
Anh em tôi trong những giờ tuyệt lộ
Nằm lại bờ lúc chiến hạm ra khơi… “ (Chúc Thư)
Có vui chi nhìn người lính chết già
Hổ thẹn đã không tròn ơn nước
Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa.
Hãy quên tôi đi, người lính già lưu lạc
Ðừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi
Anh em tôi trong những giờ tuyệt lộ
Nằm lại bờ lúc chiến hạm ra khơi… “ (Chúc Thư)
“ … Trước cửa nhà, ai đang dừng lại
Phải chăng, người lính trận trở về
Nghe tiếng chân người trên lối sỏi
Không, chỉ là tiếng gió đêm khuya…”
Phải chăng, người lính trận trở về
Nghe tiếng chân người trên lối sỏi
Không, chỉ là tiếng gió đêm khuya…”
(Gửi Người Đã Chết)
Kinh Tạ Ơn Của Một Người Bội Bạc (Ghi lại nhân ngày Lễ Tạ Ơn):
“Tạ ơn mẹ đã đẻ đau mang nặng
Suốt đời con vẫn bên ướt mẹ nằm
Nước mắt mẹ nay vẫn còn xuôi chảy
Con vô ơn, tính những tháng cùng năm
Suốt đời con vẫn bên ướt mẹ nằm
Nước mắt mẹ nay vẫn còn xuôi chảy
Con vô ơn, tính những tháng cùng năm
Tạ ơn cha đã cày sâu cuốc bẫm
Cho tuổi thơ con được bát cơm đầy
Nuôi con, cha muốn điều nhân nghĩa
Mà đời nay nhốn nháo biết sao đây
Cho tuổi thơ con được bát cơm đầy
Nuôi con, cha muốn điều nhân nghĩa
Mà đời nay nhốn nháo biết sao đây
Tạ ơn thầy đã cho con chữ viết
Lúc vỡ lòng những tiếng đọc a,b
Giữa chợ đời lố lăng con uốn bút
Trả cho xong nợ rượu thịt bạn bè
Lúc vỡ lòng những tiếng đọc a,b
Giữa chợ đời lố lăng con uốn bút
Trả cho xong nợ rượu thịt bạn bè
Tạ ơn Em cho đời anh bóng mát
Với tình yêu thường mộng mị thần tiên
Mà lòng anh còn sân si bạc bẽo
Chỉ cho em toàn những nỗi ưu phiền.
Với tình yêu thường mộng mị thần tiên
Mà lòng anh còn sân si bạc bẽo
Chỉ cho em toàn những nỗi ưu phiền.
Tạ ơn mày, người bạn thời thơ ấu/
Vẫn theo nhau thuở bắt dế ngoài đồng
Ta lớn lên thường mấy khi ngó lại
Có gặp, thời cũng làm lạ, quay lưng.
Vẫn theo nhau thuở bắt dế ngoài đồng
Ta lớn lên thường mấy khi ngó lại
Có gặp, thời cũng làm lạ, quay lưng.
Tạ ơn bạn, người một thời chiến hữu
Ta bên nhau trong trận mạc mỗi ngày
Một miếng lương khô, một bình nước suối
Tôi bỏ đi lúc lửa cháy thành vây.
Ta bên nhau trong trận mạc mỗi ngày
Một miếng lương khô, một bình nước suối
Tôi bỏ đi lúc lửa cháy thành vây.
Tạ ơn Anh, người bạn tù khốn khổ
Đã cho tôi hơi ấm chiếc lưng gầy/
Đêm Hoàng Liên Sơn mùa đông buốt giá
Tôi sợ lòng tôi nay đã đổi thay…
Đã cho tôi hơi ấm chiếc lưng gầy/
Đêm Hoàng Liên Sơn mùa đông buốt giá
Tôi sợ lòng tôi nay đã đổi thay…
Tạ ơn chị, người thuyền nhân tủi nhục
Vùi tấm thân xuống đáy biển oan khiên
Tôi là kẻ chưa một lần say sóng
Vẫn vô tâm không một thoáng ưu phiền
Vùi tấm thân xuống đáy biển oan khiên
Tôi là kẻ chưa một lần say sóng
Vẫn vô tâm không một thoáng ưu phiền
Tạ ơn em đọa đày trong trại cấm
Chết không lui vẫn tranh đấu kiên cường
Tôi dửng dưng như con người ngoại cuộc
Toan xênh xang chuyện y cẩm hồi hương
Chết không lui vẫn tranh đấu kiên cường
Tôi dửng dưng như con người ngoại cuộc
Toan xênh xang chuyện y cẩm hồi hương
Tạ ơn cháu đã lầm sinh chế độ
Đành đem thân kiếm cách sống qua ngày
Tôi như tên lái buôn vừa trúng mánh
Còn biết gì nhân nghĩa một đêm say
Đành đem thân kiếm cách sống qua ngày
Tôi như tên lái buôn vừa trúng mánh
Còn biết gì nhân nghĩa một đêm say
Xin tạ ơn những người vì vận nước
Suốt một đời đày đọa dưới cùm gông
Tôi phàm phu như người quên đọc sách
Còn biết gì hổ thẹn lúc soi gương
Suốt một đời đày đọa dưới cùm gông
Tôi phàm phu như người quên đọc sách
Còn biết gì hổ thẹn lúc soi gương
Tạ ơn tổ tiên đào kinh đắp lũy
Dựng giang sơn có liệt nữ anh hùng
Tôi thế hệ sau coi thường việc nước
Miễn sao đời có áo mũ xênh xang
Dựng giang sơn có liệt nữ anh hùng
Tôi thế hệ sau coi thường việc nước
Miễn sao đời có áo mũ xênh xang
Tạ ơn tiền nhân, trống đồng Ngọc Lũ
Mái đình làng bay bướm nét hoa văn
Tôi như ngọn lá đầu cành xa gốc
Đâu như chim còn nhớ đậu cành Nam
Mái đình làng bay bướm nét hoa văn
Tôi như ngọn lá đầu cành xa gốc
Đâu như chim còn nhớ đậu cành Nam
Tôi đấm ngực: Tôi là người có tội
Nghĩ phận mình đâu dám ngẩng nhìn ai
Đau lòng những lúc trước đèn đối diện
Hổ thẹn đêm về ngắm bóng trăng soi (…)”
Nghĩ phận mình đâu dám ngẩng nhìn ai
Đau lòng những lúc trước đèn đối diện
Hổ thẹn đêm về ngắm bóng trăng soi (…)”
Quan Dương tiếp tục với Đợi Khuya Tàn Bắt Sống Một Chiêm Bao (“thơ và truyện”; TGXB, 2002).
