
Dãy trọ nằm sâu trong con hẻm nhỏ ở Sài Gòn luôn bảng lảng mùi hoa dạ lý hương trồng trên ban công dài ra trước cửa của chủ nhà. Đó cũng là nơi tôi thuê trọ. Tôi, chàng trai nhà quê hai mươi tuổi với nước da rám nắng và đôi mắt ngơ ngác ngày đầu lên phố, đã dừng chân tại đây. Chủ nhà là một người phụ nữ ngoài 30 tên Phương, chẳng biết đó phải tên thật không vì có người gọi là cô Lâm, sau này tôi biết Lâm chỉ là cái họ. Chị có vẻ ngoài điềm tĩnh, đôi mắt luôn phảng phất một nỗi buồn sâu kín nhưng nụ cười lại ấm áp vô ngần. Chút đỉnh đạc của người phụ nữ từng trải và thành công. Chị Phương không đẹp theo kiểu rực rỡ, mà đẹp như một bức tranh cũ bị bỏ quên trong góc nhà. Người chị luôn có một mùi hương rất lạ, dìu dịu, thoang thoảng, không thanh cũng chẳng gắt. Chị có khuôn mặt trái xoan thanh tú, làn da trắng mỏng đến mức nhìn rõ những mạch máu li ti nằm sâu dưới thái dương. Đôi mắt chị là thứ khiến tôi ám ảnh nhất: nó sâu thẳm, lúc nào cũng như có một lớp sương mờ bao phủ, che giấu nỗi đau của một người mẹ mất quyền nuôi con mà sau này tôi được biết qua lời kể. Khi chị cười, nụ cười không bao giờ chạm đến ánh mắt, nó chỉ dừng lại ở khóe môi, có sự buồn bã bất cần và mệt mỏi. Nghe đâu chị giàu có nhưng luôn mang theo phong thái của sự tần tảo kiểu người thích làm việc không chịu nhàn hạ. Chị thường mặc những chiếc áo sơ mi trắng trong nhà hoặc mỗi khi có việc ra ngoài. Chị rất hiếm khi tiếp chuyện với ai kể cả những người trong dãy trọ, một dạng người lặng lẽ và lạnh lùng. Dáng người chị mảnh khảnh, hơi gầy. Tôi thường thấy chị ngồi ở hiên nhà ly cà phê luôn đặt trên chiếc bàn gỗ đen mun. Chị có thói quen trầm tư rất lâu, đôi vai hơi nhô lên, nét đăm chiêu rõ niềm cô độc trong vạt nắng chiều. Đã 3 ngày tôi thấy chị như một hình ảnh quen thuộc của sự trầm mặc. Chị uống cà phê như một nghi thức. Không nhấp từng ngụm nhỏ, mà thường nhìn trân trân vào làn khói đá trước khi uống một ngụm thật lớn, như kiểu muốn dùng vị đắng đó để lấn át đi sự đắng cay bên trong. Một chiều tôi từ xưởng gỗ trở về, chị gọi lại:
- Này em. - Chị gọi nhưng không nhìn tôi, đôi mắt vẫn dán vào ly cà phê.
Tôi nhìn xung quanh chẳng biết chị gọi ai. Nhưng chẳng thấy một người nào khác. Thấy tôi còn do dự, chưa dám bước tới gần vì sợ nhầm lẫn. Chị lại lên tiếng tiếp.
- Là em đó. Người mới tới thuê trọ.
Bây giờ tôi mới biết là chị gọi tôi.
- Có gì không chị. - Tôi nói.
- Ngày mai em phô tô giùm chị chứng minh thư, và 2 tấm ảnh 3×4 để làm tạm trú nhé.
Bây giờ tôi mới nhìn rõ chị hơn. Chị có đôi bàn tay rất đẹp, chẳng thô ráp như tay tôi, nó mịn màng không tì vết. Điều tôi chú ý hơn đó là một hình xăm nhỏ dưới cổ tay. Chẳng biết đó là hình gì do chị đã úp xuống. Chị có thói quen mân mê chiếc nhẫn cưới, nhích lên rồi đẩy lại như cũ, lộ vết hằn trắng nhạt trên ngón áp út một dấu tích của cuộc hôn nhân không mấy hạnh phúc mà sau này tôi mới biết một cách đầy chi tiết cụ thể. Chị, chính người phụ nữ đã mang hương vị cà phê đến với đời tôi cho đến tận giờ này.
