
I. Em Về Ngồi Với Xưa Rày Nhẹ Bong
Nguyễn Thị Khánh Minh là tên của một nhà thơ nữ mà tôi mới vừa quen.
Chị ở nước ngoài, tôi ở Việt Nam, chào hỏi nhau qua tin nhắn và đọc bài trên trang của nhau.
Nhưng cần chi hơn nữa, chỉ thế thôi là đủ rồi, đủ cho một mối quan hệ văn chương, thơ ca rồi. Không biết người khác thì sao, chớ với tôi, khoảng cách ấy mà, câu thành ngữ xa mặt cách lòng ấy mà, chẳng bao giờ đúng với tôi. Đã yêu mến tài thơ, hay yêu mến tánh cách, con người nhau rồi, thì biên giới, thì ngàn dặm, ý nghĩa chi.
Chị gởi cho tôi một trăm sáu mươi bài thơ chưa có tên để tôi đọc. Chị gởi hôm trước, hôm sau má tôi mất, thành thử, đến hôm nay, tôi mới có thời gian mở ra xem.
Tôi có một thói quen đọc hơi bị kỳ. Khi nhận sách, bao giờ tôi cũng mở trang cuối ra đọc. Hễ hay, hễ hấp dẫn, thì tôi đọc một lèo, từ đầu đến cuối. Còn phần cuối mà chán, là tôi bỏ luôn, không động tới nữa.
Đọc thơ chị Khánh Minh cũng thế. Và tôi khá ngạc nhiên với giọng thơ của chị, thơ có chiều sâu, tình cảm, nhiều nữ tính, và đặc biệt nhứt, với tôi, chính là lối viết không hoa không hiếc gì trong bài, thậm chí, không đặt cả nhan đề (cách đây hai mươi năm, tôi cũng không đặt nhan đề như thế) và cách xử lý dấu câu của chị thì rất cá tánh.
Ngược lại với kỹ thuật thơ độc đáo, giọng thơ chị lại hết sức nhẹ nhàng. Nhẹ nhàng như bóng người tan vào ký ức. Nhẹ nhàng như thời gian đậu trên lòng bàn tay. Nhẹ nhàng như buổi trở về thành cuộc gặp gỡ với điều vô hình.
Vì đọc từ dưới lên, nên tôi chọn ra, hôm nay, sáu bài thơ lục bát của tác giả Khánh Minh để giới thiệu đến bạn đọc, đó là các bài số 131, 132, 133, 136, 140 và 149.
Các bài này đều ngắn, cô đọng, nhưng gợi nhiều suy tưởng về ký ức, về sự vắng mặt, về thời gian và về giới hạn của ngôn ngữ trong biểu lộ cảm xúc.
Theo Việt Báo công bố, Nguyễn Thị Khánh Minh có quê quán gắn với Nha Trang và Hà Nội. Chị tốt nghiệp Cử Nhân Luật tại Đại Học Luật Khoa Sài Gòn năm 1974. Và chỉ nội vậy thôi, là tôi đủ yêu mến chị rồi. Auto yêu mến, chỉ vì bởi, chị là người Sài Gòn xưa, người Sài Gòn trước 1975.
Theo Việt Báo giới thiệu, Khánh Minh đã xuất bản các tập thơ như: Tặng Phẩm Và Trăm Năm (1991), Tơ Tóc Cũng Buồn (1997), Đêm Hoa (1999), Những Buổi Sáng (2002), Bùa Hương (2009), Hoa Mùa Cổ Tích (2012), Ký Ức Của Bóng (2013), Bóng Bay Gió Ơi (2014), Tản Văn Thi (2018), Ngôn Ngữ Xanh (2019) và Đêm (2021).
Trong cuộc trò chuyện với Việt Báo năm 2020, Khánh Minh nói, thơ mình thường được những giấc mơ dẫn đường. Tác giả nhìn thực tại qua lăng kính của mơ và xem việc đưa sự khó nắm bắt vào ngôn từ là một hành trình sáng tạo.
Lời tự bạch này giúp bạn đọc hiểu thêm, với tác giả, mơ có thể được hiểu như một cách biến đổi trải nghiệm hiện thực bằng trí tưởng tượng và ngôn ngữ.