Đào Văn Bình kể Thiên Sử Thi Của Người Vượt Biển (TGXB, 2002).
Viên Linh, năm 2013 ông xuất bản tuyển tập Những Bài Thơ Tâm Sử Ca/Historical poems from the heart (NXB Khởi Hành). Năm 2017 thêm tập 60 Năm Thơ Tuyển (1955-2015).
Bài Tâm Tang ghi lại tâm trạng nhà thơ ngày 30-4 năm nào:
“Chiều nay hơ hải trên đường
Sầu bi, ta lại sầu thương quê nhà.
Sầu quê một dải sông xa
Lơ thơ bến cũ hồn ma gọi đò.
Sầu bi, ta lại sầu thương quê nhà.
Sầu quê một dải sông xa
Lơ thơ bến cũ hồn ma gọi đò.
Gọi từ văng vẳng cơn mưa
Ầm vang Bảy Núi mơ hồ Cửu Long
Tiếng đau quằn quại thân rồng
Tiếng hờn thủy quái trong lòng đại dương.
Ầm vang Bảy Núi mơ hồ Cửu Long
Tiếng đau quằn quại thân rồng
Tiếng hờn thủy quái trong lòng đại dương.
Tiếng quen ai khóc bên đường
Âm âm tiếng lạ quanh giường than van
Yêu thương những tiếng cơ hàn
Tiếng ly tiếng bát hân hoan tiếng người.
Âm âm tiếng lạ quanh giường than van
Yêu thương những tiếng cơ hàn
Tiếng ly tiếng bát hân hoan tiếng người.
Nước reo trong lửa tiếng cười
Áp tai cửa ngục tiếng đời tự do
Nhìn nhau những tiếng hỏi dò
Ngựa ô con sáo tiếng hò chia ly.
Áp tai cửa ngục tiếng đời tự do
Nhìn nhau những tiếng hỏi dò
Ngựa ô con sáo tiếng hò chia ly.
… Sầu quê một bếp lửa vùi
Thân yêu im lạnh rạc rời tro than
Thôi quên đi nhé mộng vàng
Trong sương ta thấy hồn oan đã về.
Thân yêu im lạnh rạc rời tro than
Thôi quên đi nhé mộng vàng
Trong sương ta thấy hồn oan đã về.
Ngồi đây đi bạn hôn mê
Đã xong cháo lú đã về cửa quên
Đã qua những chuyện trăm miền
Đêm nay đèn nhỏ chăn mền rất thơm.
Đã xong cháo lú đã về cửa quên
Đã qua những chuyện trăm miền
Đêm nay đèn nhỏ chăn mền rất thơm.
(…) Người về, kiếp mới thân xưa
Người đi phận cũ tân thư vào đời
Ngồi đây đi bạn chung đôi
Ma thiêng dưới đáy cũng người lân bang…” (Tâm Tang)
Người đi phận cũ tân thư vào đời
Ngồi đây đi bạn chung đôi
Ma thiêng dưới đáy cũng người lân bang…” (Tâm Tang)
Phan Xuân Sinh (1948 – 2024) từ khi xuất bản Đứng Dưới Trời Đổ Nát (Văn, 2000) chứng tỏ thi ca có một nội-dung nhân bản nếu chân thật và chan hoà sự sống. Tiếp đó là tuyển tập thơ Khi Tình Đang Ru Đời (Văn Nghệ, 2008) xuất-bản trong nước và gần đây là tập Tát Cạn Đời Sống (Houston TX: Văn Chương, 2013). Ông đến với làng thơ hải-ngoại từ đầu thập niên 1990 và in chung với Dư Mỹ (1941-) tập thơ Chén Rượu Mời Người (1996). Ông đã viết một số tùy bút và truyện kể cho độc giả, nhưng trong thơ, ông có những biểu cảm tha thiết, chân thành không kém:
“… nốc cạn ly bỗng nhiên buồn lạ
ngẫm mình thân phận buổi sa cơ
đẩy đưa với chút tình mờ nhạt
ta sợ ta thành kẻ bơ vơ
ngẫm mình thân phận buổi sa cơ
đẩy đưa với chút tình mờ nhạt
ta sợ ta thành kẻ bơ vơ
bạn ta đây chẳng còn mấy đứa
ở phương tây lại nhớ phương đông
ngậm ngùi đời trôi sông lạc chợ
bon chen cũng chỉ bàn tay không
ở phương tây lại nhớ phương đông
ngậm ngùi đời trôi sông lạc chợ
bon chen cũng chỉ bàn tay không
ta uống cùng ta thêm cốc nữa
lừ đừ ta cất giọng say say
cố nhớ đọc vài câu đối tết
cố vui trong một cuộc đắng cay
lừ đừ ta cất giọng say say
cố nhớ đọc vài câu đối tết
cố vui trong một cuộc đắng cay
ngoài kia mưa gió đang gầm thét
ta thấy trong ta bỗng dửng dưng
hay lòng ta mang nhiều biến động
vết xước cào sâu vạch những đường
ta thấy trong ta bỗng dửng dưng
hay lòng ta mang nhiều biến động
vết xước cào sâu vạch những đường
ta cố làm một tay hào kiệt
mà sao ta thấy mắt cay sè
ly rượu đầu xuân sao thảm thiết
gật gù như nửa tỉnh, nửa mê
mà sao ta thấy mắt cay sè
ly rượu đầu xuân sao thảm thiết
gật gù như nửa tỉnh, nửa mê
ta muốn quên đi đời hệ lụy
nhủ với lòng ta cố gượng cười
mừng xuân ly rượu còn đang ấm
nối lại giùm ta những cuộc vui”
nhủ với lòng ta cố gượng cười
mừng xuân ly rượu còn đang ấm
nối lại giùm ta những cuộc vui”
(Ly Rượu Đầu Xuân, ĐDTĐN, tr. 83, 84)
Hải Phương với Cảm Ơn Tháng Giêng Biêng Biếc Ngực Em Cười (Queen, 2006) và Một Thiên Thu Với Rộng Tà Áo Bay (Queen 2007) nổ lực làm mới thi ca với thi ý cũng như ngôn từ:
“Mai về nguyệt thực môi hôn
gió đêm phố biển trăng phồn hoa em
mai về dạ khúc chân quen
dấu in trên bãi cát mềm ban sơ.