Chị Phương hơn tôi 12 tuổi, nhưng nhìn chị trẻ lắm. Thậm chí trẻ hơn cả tôi. Cái nét u ẩn, nụ cười nhạt hình như không tác động nổi đến gương mặt. Nó chỉ thoáng lên chốc lát rồi vụ tan biến đi. Dù vậy, vẫn để lại sự tò mò cho người đối diện. Chiều hôm sau khi đi làm về, tôi ghé đưa giấy tờ như chị đã yêu cầu trước đó. Chị không nhìn kỹ tôi, chỉ quét mắt qua một lượt rồi hỏi.
- Em là sinh viên hả?
- Dạ không! Em là người đi làm công.
Bây giờ chị mới ngước lên nhìn thẳng vào tôi. Có điều gì đó làm chị bất ngờ.
- Sao sách vở để trên bàn nhiều vậy?.
- Em đi đâu cũng mang theo chúng. - Tôi trả lời, có phần hơi lạc hướng vì lúng túng.
- Em đã đọc hết số sách ấy chưa? - Chị hỏi.
- Dạ rồi.
- Thế tại sao lại còn mang theo cả chồng sách ấy cho thêm nặng hành lý, lại bừa bộn. Số sách đó ước lượng cũng trên 5 kilogram.
- Mặc dù đã đọc, nhưng đi đâu cũng mang theo như vật bất ly thân vậy mà.
Rồi, chị nhìn tôi chằm chằm như đánh giá một con người hoàn toàn không giống ai. Chắc là sự so sánh giữa tôi và vô số người lao động khác. Trừ các sinh viên ở các phòng đầu ra. Tôi đoán vậy. Chị khẽ cười rồi gật đầu. Cũng chẳng biết chị cười cái gì và gật đầu điều chi. Chị thấy được phòng tôi là do không có thói quen đóng cửa sổ. Chẳng biết ai đã đặt cái bàn ngay vị trí ấy, có thể là các sinh viên trước đó. Thấy thuận lợi bởi ánh sáng từ ngoài hắt vào, tôi dùng làm nơi viết, đồng thời bày tất cả các cuốn sách ra. Có lẽ đối với chị tôi là người hơi lạ, hướng hoài niệm lẫn nội tâm, vì thế chị hỏi hơi nhiều so với những người khác trong dãy trọ. Chiều hôm sau, tôi vẫn đi về trong cơn mưa tầm tã thấy chị vẫn ngồi đó dưới mái hiên như hôm qua, vẫn là ly cà phê quen thuộc, vẫn là đôi mắt dán vào đó. Chị gọi.
- Này! Quang.
Tôi đứng khựng lại vài giây rồi đi lại phía chị vì có nỗi bất ngờ.
- Chị kêu em hả? - Tôi hỏi.
- Ủa! Em không phải tên Quang sao?
- Phải! Nhưng em nhớ là chưa nói tên cho chị biết mà.
Bỗng nhiên chị che miệng cười, nụ cười rất giòn tan như mọi sự tâm tư đã bay đi sạch.
- Em không nhớ là đã photo chứng minh thư đưa cho chị để làm tạm trú rồi à. Đi làm sao không mang áo mưa theo để ướt chèm nhẹp hết vậy.- Chị nói.
- Em đi bộ thì mang áo mưa theo làm gì. - Tôi nói.
- Chỗ làm ở xa không?
- Dưới ngã tư.
- Ôi vậy thì đi bộ lâu lắm. Dầm mưa từ đó về tới đây à?
- Phải. - Tôi đáp ngắn gọn.
- Em cho chị mượn chứng minh thư gốc. Chiều mai sẽ trả lại. - Chị nói.
- Dạ! Một lát em mang qua.
- Ừ, thôi em về đi! Nhớ nấu nước ấm tắm để kẻo bị cảm lạnh.