Những kỹ thuật ngắt câu, những liên tưởng bất ngờ, và hình ảnh khó quy về một nghĩa duy nhất không làm văn bản thơ của Khánh Minh mất đi cấu trúc, trái lại, chúng buộc người đọc chú ý đến nhịp điệu, sự lặp lại, quan hệ giữa các hình ảnh và những khoảng trống giữa các chữ thơ của tác giả.
Đặt Khánh Minh trong bối cảnh văn chương miền Nam và văn chương Việt ngữ hải ngoại, ta nhận ra được sự diệu kỳ về tính liên tục của tiếng Việt qua những biến động của lịch sử.
******
II. Con Chuồn Cành Ớt Rầu Rầu Hoa Phai
131.
em về
trong giấc xưa. đêm
bóng ai vừa mới
thề nguyền. bỗng nhiên
quay lưng mộng
lạnh. chân tìm
người đi mất dấu
bóng chìm
thất thanh
em về
sương thấm mong manh
đêm qua giục tiếng
ngày xanh lụn tàn
thinh không mỏi bước
quáng quàng
nghe cõi đất mở
rộn ràng
cõi xưa
em về
lạnh ngõ quê trưa
tre già cong bóng
đong đưa võng sầu
khói lam chiều
bay đi đâu
con chuồn cành ớt
rầu rầu hoa phai
em về
tay nắm
hôm qua
kia bóng ai ở
đường xa. giật mình
em về
ngồi với vô hình
nghe thân rủ bóng
tự tình ở. đi
em về
tay nắm
hôm nay
nghe thân bóng nhập
hình hài phút giây
thời gian
xấp ngửa bàn tay
em về
ngồi với
xưa rày
nhẹ bong.
(2026)
Bài thơ thứ 131 là cuộc trở về trong giấc mơ của tác giả, với tình yêu, với quê nhà, với bóng hình quá khứ và với cuộc sống hiện tại.
Cuộc trở về không đưa tác giả đến một nơi ổn định, mà ngược lại, nó làm hiện ra sự chồng lấn giữa hôm qua, hôm nay và “xưa rày”.
Điệp ngữ “em về” vừa được dùng để mở đầu bài thơ, vừa được dùng như nhịp trở lại để tìm kiếm. “Giấc xưa”, nay đã không còn nguyên vẹn, vì lời thề thấp thoáng đã bị phủ bóng bởi sự quay lưng, khiến giấc mộng lạnh đi.
Những dấu chấm giữa dòng làm mạch kể đứt khúc, và vì thế, ký ức hiện lên thành từng mảnh. “Bóng chìm”, “thất thanh” gợi sự mất dấu và sự bất lực của tiếng nói trước chia lìa. Tác giả trở về để đi tìm người xưa và nhận ra, ký ức về người ấy đã trở thành một phần của tâm trí mình.
“Sương thấm mong manh” âm thầm ngấm vào cảnh vật. “Mong manh” vừa gợi cảnh, vừa gợi độ mỏng của ký ức và sự hiện hữu. “Đêm qua” đặt cạnh “ngày xanh lụn tàn” đã khiến quá khứ và tuổi trẻ hiện lên dưới sức ép thời gian. “Thinh không mỏi bước” là một kết hợp nghịch lý, khoảng không vốn vô hình lại được trao cho bước chân mệt mỏi.
Tre, võng, khói lam, cành ớt, gợi một miền quê thân thuộc. Nhưng quê nhà đã không được tác giả cho lý tưởng hóa thành một chốn bình yên tuyệt đối. “Lạnh ngõ quê trưa”, “võng sầu”, “hoa phai” phủ lên cảnh vật một sắc thái tàn úa. Đặt hình ảnh con chuồn trên cành ớt nhỏ bé cạnh cảnh vật bình dị, tác giả đã khiến cho nỗi buồn trong thơ càng trở nên thấm thía hơn.
Từ câu “em về / tay nắm / hôm qua”, diễn tả một nỗ lực bất khả: quá khứ không thể nắm giữ như một vật thể, cho đến câu “em về / ngồi với vô hình”, tác giả đã chuyển cuộc tìm kiếm từ bên ngoài vào nội giới. Cặp từ “ở. đi” đặt hai chiều vận động cạnh nhau, gợi sự giằng co giữa lưu lại và rời khỏi, hiện diện và biến mất.