gió đêm phố biển trăng phồn hoa em
mai về dạ khúc chân quen
dấu in trên bãi cát mềm ban sơ.
Mai về quẩy gánh tình cờ
con còng xe cát bãi bờ nương dâu
ta đi xa biển từ lâu
như là như thể lần đầu xa em.
con còng xe cát bãi bờ nương dâu
ta đi xa biển từ lâu
như là như thể lần đầu xa em.
Em một bên biển một bên
chỗ nào ta đứng cũng lênh đênh đời
trang nhà lá hát không lời
em bình minh sớm rộn trời đất ta”
chỗ nào ta đứng cũng lênh đênh đời
trang nhà lá hát không lời
em bình minh sớm rộn trời đất ta”
(Em Bình Minh Sớm Rộn Trời Đất Ta)
Huy Trâm vào giai đoạn này xuất bản các tập thơ Sầu Xứ Tiếp Sầu Mây (Orange Ct, CA: 2000), Mật Giạt Trời Đêm (Westminster CA: Hương Văn, 2003), Cõi Bình Yên (Hương Văn, 2007) và Thơ Viết Chưa Xong Giữa Cuộc Đời (chung với Nguyễn Thị Mắt Nâu; Hương Văn, 2008), các tập truyện Thương Nhiều Nhớ Nhiều (Hương Văn, 2002), Rì Rào Sóng Vỗ (Hương Văn, 2007), Con Đường Vô Định, “truyện dài thời đại” (Hương Văn, 2006), truyện dài Mây Đưa Lòng Giạt Mãi Đâu (Hương Văn, 2009) cùng hai tập-truyện-và-thơ Rau Đắng Trên Quê Người (Hương Văn, 2010) nói lên những u uất, bất bình., Mưa Gió Bên Sông (Hương Văn, 2012), Nhờ Có Thương Đau (Hương Văn, 2013). Các tuyển tập thơ dù ra mắt sau này đã có những bài thời trước đó. Ông viết chung với Nguyễn Hữu Tấn hai tập tiểu luận Việt Nam và Tâm Thức Dân Tộc (Orange Ct, CA: 1995) và Tự Tại Tâm (Orange Ct, CA: 2000) về tâm linh.
Phong Vũ sau thi tập Tâm Sự Kẻ Ly Hương (Toronto: Văn Bút, 1998) là thi tuyển đặc sắc Cõi Thơ Trường Mộng / Royaume de poésie du long rêve / Realm of Long Dream Poetry (Montréal: TGXB, 2001. 236 tr.) tam ngữ Việt-Anh-Pháp, được dịch giả Lê Cao Phan chuyển ngữ và Tô Kiều Ngân ghi Tựa. Ở đây ghi lại bài Bếp Lửa Canh Sương gợi không gian Đà Lạt:
“Đêm từng đêm
Ngồi đợi canh tàn bên bếp lửa
Lời bập bùng trao gởi người thương
Khói trắng tơ vương
Ngồi đợi canh tàn bên bếp lửa
Lời bập bùng trao gởi người thương
Khói trắng tơ vương
Từng sợi giữa đêm trường
Đem hơi ấm sưởi tình ai, ai biết?
Lửa vẫn nói, lời chân tình tha thiết
Khói thuốc vờn / Theo khói lửa về đâu
Chuông xa ngân gợi nhớ tiếng kinh cầu
Môi đã thấm / Tê mê từng giọt đắng
Điếu thuốc lá, ngún tàn, vội búng
Dán lên tường / Một đóm lửa khuya
Lòng vẫn ngại khi châm vào lửa
Những trái thông xanh / Cơn bão quật cảnh
Ý thơ nào chợt đến giữa tàn canh
Không bút chép lấy than ghi vội
Đợi gà gáy / Trang thơ nằm bên gối
Nhắm mắt tìm nhân ảnh giữa canh sương
Một tiếng chim kêu / Xé toạc màn đêm
Rồi im bặt / Giữa hồn ai lịm ngất” (tr. 20).
Nguyễn Phúc Sông Hương có khúc Tháng Tư, Lính Không Cần Hớt Tóc trong thi tuyển cùng tựa xuất bản năm 2009:
“Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài cứ để tóc dài thêm,
Giáp trận, chẳng ai cần nón sắt
Đầu trần, tóc dựng, mắt trừng lên.
Tóc dài cứ để tóc dài thêm,
Giáp trận, chẳng ai cần nón sắt
Đầu trần, tóc dựng, mắt trừng lên.
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài khói súng bám càng thơm,
Nòng súng tháng tư không hạ nhiệt
Lòng lính tháng tư ngọn lửa bừng.
Tóc dài khói súng bám càng thơm,
Nòng súng tháng tư không hạ nhiệt
Lòng lính tháng tư ngọn lửa bừng.
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài gió lộng thổi tung bay,
Đánh giặc, bạn ta luôn bắn đứng
Oai phong sừng sững suốt đêm ngày.
Tóc dài gió lộng thổi tung bay,
Đánh giặc, bạn ta luôn bắn đứng
Oai phong sừng sững suốt đêm ngày.