Nhắc tới chuyện chứng minh thư tôi gãi đầu tự cười cho sự lú lẫn của chính mình. Tôi lầm lũi đi về cái phòng trọ cuối cùng. Đó cũng là nơi chị hay đi ngang bằng lối bên hông nhà để tiện ra phía sau. Về tới phòng tắm rửa xong, tôi cuộn chăn nằm trong cơn mệt mỏi thừ lừ, thay vì đi ra ngoài ăn cơm như mọi ngày. Hơn 7 giờ tối tôi nghe tiếng gõ cửa, tiếng gọi tên. Ban đầu những tiếng gõ rất khẽ, rồi to dần. Chị nhìn qua cửa sổ thấy tôi đang nằm. Chị nói.
- Chứng minh thư đâu. Đưa đây để chị mang đi làm tạm trú. Mới có 7 giờ tối mà đã ngủ rồi sao?
Tôi khẽ khàng trở mình trong nỗi yếu ớt. Không trả lời. Hai mắt nhắm nghiền như chẳng bận tâm mọi thứ xung quanh.
- Em bị làm sao vậy! Mở cửa ra coi. - Chị nói rất lớn, có sự nôn nóng, có sự bực tức.
Tôi cố gắng ngồi dậy mở chốt cửa rồi trở lại nằm tiếp. Chị nói một tràng tiếng Tiều mà tôi chẳng hiểu là đang nói gì. Có lẽ trách móc vì sự chậm chạp. Chị lấy tay chạm vào trán, vào cổ, vào ngực rồi nói thành tiếng.
- Sốt cao rồi. Đừng khóa cửa nhé. - Chị nói rồi quay lưng bước ra ngoài.
Một lát sau tôi nghe tiếng dép lẹp xẹp trên nền xi măng đang tiến đến phòng. Chị đã tới, một chiếc khăn ẩm ướt đặt lên trán, một chiếc khăn khác lau khắp người. Trong lim dim mơ hồ tôi thấy mình trở về căn nhà cũ ở quê, gương mặt mẹ lại hiện lên trong những lần đau ốm. Mẹ ân cần chăm sóc. Hình ảnh ấy khá nhạt nhòa đã từ lâu lắm rồi, nay hiện rõ trong tâm trí.
- Cứ nằm đây. Đừng khóa cửa.
Tôi cảm nhận được chị Phương đã rời đi, tiếng dép nhỏ dần rồi mất hẳn. Trên trán chiếc khăn vẫn còn đặt. Tôi nằm đó chống chọi với cơn nóng lạnh dữ dội. Có thể đây là sự hãi hùng lớn nhất từ xưa tới nay. Mãi 30 phút sau chị trở lại, tôi nghe được mùi cồn y tế sát trùng, một thứ gì đó lạnh lạnh chạm vào bắp tay. Tôi trở mình, chị nói khẽ khàng bên tai. Lời nói như gió thoảng.
- Nằm yên. Chị đang tiêm thuốc.
Nghe xong tôi giật mình muốn chạy thoát ra, vì chẳng biết chị tiêm vào người tôi thuốc gì, với lại chị có biết gì về việc này, đúng hơn nó thuộc về ngành y tế. Nhưng cơn mỏi mệt khiến tôi phải bất lực nằm im. Như đọc được suy nghĩ, chị nói như trấn an.
- Chị là bác sĩ. Yên tâm.
Tôi cảm nhận được trên bắp tay như một con kiến đang cắn đau nhói. Rồi cảm nhận thêm một làn hơi nóng phảng phất mùi hành, tiêu xay. Là cháo nóng chị vừa đổ ra tô. Chị múc muỗng đầu tiên thổi vù vù rồi nói bên tai tôi.
- Há miệng ra.
Tôi nghe theo như một sự máy móc. Lần lượt hết muỗng này đến muỗng khác. Được gần nửa tô tôi lắc đầu không muốn ăn tiếp. Chị lấy ra vài viên thuốc bắt tôi phải uống. Chị lom khom tìm nơi để treo chai nước biển. Một lát sau tôi cảm nhận có vật nhọn đâm đầu vào da thịt rồi vài đường keo dán lại cố định. Thì ra chị đang tiến hành truyền nước. Tôi nằm đó mắt nhìn lên trần nhà, chị cũng ngồi cạnh cả đêm, đi ra lại đi vào để coi ngó. Tôi ngủ thiếp đi, thức dậy nghe trong người đã khỏe hơn. Giật mình khi thấy chị vẫn còn ngồi đó lưng quay về phía tôi, chị đang đọc sách. Tôi buột miệng gọi.