Đoạn kết chuyển từ “hôm qua” sang “hôm nay”, nhưng hiện tại cũng chỉ hiện ra trong “phút giây”. Hình ảnh “thời gian / xấp ngửa bàn tay” nêu tính bất định của thời gian. “Nhẹ bong” gợi cho người đọc, cuộc trở về này không còn nặng nề, ngay cả khi, với nhu cầu khôi phục quá khứ nguyên vẹn.
Bài thơ gợi buồn nhưng không bi lụy. Với tôi, đây chính là bản lãnh của các nhà thơ nữ. Làm thơ được như vậy, khó lắm, không dễ đâu. Sướt mướt, ai mà chẳng viết được. Nhưng thê thảm, mà vẫn nuốt lệ được vào trong, khiến chữ thơ viết ra không bị úng, không bị nhũn, không bị chèm nhẹp, đấy mới là tài thơ.
Bài thơ đã thành công khi dẫn người đọc, từ mong muốn tìm lại điều đã mất, đến khả năng ngồi bên ký ức mà không đòi hỏi ký ức phải trở lại nguyên vẹn.
******
III. Mở Tung Hết Cửa Gió Lùa Nhà Không
132.
rỗng rang
trời đất
như vừa
mở tung hết cửa
gió lùa
nhà không
chật dày
trời đất
thốt thưa
nín hơi cửa đóng
bặt mùa
nhân gian
trong ngoài
nghe dội tiếng khan
vỡ đôi tiếng khóc
kêu ran
phận người.
(2026)
Bài thứ 132 đã dựng lên được nghịch cảnh: khi mọi cánh cửa mở ra, con người tưởng chừng như mình đã được giải thoát, nhưng rồi “nhà không” giữa trời đất rộng lớn, ngược lại, càng làm cho sự trống vắng trở nên rõ rệt hơn.
Từ không gian vũ trụ, bài thơ dần thu hẹp vào tiếng khóc và phận người.
“Rỗng rang / trời đất / như vừa / mở tung hết cửa” đã mở ra một không gian thoáng rộng. “Rỗng rang” ở đây mang nghĩa thông thoáng, không vướng mắc. Nhưng “gió lùa / nhà không” khiến sự rộng mở ấy hóa thành trống trải. Gió vừa là chuyển động của thế giới, vừa làm người đọc cảm nhận rõ hơn căn nhà thiếu vắng sự hiện diện của con người.
“Chật dày / trời đất” đã đảo chiều cảm giác, không gian không đổi về vật chất mà đổi theo tâm thế. “Thốt thưa”, “nín hơi”, “bặt mùa”, gợi sự lặng lẽ, gợi cảm giác như chu kỳ sống bị ngưng trệ. “Trong ngoài / nghe dội tiếng khan”, ranh giới bên trong và bên ngoài trở nên khó phân định. “Vỡ đôi tiếng khóc / kêu ran / phận người” đưa nỗi trống vắng từ cảm giác riêng tư sang câu hỏi rộng hơn về thân phận con người. "Gió lùa” đến “tiếng khan”, “tiếng khóc”, “kêu ran”, làm cảm xúc người đọc cứ tăng dần theo cường độ âm thanh.
Bài thơ bày tỏ một quan niệm hiện sinh: sự rộng mở và tự do không loại bỏ được bản chất cô đơn và bất an vốn dĩ của loài người.
“Nhà không” trong thơ nhắc đến tư tưởng Phật giáo về tính không. Trong Phật học, tính không không đồng nghĩa với hư vô. Tính không liên quan đến việc các pháp không có tự tính độc lập, bất biến và hiện hữu trong quan hệ duyên khởi.
Quay lại bài thơ, vậy điều gì làm nên mái nhà: bốn bức tường, cánh cửa, hay sự hiện diện và kết nối giữa con người? Khi những điểm tựa quen thuộc mất đi, nhu cầu được lắng nghe và sẻ chia càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết.
******
IV. Kiếp Mai Trờ Tới Xanh Rờn Mộ Xưa
133.
đất trời
câm nín mòn hơi
đường xa bóng dựng
thân người héo hon
đỉnh này
vực nọ chon von
kiếp mai trờ tới
xanh rờn
mộ xưa
kiếp sau khuất núi
bụi mờ
còn vương chút hạt
ơ hờ
đến. đi.
(2026)
Bài thứ 133 đặt con người trước giới hạn của thân phận và thời gian.