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài gương mặt lạnh lùng hơn.
Gương mặt bao người vừa ngã xuống
Băng giá còn nguyên nét oán hờn.
Tóc dài gương mặt lạnh lùng hơn.
Gương mặt bao người vừa ngã xuống
Băng giá còn nguyên nét oán hờn.
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài, tay kẹp súng lia ngang,
Mấy mươi tăng địch phơi ngoài bãi,
Lính bộ, rừng su lấp mấy ngàn.
Tóc dài, tay kẹp súng lia ngang,
Mấy mươi tăng địch phơi ngoài bãi,
Lính bộ, rừng su lấp mấy ngàn.
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài theo nhiệt huyết tuôn tràn,
Đại liên khạc đạn lòng chưa thỏa
Huống gì quyết tử lính miền Nam.
Tóc dài theo nhiệt huyết tuôn tràn,
Đại liên khạc đạn lòng chưa thỏa
Huống gì quyết tử lính miền Nam.
Tháng Tư lính không cần hớt tóc,
Tóc dài bay dưới bóng cờ bay,
Dạ thưa Tư Lệnh xin đừng phạt
Có một không hai trận cuối này.
Tóc dài bay dưới bóng cờ bay,
Dạ thưa Tư Lệnh xin đừng phạt
Có một không hai trận cuối này.
Tháng Tư, Lính không cần hớt tóc,
Tóc dài ngang dọc giữa trùng vây.
Trùng vây! Trùng vây nào khép được
Tóc xanh dài mọc chúng ta đây”.
Tóc dài ngang dọc giữa trùng vây.
Trùng vây! Trùng vây nào khép được
Tóc xanh dài mọc chúng ta đây”.
Trần Phù Thế sau 1975, ông bị tù “cải tạo” nhiều năm và định cư tại tiểu bang South Carolina từ năm 1992.
“… Ta cười ta / nợ núi sông
sẩy tay mất nước lưu vong xứ người
Ta cười ta / một trận cười
Trăm năm hồ dễ mấy người như ta”-9-2002
sẩy tay mất nước lưu vong xứ người
Ta cười ta / một trận cười
Trăm năm hồ dễ mấy người như ta”-9-2002
(Ta Cười Ta; GBCB, tr. 94)
Bài Giỡn Bóng Chiêm Bao với ngôn ngữ miền Nam lục tỉnh quê hương nhà thơ:
“Như là / như thể / bằng không
anh con trốt xoáy mù tung mịt trời
như là / như thể / đánh rơi
trái tim rướm máu nằm phơi chợ đời
anh con trốt xoáy mù tung mịt trời
như là / như thể / đánh rơi
trái tim rướm máu nằm phơi chợ đời
và anh / thức mãi / một thời
cơn mê bất chợt thành người chiêm bao
nói năng / bắc đẩu / nam tào
và anh quên tuốt ngõ vào ngõ ra
dẫu đi / đường lạnh / trăng tà
chia đôi bất hạnh thiệt thà niềm tin
dẫu anh / giỡn bóng / một mình
cũng không đốt nỗi cái hình nộm kia
níu chi / cái bóng / tàn khuya
để tan theo tiếng động về rạng đông”- 2002
(GBCB, tr. 62-63)
Vũ Tiến Lập định cư tại Houston, TX, đã xuất bản Tạp Ghi Thơ (2006), thơ tình và nhiều suy niệm thân phận:
“em lộng lẫy như loài chim xanh
bay suốt vào ký ức tôi kỳ bí
mạch sống ngan ngát nỗi cô đơn
mùa giông trù phú thêm viễn mộng
bay suốt vào ký ức tôi kỳ bí
mạch sống ngan ngát nỗi cô đơn
mùa giông trù phú thêm viễn mộng
chẳng còn lời huyễn nào thay thế
ngoài âm thanh mật
độc đăng thức giữa ngày tráng lệ
thời gian không thực có
khoảng cách mãi mãi là bây giờ
trí nhớ nguyên vẹn
chân tình vỡ vụn hư hao
mộng thực thách thức bên lề gánh xiếc
những bước thầm theo nỗi chết
chuyện đời là giòng sông
em dẫn sông về biển cả
hạnh phúc của kẻ ra khơi
lượn trên vùng đá ngầm
cánh buồm cuộc gió / mãi xa”
(Lời Huyễn)
“gió tru tréo thất thường
xua mùa đông vào cửa áo
thốc từng nỗi niềm nghi hoặc
tháng giêng đầy vọng động
cảm giác vỗ về
mơn trớn trên vai khách trần
đêm mặc nhiên rồi thật nhất
ngoài nhận biết không đuổi bắt
tựa chuyển hoá như con đường
mặc vết lăn nghiền dẫm
dòng sống ảo thuật
đi tìm giấc mơ minh bạch
nhận ra tha lực đã chết khô
nhặt lại dấu tích cũ
sao đổi trời tắt trên tay”
xua mùa đông vào cửa áo
thốc từng nỗi niềm nghi hoặc
tháng giêng đầy vọng động
cảm giác vỗ về
mơn trớn trên vai khách trần
đêm mặc nhiên rồi thật nhất
ngoài nhận biết không đuổi bắt
tựa chuyển hoá như con đường
mặc vết lăn nghiền dẫm
dòng sống ảo thuật
đi tìm giấc mơ minh bạch
nhận ra tha lực đã chết khô
nhặt lại dấu tích cũ
sao đổi trời tắt trên tay”
(Khách Trần)
Nguyễn Lương Vỵ nhà thơ của những Hoà Âm Âm Âm Âm… (Thư Ấn Quán, 2007); Huyết Âm (Q&P Production CA, 2008); Tinh Âm (Q&P Production CA, 2010); Bốn Câu Thất Huyền Âm (Q&P Production CA, 2011); Tám Câu Lục Huyền Âm (Q&P Production CA, 2013); Năm Chữ Năm Câu (Q&P Production CA, 2014); Năm Chữ Ngàn Câu (Q&P Production CA, 2014); Tuyển Tập Thơ 45 Năm (1969 – 2014) (NXB Sống; Q&P Production, CA, 2015); T[i]ếu Ngạo Giang Hồ (NXB Sống; Q&P Production, CA, 2016); Âm Tiết Đỏ Thời Gian (Văn Học Press, 2019); Tuyển Tập Thơ 50 năm 1969-2019 (Văn Học Press, 2020).