- Mấy giờ rồi chị?.
Chị quay lại khẽ cười. Nụ cười không quá phô trương nhưng lại có sức hút mãnh liệt. Nó thấp thoáng nơi khóe môi, đi kèm với ánh mắt sâu thẳm như chứa đựng cả một bầu trời tâm sự, vừa quyến rũ vừa đầy bí ẩn cần khám phá.
- Dậy rồi à? Đã 23 giờ 26 phút. Thấy trong người sao rồi? - Chị hỏi
- Đỡ hơn rất nhiều. Sao chị chưa về ngủ?
- Chị không thể để em một mình khi đang truyền nước.
Tôi và chị cùng nhìn lên chai nước biển đã hết từ bao giờ. Có thể chị mải mê đọc bên bàn viết nên không chú ý. Bất ngờ chị hỏi.
- Lần đầu tiên xa quê nên đang nhớ nhà phải không?
Tôi gãi đầu mà chẳng biết trả lời thế nào cho phù hợp với câu hỏi từ chị. Đúng là lần đầu tiên xa quê, nhớ nhà thì ai xa mà không nhớ. Thì ra chị hỏi câu này là lúc tôi mê sảng trong cơn sốt li bì miệng liên tục gọi mẹ. Có thể chị hiểu nên không hỏi gì thêm. Chị lật cuốn sách lại, đứng lên, nhìn khẽ cười rồi nói như một tâm sự thầm kín cần khai mở.
- Người ta xa quê thì nhớ nhà muốn về với mái ấm tình thân, vì nơi ấy được che chở. Còn mình thì nhà gần đây nhưng ám ảnh sợ hãi mỗi khi về. Thôi em ngủ ngon nhé. Sáng dậy nhớ uống thuốc. Chị có để sẵn thuốc trên đầu nằm.
Trước khi chị quay lưng bước ra dặn tôi tối nay không khóa cửa, vì chị có thể sang kiểm tra tình hình sức khỏe bất cứ lúc nào. Sáng đó hơn 4 giờ, trong giấc ngủ chập chờn tôi cảm nhận chị có qua đưa tay sờ lên trán, kiểm tra thân nhiệt rồi tắt đèn khép cửa lại lặng lẽ rời đi.
Sài Gòn buổi sáng sớm như một bản nhạc nhẹ nhàng, tách biệt hẳn với sự hối hả, náo nhiệt của thành phố không ngủ khi đêm về hay sự ngột ngạt của những giờ tan tầm. Nó mang một vẻ đẹp tĩnh lặng đến lạ kỳ. Những tia nắng đầu tiên chưa gắt, chúng len lỏi qua những tòa cao ốc chọc trời, đổ bóng dài trên những con đường thênh thang, ít bóng xe cộ. Những quán cà phê có tuổi đời hàng chục năm bắt đầu đỏ lửa. Mùi cà phê rang xay thơm nồng lan tỏa trong con hẻm nhỏ, mùi vị ấy cũng từ nhà chị bay ra. Gòn buổi sáng sớm giống như một quãng nghỉ ngắn để thành phố nạp lại năng lượng trước khi bước vào cuộc đua hối hả của cơm áo gạo tiền. Nó nhẹ nhàng, bao dung và cực kỳ dễ mến. Tôi vừa rón rén bước ra cửa chuẩn bị đi làm đã thấy chị đi tới.
- Em định đi đâu đó? - Chị hỏi.
- Em đi làm.
- Chưa đi được đâu. Nghỉ hôm nay, khi nào hết bệnh rồi đi.
- Nhưng em đã thấy khỏe.
- Chưa hết bệnh đâu. Hãy ở nhà nghỉ ngơi, uống thuốc cho hết hẳn.