Những đường xa, bóng dựng, thân người héo hon, đỉnh cao, vực sâu - đã tạo nên hình ảnh một thế giới thực chênh vênh. Hình ảnh “xanh rờn / mộ xưa” đưa đến nghịch lý: sức sống xanh tươi xuất hiện ngay trên dấu vết của cái đã mất.
Với “đất trời / câm nín mòn hơi”, tác giả đã nhân hóa vũ trụ như một chủ thể kiệt sức, không đáp lại câu hỏi của con người. “Bóng dựng” làm hình ảnh trở nên bất an. “Thân người héo hon” đưa suy tưởng về hữu hạn trở lại với cơ thể cụ thể. Đỉnh và vực là hai cực cao thấp, vươn lên rơi xuống, gợi những biến động trái chiều trong đời sống.
“Kiếp mai trờ tới” là tương lai, nhưng tương lai ấy vẫn như mờ khuất. “Xanh rờn” là sức sống, còn “mộ xưa” là mất mát và dấu tích. Khi đặt chúng cạnh nhau, tác giả đã không hề khẳng định rằng, cái chết tất yếu sinh ra sự sống, mà tác giả chỉ giúp người đọc, cảm nhận được sự tiếp nối của thế giới, bên cạnh dấu vết không thể xóa của những gì đã từng đi qua nơi cõi nhân gian này.
“Kiếp sau” vừa gợi liên tưởng đến sự luân hồi trong văn hóa Phật giáo, vừa là hình ảnh về tương lai. “Khuất núi”, “bụi mờ” làm đích đến trở nên xa khuất. “Còn vương chút hạt / ơ hờ” mang nghĩa, chỉ để lại vài dấu vết nhỏ. Cặp “đến. đi” buộc người đọc phải suy tư về sự hiện hữu.
Bài thơ không giải đáp câu hỏi về kiếp sau hay sự bất tử. Mộ xưa vẫn có thể xanh, nhưng màu xanh không làm quá khứ trở lại. Trong nghịch lý ấy, con người vừa nhận ra giới hạn của mình, vừa cảm nhận sức sống vẫn đương được tiếp tục bằng những biến đổi không ngừng của thế giới.
******
V. Thế Gian Cát Bụi Mịt Mờ
136.
trời quay đất cũng mòng mòng
trăm cây vó dựng
đoanh tròng phố mưa
thế gian cát bụi mịt mờ
nhân gian chợt cũng
ngu ngơ phận người.
(2026)
Nếu bài 132 đặt con người trong không gian vừa mở vừa đóng, bài 133 buộc con người đối diện với hữu hạn, thì bài 136 đưa cảm thức bất an vào bức tranh thế gian quay cuồng.
Những hình ảnh mạnh và chữ thơ giàu khẩu ngữ được dùng trong bài thơ, đã khiến người đọc đi từ sự đảo điên của vũ trụ đến sự ngơ ngác về thân phận.
“Trời quay đất cũng mòng mòng” đảo ngược trạng thái ổn định quen thuộc. Từ láy “mòng mòng” gợi cảm giác quay cuồng, choáng váng, mất phương hướng. Vậy, thế giới đang đảo lộn, hay tâm thức con người đang chao đảo trước thế giới? Cả hai. Hai khả năng này cộng hưởng lại, khiến nguyên nhân và hệ quả khó thể tách rời.
“Trăm cây vó dựng / đoanh tròng phố mưa”, tạo ra những đường nét dựng đứng, chuyển động bất thường và cái nhìn quay cuồng giữa phố mưa. “Thế gian cát bụi mịt mờ” vừa gợi bản chất mong manh vừa gợi thân phận hữu hạn. “Mịt mờ” không chỉ là trạng thái của cảnh vật, mà còn là giới hạn của nhận thức: con người không thể biết mình sẽ đi về đâu, cũng như không biết điều gì sẽ đến.
“Nhân gian chợt cũng / ngu ngơ phận người” là điểm kết tinh của cả bài thơ. “Nhân gian” mở ra cộng đồng rộng lớn, còn “phận người” đưa suy tưởng trở lại cá thể. Từ “ngu ngơ” làm mềm giọng triết luận: con người không chỉ đau khổ hay tuyệt vọng mà còn ngỡ ngàng, lúng túng trước những điều mà mình không tài nào hiểu được.