Thơ là tất cả, là bạn, cả thơ người xưa:
“1- đóng cửa suốt đêm ngồi dịch thơ
chữ người xưa như trời xanh lơ
lời nhắn tri âm rung bích ngạn
ý vang tâm huyết vút tinh mơ
ức trai mắt sáng trừng oan nghiệt
bá quát tim son chết bất ngờ
khuya tận một mình ngơ ngác hỏi
thạch sùng chậc lưỡi vách im trơ.
chữ người xưa như trời xanh lơ
lời nhắn tri âm rung bích ngạn
ý vang tâm huyết vút tinh mơ
ức trai mắt sáng trừng oan nghiệt
bá quát tim son chết bất ngờ
khuya tận một mình ngơ ngác hỏi
thạch sùng chậc lưỡi vách im trơ.
2– vách im trơ thơ dịch chửa xong
chữ người xưa linh hiển nao lòng
thuyền nan một mái chèo cô độc
miếu cũ không ai đến vắng không
một vạt nắng chiều giăng tiếc nhớ
hai hàng mưa bụi đẫm thương mong
khuya tận đứng lên châm điếu thuốc
thạch sùng chậc lưỡi khói bay vòng…” – 6-2017
(Suốt Đêm Ngồi Dịch Thơ)
chữ người xưa linh hiển nao lòng
thuyền nan một mái chèo cô độc
miếu cũ không ai đến vắng không
một vạt nắng chiều giăng tiếc nhớ
hai hàng mưa bụi đẫm thương mong
khuya tận đứng lên châm điếu thuốc
thạch sùng chậc lưỡi khói bay vòng…” – 6-2017
(Suốt Đêm Ngồi Dịch Thơ)
Trần Vấn Lệ phong phú thơ đã tiếp nối xuất bản May Mà Có Em Đời Còn Dễ Thương (Người Mỹ, 2001), Ta Nhớ Người Xa Cách Núi Sông (Người Dưng, 2002), Từ Lúc Đưa Em Về Là Biết Xa Ngàn Trùng (2003), Nếu Bước Chân Ngà Có Mỏi (2004), Trăm Năm Để Lại (2005), Nói Thầm Với Thơ (Người Thơ, 2006), Áo Dài Em Trắng Bay Trong Gió Nón Lá Bài Thơ Chuyện Của Chàng (TGXB, 2010), Cám Ơn Em Tình Yêu (2022), Thơ và Cuộc Đời (Nhân Ảnh, 2024), Em Một Mình Thơm Bao Ý Thơ (Nhân Ảnh, 2024), Nắng Hoàng Hôn Còn Sót Mấy Câu Thơ (2025). Trích bài Hành Phương Tây trong tập mới nhất:
“Ta với ngươi hề phương Tây hành. Tóc xanh,
nào phải, chỉ trời xanh! Lòng thơm? Không phải!
Hương hoa cỏ. Mơ mộng… Mà ôi mộng chẳng thành!
Ta với ngươi hề đi lang thang. Không ai kinh ngạc
người-việt-nam. Ai ai cũng vậy, đều lo sống. Đời
ngược xuôi và… đời dọc ngang!
Ta với ngươi hề vào đây chơi. Mộ kia ngươi tựa
tấm bia ngồi. Mộ đây… ta đọc tên người chết… hay
nhỉ như là tên-họ-tôi!
Ta với ngươi hề đốt thuốc đi. Đốt cho bay khói
tưởng đang về. Phương Đông Bất Bạt Ba Vì núi,
một dải sông hiền chở bóng mây…
Ta với ngươi hề không thở than. Có hơi nào sót
chẳng hơi tàn? Ba năm đường nhỏ lòng ngơ ngác,
chí cả khác nào cọng khói tan!
Ba năm Mẹ già chừ ra sao? Ba năm đâu phải mới
đây nào! Dốc tiền mua thẻ nhang ngồi đốt, Mạ với
Ba hề đang ở đâu?
Ta với ngươi hề mai chia xa… Trời Tây không có
một hiên nhà. Trời Nam di điểu mờ trong nắng…
Mình cũng là loài di điểu, kia!
Trời ơi trời ơi ta và ngươi, dang tay như Chúa ngó
lên trời, Ai đưa tay khép giùm con mắt, đừng thấy quê
nhà nữa. Biển khơi!” (NHHCSMCT, tr. 12)
nào phải, chỉ trời xanh! Lòng thơm? Không phải!
Hương hoa cỏ. Mơ mộng… Mà ôi mộng chẳng thành!
Ta với ngươi hề đi lang thang. Không ai kinh ngạc
người-việt-nam. Ai ai cũng vậy, đều lo sống. Đời
ngược xuôi và… đời dọc ngang!
Ta với ngươi hề vào đây chơi. Mộ kia ngươi tựa
tấm bia ngồi. Mộ đây… ta đọc tên người chết… hay
nhỉ như là tên-họ-tôi!
Ta với ngươi hề đốt thuốc đi. Đốt cho bay khói
tưởng đang về. Phương Đông Bất Bạt Ba Vì núi,
một dải sông hiền chở bóng mây…
Ta với ngươi hề không thở than. Có hơi nào sót
chẳng hơi tàn? Ba năm đường nhỏ lòng ngơ ngác,
chí cả khác nào cọng khói tan!
Ba năm Mẹ già chừ ra sao? Ba năm đâu phải mới
đây nào! Dốc tiền mua thẻ nhang ngồi đốt, Mạ với
Ba hề đang ở đâu?
Ta với ngươi hề mai chia xa… Trời Tây không có
một hiên nhà. Trời Nam di điểu mờ trong nắng…
Mình cũng là loài di điểu, kia!