Chị buộc tôi phải nghỉ làm hôm nay với lời lẽ nghiêm nghị. Bảo phải vào thay quần áo rồi tới trước cửa nhà đợi chị. Một lát sau tôi đến đúng như yêu cầu. Chị kêu vào nhà ngồi đợi trên ghế sofa. Tại đây tôi nghe được mùi hương quen thuộc, mùi này có trên người của chị. Tôi hỏi mới biết đó là mùi tinh dầu hoa oải hương, chị thích hương này, máy xông bật suốt ngày đêm. Thảo nào mỗi lần gần chị đều nghe một mùi hương lạ thoang thoảng. Chị đi lên với cái ống y tế đã đeo sẵn trên cổ. Ngồi đối diện với tôi rồi nói như ra lệnh.
- Vén áo lên. - Chị nói.
Tôi sững sờ ngồi đó nhìn chị như điều khó xử cho tình huống mà hoàn toàn không kịp chuẩn bị trước. Chị hiểu ra vấn đề khẽ cười rồi đáp gọn lỏn.
- Nếu ngại thì mở hai cúc áo trên ra cũng được.
Tôi làm theo như bản năng máy móc. Chị gắn 2 đầu vào lỗ tai rồi tiến hành khám như một người bác sĩ và bệnh nhân thường thấy. Xong xuôi chị hoàn toàn không nói gì về vấn đề khám bệnh mà thay vào đó là một câu nói khác.
- Làm gì mà hồi hộp sợ sệt dữ vậy. Tim đập y chang đánh trống.
Chị tiến hành tiêm thuốc y chang đêm qua. Không cần hỏi ý kiến, cũng chẳng cần sự đồng ý nào từ tôi. Chị quyết định hết tất cả, tôi chỉ răm rắp nghe theo.
- Đã uống thuốc chưa? - Chị hỏi.
- Dạ chưa.
- Thế thì về lấy thuốc uống rồi lại đây ăn cháo. Chị đã nấu sẵn.
Tôi ngập ngừng một lát rồi quay sang hỏi chị.
- Những cái này là đêm qua chị đi mua đó hả?
- Phải. Có gì không em?
- Chị mua hết bao nhiêu tiền vậy?
- Chi vậy?
- Để em trả tiền lại.
- Được thôi. 1 tỷ, trả ngay bây giờ. Còn không có con số ấy thì đừng nói đến tiền. Chị nói vui thôi. Cái này là chị mua về để khi có bệnh thì tự mình chữa. Không phải vì em đâu. Đừng suy nghĩ nhiều. Thôi! Về lấy thuốc uống rồi lại đây ăn sáng cùng chị.
Tôi không dám cãi lời. Cũng chẳng dám hỏi gì thêm. Tôi và chị cùng nhau ăn cháo. Lần đầu tiên trong đời tôi ăn cháo với hương vị quá lạ, chị nói đó là cháo sá sùng. Chị bỏ vào tô tôi rất nhiều hành lá, gừng sợi và tiêu. Nó khác với cháo mà ở quê tôi đã ăn qua. Chị nói mà không nhìn tôi.
- Bắt đầu hôm nay em qua đây ăn với chị luôn nhé. Chị biết em không có nấu nướng gì, phòng cũng trống rỗng. Sau này không cần phải ra ngoài ăn. Nó không an toàn thực phẩm, lại dễ bị ngán. Ở đây ăn 2 người cho có không khí gia đình.
Thấy tôi còn đắn đo chưa trả lời. Chị nói tiếp.
- Yên tâm. Không có bữa ăn nào miễn phí. Chị sẽ tính tiền, vì thế đừng ngại.
Kể từ đó tôi thường qua nhà chị ăn cơm. Ban đầu tôi còn khó ăn vì món nào cũng có mùi Thuốc Bắc, dần dần rồi quen. Chị nói không có bữa ăn nào miễn phí nhưng chưa bao giờ đưa tiền mà chị lấy! Cứ nói: để đó. Đôi khi chị không nấu mà dẫn tôi ra ngoài ăn ở các hàng quán của cộng đồng người Hoa làm chủ. Chiều tối đó trời mưa như trút nước. Chị và tôi ngồi im lặng khá lâu.