Bài thơ kết hợp ngôn ngữ dân gian và những hình ảnh bất thường, từ trời đất đến thế gian rồi nhân gian, khiến phạm vi suy tưởng thu hẹp dần. Rồi từ việc đưa câu hỏi vũ trụ về với thân phận cá nhân, tác giả đã đưa ra một góc nhìn hiện sinh: sự ngơ ngác có thể là điểm khởi đầu cho việc tự nhận thức sau này và trạng thái hiện tại không phải là bất biến.
Đọc xong bài thơ, ta không chỉ hình dung được một thế gian quay cuồng, mà còn nhận ra giới hạn của con người, đó là, không thể nào hiểu hết được thế gian.
******
VI. Thanh Xuân Vướng Mộng Cành Lau Dặm Về
140.
Cuối xuân rồi. Cuối xuân chưa*
mà nghe cõi đất bay mờ vó câu
hụt hơi từ bấy. tìm nhau
thanh xuân mộng
vướng cành lau. dặm về
thanh xuân mộng
cuối vườn kia
nhặt vài hoa khế
tím mê man lời
tìm nhau. bao dặm mòn hơi
mù khơi
tóc gọi
mấy trời
gió bay.
(2026
*thơ Trầm Phục Khắc)
Bài thứ 140 là cuộc tìm kiếm giữa mùa xuân, tuổi trẻ, tình yêu và những khoảng cách không thể đo bằng địa lý. Thanh xuân không chỉ là một thời đoạn của đời người mà còn là giấc mộng bị níu giữ, một hành trình dài chưa chắc đã dẫn đến cuộc gặp.
“Cuối xuân rồi. Cuối xuân chưa” đặt hai trạng thái đối nghịch cạnh nhau. Dấu chấm tạo khoảng ngừng, trở thành câu hỏi nội tâm về thời gian. Mùa xuân gợi tuổi trẻ, tình yêu và những cơ hội đang trôi qua.
“Vó câu” gợi tiếng vó ngựa và sự di chuyển nhanh. “Bay mờ” làm cảnh vật nhòe đi trong chuyển động. “Mà nghe cõi đất bay mờ vó câu” vừa ám chỉ hành trình vừa ám chỉ thời gian đã vượt khỏi tầm tay.
“Hụt hơi từ bấy. Tìm nhau” đưa cuộc tìm kiếm về cảm giác cơ thể. “Từ bấy” mở ra một khoảng thời gian kéo dài mà không xác định rõ điểm khởi đầu. “Tìm nhau”, tìm người đã xa, tìm lại bản thân, tìm lại tuổi trẻ, tìm lại điều đã từng bị bỏ lỡ.
Bằng câu "Thanh xuân mộng / vướng cành lau. Dặm về”, tác giả đã đặt giấc mộng rộng lớn bên cành lau mảnh. Cành lau là trở ngại, là dấu vết cảnh vật, hay chi tiết níu giữ ký ức, bạn đọc hiểu cách nào, theo tôi, cũng vẫn được. “Dặm về” ám khoảng cách và phương hướng nhưng chưa chỉ ra đích đến.
“Cuối vườn kia / nhặt vài hoa khế / tím mê man lời” đưa bài thơ về một miền gần gũi. "Hoa khế" gợi màu sắc và ký ức đời thường. “Tím mê man lời” chuyển màu sắc thành cảm giác ngôn ngữ, khiến màu tím dường như có tiếng nói mà lời thường khó diễn đạt.
Ở đoạn cuối, “bao dặm mòn hơi”, “mù khơi”, “tóc gọi”, “mấy trời”, “gió bay” đã nối tác giả với không gian xa rộng. Khoảng cách trở thành sự hao kiệt, còn tiếng gọi thì tan vào gió. Tuy bài thơ không xác nhận cuộc gặp đã hoàn thành hay chưa, nhưng với tôi, chính sự không hoàn tất ấy, mới tiếp tục giữ được cuộc tìm kiếm trong tâm thức cho người đọc.
Nhịp thơ đứt khúc, cùng với sự trở lại của “thanh xuân mộng” và “tìm nhau”, cùng với những hình ảnh nhỏ như "cành lau", "hoa khế", "tóc", đặt bên cạnh “mù khơi”, “mấy trời”, đã tạo nên khoảng cách giữa gần và xa.