Trời ơi trời ơi ta và ngươi, dang tay như Chúa ngó
lên trời, Ai đưa tay khép giùm con mắt, đừng thấy quê
nhà nữa. Biển khơi!” (NHHCSMCT, tr. 12)
Đức Phổ công bố Một Chỗ Về (Sông Thu, 2000) sau khi thơ ông đã xuất hiện trên các tạp-chí văn-học hải-ngoại. Sau thêm Mùa Tình, Xin Kịp Gặt (Tạp chí Văn, 2002). Quê nhà đối với người đã rời đi nhất là khi không lựa chọn sẽ là ám ảnh, là nhung nhớ khôn nguôi trong cuộc sống mới:
“…đâu phải chỉ vì đời lận đận
để nhớ nhà cho ấm nỗi buồn
xa xứ, ta là tay ở ẩn
người đua chen, ta kẻ đứng bên đường
để nhớ nhà cho ấm nỗi buồn
xa xứ, ta là tay ở ẩn
người đua chen, ta kẻ đứng bên đường
những chiều nắng nhạt bên thềm vắng
thơ thẩn lòng mơ ánh nguyệt tà
mấy phen chìm nổi, không danh phận
đã thấm đòn đau nỗi nhớ nhà”- 1999
thơ thẩn lòng mơ ánh nguyệt tà
mấy phen chìm nổi, không danh phận
đã thấm đòn đau nỗi nhớ nhà”- 1999
(Thương Quê, MCV tr. 65)
Nhà thơ nhạc Phan Ni Tấn tiếp tục sứ mệnh dấn thân, ở giai đoạn này thêm Quê Núi (2010), Nẻo Nhà (Nhân Ảnh, 2010)].
Họa sĩ La Toàn Vinh sau tập thơ đầu tay Sa Mạc Bụi Hồng (1992), thời này tiếp tục góp thơ với Mùa Thu Yêu Dấu (2006) và Cơn Mộng (1998) đều tự xuất bản tại Montréal, Canada.
Hoàng Xuân Sơn có Lục Bát Hoàng Xuân Sơn (Thư ấn quán, 2004),
Quỳnh Thi (Phạm Quang Vinh; 5-2-1946, Ninh Bình -), định cư tại Hoa-Kỳ năm 1995, sau Tên Em Là Hoa Kỳ (1998) là trường ca Mùa Chuộc Tội (tc Thơ, 2002). Trích bài Gió Thổi Vàng Ngọn Cây:
“Người như thoảng gió ngàn
Hay như cơn gió lạ đến trong đời
Một sớm nào lại bay về đây
Bay về bất chợt
Gió thổi vàng ngọn cây
Gió rụng rơi những cành phong đỏ
Tôi thương nàng như người em gái
Cũng nhiều lúc yêu nàng như người con gái trong tim
Những lần gặp nhau
Lúc chia tay lén ánh nhìn tha thiết
Mắt ướt lệ em vội vàng dấu kín
Tiếc mà chi khi giã từ nhau
Tôi nhận ra thì xe đã lăn bánh
Thật ra đời nhiều nỗi xót xa
Không sao nói hết
Thủa đó / Tôi ở cách xa nàng ba trăm cây số
Nàng nghèo lắm
Khách đến chơi không có chỗ để ngồi
Mà lúc đó / tôi cũng túng thiếu chẳng kém chi
Có một điều chắc chắn
Là hai người dư giả yêu thương
Một lần đến thăm
Lúc từ giã nghẹn ngào cũng không có gì tặng nàng
Trên tay mình chỉ còn cái đồng hồ là đáng giá
Tôi lặng lẽ len lén tháo ra
Bỏ vào chiếc ngăn bàn nhà nàng
Thế mà niềm vui / mấy chục năm trôi qua
Chẳng có cơ gặp lại!
Đến nay thấy lòng vẫn còn / ấm áp
Người ơi / Em như con gió thoảng
Một thoáng bay về
Gió thổi vàng ngọn cây
Gió rụng rơi một mùa cổ tích
Vô thường đời người trăm năm”.
Hay như cơn gió lạ đến trong đời
Một sớm nào lại bay về đây
Bay về bất chợt
Gió thổi vàng ngọn cây
Gió rụng rơi những cành phong đỏ
Tôi thương nàng như người em gái
Cũng nhiều lúc yêu nàng như người con gái trong tim
Những lần gặp nhau
Lúc chia tay lén ánh nhìn tha thiết
Mắt ướt lệ em vội vàng dấu kín
Tiếc mà chi khi giã từ nhau
Tôi nhận ra thì xe đã lăn bánh
Thật ra đời nhiều nỗi xót xa
Không sao nói hết
Thủa đó / Tôi ở cách xa nàng ba trăm cây số
Nàng nghèo lắm
Khách đến chơi không có chỗ để ngồi
Mà lúc đó / tôi cũng túng thiếu chẳng kém chi
Có một điều chắc chắn
Là hai người dư giả yêu thương
Một lần đến thăm
Lúc từ giã nghẹn ngào cũng không có gì tặng nàng
Trên tay mình chỉ còn cái đồng hồ là đáng giá
Tôi lặng lẽ len lén tháo ra
Bỏ vào chiếc ngăn bàn nhà nàng
Thế mà niềm vui / mấy chục năm trôi qua
Chẳng có cơ gặp lại!
Đến nay thấy lòng vẫn còn / ấm áp
Người ơi / Em như con gió thoảng
Một thoáng bay về
Gió thổi vàng ngọn cây
Gió rụng rơi một mùa cổ tích
Vô thường đời người trăm năm”.