- Về tắm rửa đi rồi ra đây uống với chị một ly. - chị nói mà không nhìn tôi, mắt vẫn đóng đinh vào màn mưa giăng trước hẻm.
Mười phút sau, tôi ra ngồi đối diện chị. Ly cà phê đen không đường, thứ nước đen đặc quánh như thể nó được chưng cất từ chính cái bóng tối của dãy trọ này. Tôi nhấp một ngụm, vị đắng gắt xộc thẳng lên đại não, nó khiến tôi nhăn mặt méo mó. Chị khẽ cười, một nụ cười mệt mỏi:
- Đắng lắm phải không? Nhưng uống quen rồi, em sẽ thấy nó trung thực hơn tất cả những thứ đồ ngọt trên đời này.
Đó là lần đầu tiên tôi uống cà phê nguyên chất, thói quen này nó theo tới tận bây giờ. Chị chính là người phụ nữ đã mang hương vị đắng này đến với tôi kể từ giây phút ấy. Chị đẩy về phía tôi một chiếc hộp nhỏ bọc trong tờ giấy báo cũ. Tôi ngơ ngác mở ra. Là một cây bút bi vỏ nhựa màu xanh thẫm, còn mới nguyên.
- Chị thấy đêm nào phòng em cũng tắt đèn muộn. Hãy dùng cây bút này viết cho đẹp cái tương lai của em nhé. Đừng như chị, cuộc đời chỉ toàn những vết gạch xóa.
Tôi hơi ngỡ ngàng vì hành động này của chị.
- Vì sao chị biết em là người viết mà tặng bút? - Tôi hỏi.
- Chị đã đọc qua nhật ký, các trang viết của em rồi. Rất bay bổng. Mong rằng hôm nào có hình ảnh của chị trong số tác phẩm ấy - Chị thản nhiên nói rồi khẽ cười như chẳng có gì xấu hổ.
- Chị đọc khi nào? - Tôi tiếp tục hỏi.
- Đêm qua, lúc chị tới truyền nước, em đã ngủ trong cơn sốt. Lúc đó chị đã đọc, nhưng nói trước là chị sẽ không xin lỗi.
- Tìm người yêu để sống cùng đi nhé. Sống một mình bệnh như đêm qua sẽ rất nguy hiểm nếu không có ai bên cạnh. Cái dãy trọ này chỉ em là một mình thôi đó.
- Dạ, để em tìm. - Tôi nói rồi nhìn chị. Bắt gặp đôi mắt chị nhìn tôi đăm chiêu, trong đôi mắt ấy có một nét buồn thoáng hiện lên rất rõ.
- Mà thôi đừng tìm. Yêu đương thời nay mệt mỏi lắm. Có chị rồi! Em yên tâm. - Chị nói xong rồi khẽ cười. Cái đôi mắt buồn cũng chợt biến mất.
Tôi im lặng không nói gì, cầm cây bút, cảm nhận cái lành lạnh của lớp vỏ nhựa. Lúc đó, tôi còn quá trẻ để hiểu rằng, một khi nhận lấy cây bút từ tay một người đàn bà đang tổn thương, nghĩa là tôi đã tình nguyện viết tiếp nỗi đau của họ vào cuộc đời mình. Tôi nhìn đôi bàn tay chị đang ôm lấy ly cà phê. Những ngón tay gầy, run rẩy, chiếc nhẫn cưới vết hằn trắng nhạt vẫn còn đó, trơ trọi như một lời nhắc nhở về sự phản bội. Bất giác, tôi đưa tay mình ra, định chạm vào đôi bàn tay ấy, định nói rằng em sẽ viết cho chị một kết thúc khác. Nhưng rồi, tôi khựng lại. Khoảng cách giữa một thằng nhà quê 20 tuổi và người đàn bà ấy chỉ là một cái mặt bàn gỗ mục, vậy mà sao tôi thấy nó mênh mông như một đại dương. Chị uống một ngụm cà phê như một sự thưởng thức của cuộc đời nghiệt ngã.
- Chị... chị có thấy đắng quá không? - tôi hỏi nhỏ, tay siết chặt cây bút. Không còn rụt rè.