Đọc bài thơ, ta nhận ra, tuổi trẻ đang lần mòn trôi đi và sự tìm kiếm ngày càng tuyệt vọng: càng mong trở lại, ta càng nhận ra khoảng cách. Dẫu vậy, cuộc tìm kiếm ấy vẫn rất đẹp vì những tiếng gọi và hình ảnh còn lại đã khiến quá khứ tiếp tục rung động trong hiện tại.
******
VII. Hóa Ra Dị Mộng Giữa Người Và Ta
149.
Vẽ thử hạt lệ. Ồ không
Vẽ chơi cười nụ. Lại tròng trành môi
Vẽ thêm những bước tới lui
Hóa ra dị mộng giữa người và ta.
(2022)
Bài thứ 149 ngắn như một phác thảo nhưng lại đặt ra được câu hỏi về khả năng thấu hiểu giữa người với người. Từ những động tác vẽ tưởng như vô tư, tác giả nhận ra điều mình đã tạo nên, không phải một hình ảnh thống nhứt mà là “dị mộng”. "Dị mộng" là những giấc mộng khác nhau, không hoàn toàn trùng khít.
“Vẽ thử hạt lệ. Ồ không” đã mở đầu bài thơ bằng một thao tác thử nghiệm rồi lập tức bị ngắt. “Hạt lệ” nhỏ bé nhưng chứa cảm xúc lớn. Tiếng “ồ không” báo hiệu kết quả không như dự tính. Khi cảm xúc được chuyển thành hình ảnh, thì liệu hình ảnh có thể giữ nguyên được trải nghiệm ban đầu?
“Vẽ chơi cười nụ. Lại tròng trành môi”, sự lệch lạc lại vẫn tiếp tục. “Cười nụ” gợi nét nhẹ nhàng, còn “tròng trành môi” gợi nụ cười bất ổn giữa vui và buồn. Từ “lại” cho thấy nỗ lực biểu đạt của tác giả, tiếp tục không đi đúng hướng.
“Vẽ thêm những bước tới lui” mở rộng từ gương mặt sang hành vi. “Bước tới lui” chỉ ra sự do dự, đổi hướng, nghĩa là, cuộc đối thoại chưa tìm được điểm dừng. Càng thêm vào chi tiết, thì người vẽ càng nhận ra sự phức tạp không dễ thu vào một hình ảnh.
“Hóa ra dị mộng giữa người và ta” ở cuối bài là phát hiện của tác giả. “Người và ta” đứng cạnh nhau nhưng không bị đồng nhứt. Hai người có thể chia sẻ một không gian, cùng đi qua một sự việc, nhưng vẫn mang những trải nghiệm và cách nhìn riêng. Khác biệt không nhất thiết là thất bại của tình cảm vì mỗi người đều có một đời sống tinh thần riêng, độc lập.
Cấu trúc “vẽ thử”, “vẽ chơi”, “vẽ thêm” tạo nhịp thử nghiệm và bất thành. Từ "giọt lệ" đến "nụ cười" rồi "bước chân", bài thơ mở rộng phạm vi quan sát trước khi gom các chi tiết thành nhận thức về quan hệ giữa con người.
Với góc nhìn hiện sinh của mình, tác giả cho rằng: mỗi người sẽ nhìn thế giới từ vị trí và trải nghiệm riêng. Hay nói một cách khác đi, sự yêu thương và đối thoại không hề đòi hỏi con người phải xóa bỏ mọi khác biệt, mà cần sự kiên nhẫn để đến gần nhau qua những khác biệt ấy.
******
VIII. Em Về Sương Thấm Mong Manh
Tôi thích lắm, sáu chữ này của tác giả Khánh Minh trong bài thơ thứ 131, nên không chỉ lấy nó làm tiêu đề của phần kết, mà tôi còn dùng nó làm nhan đề cho toàn bài viết nữa.
“Em về”, về với ký ức, về với một thời tuổi trẻ, về với người đã xa và về với cả những điều chưa thể gọi tên.
“Em về” này, tuy không đồng nghĩa với việc phục hồi nguyên vẹn quá khứ, bởi vì, những ranh giới giữa hình và bóng, giữa hiện tại và ký ức, giữa ý định và kết quả, chúng luôn dao động, nhưng cuộc tìm kiếm ấy vẫn mang một ý nghĩa cao đẹp của con người trong thực tại.