Ngu Yên trong giai đoạn này là nhà thơ xuất bản khá nhiều với phương tiện ebook và on-line. Trước đó, tập “thơ đôi” Hãy Cho Ta Sống Giùm Đời Nhau và Tình (1993) gồm những bài thơ Tân-hình-thức, “thơ cụ thể” và thơ tính dục:
“Thương cái ấy bao ngày xa nhau
Thương cái ấy đã vào thâm cung
Thương cái ấy tho em lấy chồng
Thương cái ấy mai rồi khô khan …”
Thương cái ấy đã vào thâm cung
Thương cái ấy tho em lấy chồng
Thương cái ấy mai rồi khô khan …”
Nguyễn Nam An (Lê Văn Mùi) năm 2013 xuất-bản tuyển tập Anh Biết Đà Nẵng Qua Mây (Quyên Book) chung với thơ của Bùi Ân, Dương Nổ, bìa double.
Cùng lãnh vực thơ, Trần Hoài Thư về sau này sáng-tác và xuất-bản thơ nhiều hơn văn, Thư Ấn Quán xuất-bản và tái-bản các tập tuyển thơ: Ô Cửa (2005), Quán (2008),…
Bài Đêm Trừ Tịch Nghe Tiếng Còi Tàu:
“Xa nhà mấy mươi năm
Tình hoài hương đông cứng
Tết theo bông tuyết trắng
Lả tả bay đầy hồn
Tình hoài hương đông cứng
Tết theo bông tuyết trắng
Lả tả bay đầy hồn
Chợt nghe tiếng còi tàu
Vọng trong đêm trừ tịch
Tiếng còi tàu quen thuộc
Sao đêm nay giật mình?” – 18-2-2015
Vọng trong đêm trừ tịch
Tiếng còi tàu quen thuộc
Sao đêm nay giật mình?” – 18-2-2015
Những năm tháng cuối đời, anh thường xuyên đến thăm vợ nơi Nhà Dưỡng Lão, và một lần anh ghi lại tâm tình trong Vầng Trăng Gìn Giữ:
“Ngày hợp hôn chúng ta
Saigon có cơn mưa nhỏ
Không vầng trăng đến bên khung cửa để vui cùng
Anh trong bộ đồ lính rừng
Ngực áo thêu con diều hâu vồ mồi vuốt sắc
Saigon có cơn mưa nhỏ
Không vầng trăng đến bên khung cửa để vui cùng
Anh trong bộ đồ lính rừng
Ngực áo thêu con diều hâu vồ mồi vuốt sắc
Em trong chiếc áo dài màu hồng đẹp nhất
Vương miện cài đầu.
Đôi bông quỳ vàng thắm cài tai
Và má em phấn hồng cùng đôi mắt tô than
Cùng đôi môi thoa son hồng như nàng công chúa
Gương mặt như một vầng trăng pha màu vàng lụa óng ả chảy khắp trên đồng cỏ tranh đêm mênh mông
Hay như vầng trăng lạc lõng giữa con suối đen ngòm
Khiến anh điếng hồn nhìn hoài trong đêm thám báo
Trăng dát bạc vàng đường qua làng buông như màu bánh tráng
Bóng người bóng trăng bóng lá chen nhau
Nhưng em ơi, anh làm sao giữ nó qua cầu
Đêm sẽ hết và trăng sẽ bỏ về nơi trăng ở
Chỉ có hôm nay anh được vầng trăng để giữ
Mãi tận bây giờ trên giường bệnh em ơi…”
– Ashbrook nursing home, July 13, 2016
Lê Hân xuất bản Tình Thơ Mấy Nhánh (Nhân Ảnh, 2003) tuyển thơ đầu tay,.
“tôi đã làm thơ như vọc đất
như leo trèo, chạy nhảy, tắm sông…
tôi đã làm thơ ngon trớn nhất
khi niềm vui chất ngất trong lòng”
như leo trèo, chạy nhảy, tắm sông…
tôi đã làm thơ ngon trớn nhất
khi niềm vui chất ngất trong lòng”
Thơ tình trực diện:
“con bướm bay và bay bướm tôi
chỉ vì đời có những vòng môi
gọi tôi và cũng nghe tôi gọi
vô lượng lòng cho, nhận, thế thôi
chỉ vì đời có những vòng môi
gọi tôi và cũng nghe tôi gọi
vô lượng lòng cho, nhận, thế thôi
sẽ chẳng bao giờ muốn phụ ai
nếu cùng độ lượng đứng chung vai
tình tôi giàu đủ chia thiên hạ
đâu sá gì riêng cõi trang đài”.
Hồn thơ lãng đãng trên những bước đi tìm…
“tự dưng lạc giữa mịt mùng
thấy tôi, em vốn là chung một người
tôi là em, em là tôi
từ trong tiền kiếp có đời sống nhau
thấy tôi, em vốn là chung một người
tôi là em, em là tôi
từ trong tiền kiếp có đời sống nhau
tự dưng em lẩn vào đâu
không có, chợt có nỗi đau thình lình
tự dưng tôi thấy chính mình
đẹp ra từ thuở thất tình đầu tiên
tự dưng tay viết quàng xiên
đọc đi đọc lại bỗng ghiền chính tôi
em là thơ, đã hẳn rồi
tôi là người thở vô đời sống thơ”.
Phạm Hồng Ân với tập Ngất Ngưởng Một Đời Mây (Hiên Thư Các, 2013). Ở Phạm Hồng Ân là thi ca của tình yêu, và tình nước. Trước biến cố 30-4-1975, nhà thơ là sĩ quan Hải Quân, nên trong thơ ông, người đọc dễ tìm thấy biển và nước, ở miền Nam Cộng Hòa cũng như ở Hoa Kỳ bây giờ và riêng với ông, là biểu tượng của tình yêu và tình nước. Chan chứa mà dũng cảm, những vần thơ của người chiến sĩ!