“Em về sương thấm mong manh” còn khiến tôi thích, bởi sắc thái nhẹ nhàng, nền nã và rất nữ tánh của câu thơ. Nữ tánh ở đây, không có nghĩa là mềm yếu, càng không phải là sự buồn đau, mà nữ tánh trong thơ của Khánh Minh, đến từ những trải nghiệm riêng, từ nỗi cô đơn, từ sự nhận thức và khả năng lãnh hội thơ ca, khả năng thấu hiểu cuộc đời của chị.
Tuy đọc thơ Nguyễn Thị Khánh Minh chưa nhiều, nhưng cũng đủ cho tôi có một nhận định ban đầu, đây là một giọng thơ rất riêng và có nội lực.
Và tôi cũng không ngại nhắc lại, thoạt nhìn thôi, chưa đọc, là tôi cũng đã “khoái” thơ Khánh Minh rồi, bởi những bài thơ không màng cả việc đặt tên, bởi cách viết không lổn ngổn các chữ in hoa dày đặc. Đây là lối viết thơ đặc thù của nhiều tiền bối như Du Tử Lê, như Hoàng Lộc, như Đỗ Trung Quân… , và nhiều tác giả khác nữa, mà tôi không thể nhớ hết, và, ngay cả với tôi, cũng y hệt vậy - không bao giờ viết hoa trong thơ, bởi quan niệm về thơ của tôi - thơ là dòng chảy, không khởi đầu, không kết thúc.
Sự “khoái” ấy, còn ở chỗ, bàng bạc trong thơ Khánh Minh là những học thuyết của nhà Phật như vô thường, như duyên khởi, như tánh không, và, cả triết học hiện sinh nữa. Bàng bạc thôi, nhưng thấm, và rất duyên. Bàng bạc thôi nhưng đã khiến thơ Khánh Minh trở nên sâu lắng, không hời hợt.
Bên cạnh đó, vì ngôn ngữ thơ của Khánh Minh rất giàu có, nên thơ chị, không chỉ chuyển tải cảm xúc có sẵn, mà còn tham gia vào việc tạo nên cảm xúc và nhận thức cho bạn đọc thơ.
Điều ở lại trong tôi, sau khi đọc thơ của Nguyễn Thị Khánh Minh, không phải là lời giải đáp, mà là cảm giác vừa đi qua miền ký ức quen thuộc, vừa chạm vào một thế giới xa vắng chưa từng biết: Con người trở về nhưng không thể trở lại nguyên vẹn. Tuổi trẻ được gọi tên nhưng đã thấp thoáng bóng chiều. Giọt lệ được vẽ rồi biến thành nụ cười tròng trành. Và giữa người với ta, những giấc mộng vẫn không ngừng đi về hai phía.
Nói một cách khác đi, thơ Khánh Minh đã mở ra được những câu hỏi bền bỉ: Ta là ai trong những gì mình nhớ? Điều gì còn lại khi thời gian đi qua? Làm thế nào để đến gần một người khác mà không buộc người ấy trở thành hình ảnh do mình tưởng tượng?
Và tác giả không vội trả lời, chị để câu thơ dừng lại, để gió đi qua căn nhà không, để màu xanh mọc bên mộ cũ, để tiếng gọi tan vào mù khơi. Trong những khoảng lặng ấy, thơ Nguyễn Thị Khánh Minh đã khiến ta nghe được cả những điều bình thường, những điều bình thường rất dễ bị người đời bỏ quên.
Thơ Khánh Minh, tinh tế mà không hời hợt, mong manh mà vẫn có sức bền suy tưởng, riêng tư mà mở ra những vấn đề chung của con người.
Biết là không thể xóa bỏ khoảng cách, nhưng thơ Khánh Minh lại giúp ta hiểu ra, vì sao giữa người với ta vẫn có những miền không thể đi hết, cũng như, giúp ta nhận ra vẻ đẹp của tình yêu, của tuổi trẻ, ngay trong khoảnh khắc nó đang trôi qua và phai nhạt, tan biến dần, tựa như buổi:
Em Về Sương Thấm Mong Manh!
Sài Gòn 20.10.2026
Phạm Hiền Mây
Nguồn: Fb Phạm Hiền Mây