Cát Biển (Nguyễn Văn Sáng), sĩ quan Hải quân VNCH, đến Mỹ năm 1975, Kỹ sư và hiện sinh sống tại vùng Nam California. Đã xuất bản thi tuyển Trùng Khơi Sóng Vỗ (TGXB, 2002). Nhà thơ dẫn nhập: “Thi tập Trùng Khơi Sóng Vỗ là một tập hợp dấu yêu từ những ấp ủ, rung cảm, và ước mơ mà tác giả muốn trao gửi trong cái tí tách phù du vô thường giữa giòng thiên mệnh kiếp người…” (tr. 19)
Quê nhà Phan Thiết và đời lính hải hành đã làm nên nội dung thi ca Cát Biển. Như Giấc Mơ Biển, bài mở đưa vào tuyển thơ:
“Xưa yêu biển anh mộng mơ hải nghiệp
Dệt hồn mình thẩm tuyệt một màu xanh
Áo trắng tinh anh mũ vành phong nhã
Nếp chỉ vàng vai áo dạ hoàng gia
Dệt hồn mình thẩm tuyệt một màu xanh
Áo trắng tinh anh mũ vành phong nhã
Nếp chỉ vàng vai áo dạ hoàng gia
Hoa biển mộng ẩn đầy vai khổ nhục
Cánh tay trần luyện hái gió đo mây
Ngày đăng quang quỳ đưa tay vũ trụ
Đeo nhẫn vàng thách thức ngũ đại dương
Rồi từ đó loài kình ngư lược sóng
Mộng thủy cung huyền thoại mỹ nhân ngư
Ngắm sao trời gió lũ sóng ba đào
Đi chất ngất chuyến phiêu lưu kỳ ảo
Chiều Trường Sa hải âu bay ngập đảo
Nắng Hà Tiên vịnh đá nhả hương thơ
Tâm sự trăng sao mượn nhờ hơi thuốc
Uống mềm môi tình tự bóng trong mơ
Thủy thủ say tình, biển cả mịt mờ
Biển say sóng, bờ ai say với rượu (…)” (tr. 21-22)
Người lính biển đa tình nên nhiều tâm sự:
“Người vào hồn ta tan trường chung lối
Bao buổi học về còn say gió hôm nao
Vẫn hương cỏ thơm chiều nghiêng nghiêng nắng
Vắng bước chân nàng, lối rẽ xót xa đau
Bao buổi học về còn say gió hôm nao
Vẫn hương cỏ thơm chiều nghiêng nghiêng nắng
Vắng bước chân nàng, lối rẽ xót xa đau
Chiều nào kề vai nghe lòng dậy sóng
Bia đắng đầu đời mềm môi chất thương đau
Rồi sông chảy tuôn trào con nước lắng
Nước mắt đưa người ly biệt kiếp binh đao
Bia đắng đầu đời mềm môi chất thương đau
Rồi sông chảy tuôn trào con nước lắng
Nước mắt đưa người ly biệt kiếp binh đao
Anh ra đi gói theo hành trang nhỏ
Ấm quê hương thương mấy giọt lệ chào
Cửa xe cuối đời học sinh áo trắng
Khép kín khung trời thơ mộng xuyến xao
Ấm quê hương thương mấy giọt lệ chào
Cửa xe cuối đời học sinh áo trắng
Khép kín khung trời thơ mộng xuyến xao
Từ vùng hồn nhiên, cuồng điên giông bão
Mê tỉnh cuộc đời tìm bao mãnh hư hao
Bởi hôm tuổi mơ người cho men đắng
Gió buốt bao muà nhớ tưởng giấc chiêm bao”
Mê tỉnh cuộc đời tìm bao mãnh hư hao
Bởi hôm tuổi mơ người cho men đắng
Gió buốt bao muà nhớ tưởng giấc chiêm bao”
(Thuở Vào Đời, tr. 23)
Những lúc ở biển:
“Trùng khơi sóng vỗ đùa thân đá
Mát dịu bờ hoang chút đậm đà
Cát bám chân len vùng tuổi ngọc
Gió ngàn đan lối dệt tình ca
Mát dịu bờ hoang chút đậm đà
Cát bám chân len vùng tuổi ngọc
Gió ngàn đan lối dệt tình ca
Tụ tan giòng thủy triều khơi sóng
Thân cát đầy vơi lượng hải hà
Xoay bao cảnh sắc về nguyên ủy
Đọng kết nghìn cung điệu thiết tha
Thân cát đầy vơi lượng hải hà
Xoay bao cảnh sắc về nguyên ủy
Đọng kết nghìn cung điệu thiết tha
Người phiêu lưu biển se hồn cát
Giữ chút đời tan hợp bến ga
Đâu đây tiếng sóng vang lòng nhớ
Góp nhặt bờ tinh thể ngọc ngà” (Tự Tình, tr. 83)
Giữ chút đời tan hợp bến ga
Đâu đây tiếng sóng vang lòng nhớ
Góp nhặt bờ tinh thể ngọc ngà” (Tự Tình, tr. 83)
Những khi nghe Mưa Đêm:
“Đêm nghe tiếng bụi ngàn /Đêm hoang gió luồng ngang
Đêm bão nổi cung đàn / Đêm như tiếng thở than
Nghe thiên khúc nghê thường / Nghe chân bước bờ thương
Nghe nhung nhớ sông Mường / Nghe thanh thoát trầm hương
Đêm bão nổi cung đàn / Đêm như tiếng thở than
Nghe thiên khúc nghê thường / Nghe chân bước bờ thương
Nghe nhung nhớ sông Mường / Nghe thanh thoát trầm hương
Mai tóc điểm sương trời / Mai trôi gió ngàn khơi
Mai rũ rượi góc đời / Mai yên giấc cuộc chơi
Mai rũ rượi góc đời / Mai yên giấc cuộc chơi
Xin hương ngát rộn ràng / Trong hơi ấm mộng đan
Tay vin dấu địa đàng / Cho ta thỏa trần gian (tr. 24)
Tay vin dấu địa đàng / Cho ta thỏa trần gian (tr. 24)
Thơ Cát Biển đa dạng và đầy thi tính – không nhất thiết phải cầu kỳ. Có tiếc nuối, hận, đau, vì phải nhổ neo rời bỏ, dở dang mộng đời phục vụ, vì phải sống đời lưu xứ, nhưng sự rành mạch và rung cảm, chân thành với tình, với bạn hữu, với quê hương, đất nước, đã khiến thơ trở nên thân thiện, nhiều đồng cảm.
(còn nữa)
Nguyễn Vy Khanh