Chị Phương nhìn tôi, đôi mắt sâu thẳm như bị một lớp sương mù che phủ. Chị nâng ly cà phê lên, uống một hơi dài như thể đó là liều thuốc đắng để giúp tỉnh táo:
- Đắng chứ. Nhưng nếu không có vị đắng này, chị sợ mình sẽ quên mất là mình vẫn còn đang sống, vẫn còn biết đau. - Chị trả lời như thế.
Tiếng mưa rơi trên mái hiên bỗng chốc gầm rú như muốn xé toạc không gian. Chúng tôi ngồi đó, hai cái bóng đổ dài trên vách tường loang lổ. Hai ly cà phê đen đặt cạnh nhau, lạnh dần theo cơn mưa. Đó là lần đầu tiên tôi hiểu rằng, trên đời này có một loại kết nối mang tên “cùng khổ”. Tôi cứ ngỡ mình sẽ dùng cây bút này để vẽ lại cuộc đời chị bằng những sắc màu tươi sáng, mà đâu biết rằng, chính nó lại là thứ khiến tôi đau đáu day dứt mãi về sau.
Tôi và chị không còn là người thuê trọ và chủ nhà. Cũng chẳng còn ranh giới nào về tuổi tác. Chúng tôi giống như một thứ gì đó khó có thể nói thành lời. Chị vừa là thầy, vừa là bạn. Chị dạy tôi bất cứ bài học nào trong cuộc sống. Thường đưa ra các giả định buộc tôi phải xử lý trọn vẹn cái tình huống ấy. Theo chị đó cũng là sự chín chắn để trưởng thành vì những con người ngoài kia, không như hai chúng tôi. Họ có thể biến người khác thành công cụ cho chính họ. Chị dạy tôi tiếng Anh lẫn tiếng Pháp. Chị cũng khá chú trọng vào vấn đề sức khỏe, dặn tôi phải ngủ trước 22 giờ đêm, và khi thức dậy làm vài động tác trước khi rời khỏi giường. Chị cũng khá quan tâm đến hình thức vẻ ngoài, cắt từng móng tay, trên chiếc áo có sợi chỉ nào nhô ra chị đều bứt bỏ. Luôn để sẵn quần áo cho tôi khi đi ngủ, đi làm, ra ngoài khi có việc cần thiết, tất cả chúng đều phẳng phiu, gọn gàng, sạch sẽ, một cách nhất định tuyệt đối. Đặc biệt hơn là hạn chế sử dụng thuốc lá, ăn uống theo tiêu chuẩn dinh dưỡng. Chúng tôi không còn xa lạ, chị vẫn chuẩn bị thức ăn sáng, đồng thời luôn đợi tôi về cùng ăn trong mỗi giờ cơm chiều. Những sự quan tâm ân cần ấy, tôi chẳng biết gọi là gì cho đúng. Đơn giản vì tôi không có chị gái, cũng không có em gái, nên không hình dung được sự tử tế này.
Những buổi chiều thành phố đổ mưa xối xả tôi lại lủi thủi về căn nhà trọ. Luôn luôn, như một thói quen không thành lời, chị Phương đã chờ sẵn dưới hiên với hai tách cà phê đã pha sẵn, và thức ăn vừa chuẩn bị, như biết trước thời gian. Chị với mái tóc buộc hờ, đôi mắt xa xăm nhìn những giọt nước vỡ tan trên mặt sân xi măng. Tôi thấp bé, ngồi lọt thỏm trên chiếc ghế cạnh bên chị. Chúng tôi cùng nhau uống cà phê, vị đắng nhẹ hòa quyện với mùi đất ẩm bốc lên tạo nên một không gian tách biệt hẳn với sự xô bồ ngoài kia. Chị kể cho tôi nghe về những ngày đầu chị một mình bươn chải ở phố, về nỗi lo toan của một người đàn bà sống thui thủi như một cái xác không hồn. Giọng chị trầm thấp, hòa vào tiếng mưa rì rầm, tạo thành một bản nhạc của hai tâm hồn đang tự sưởi ấm cho nhau. Có đôi lúc, chẳng ai nói câu nào, chỉ có tiếng gió lùa qua kẽ lá, nhưng lòng lại thấy bình yên lạ kỳ. Chị thấy tôi như một điểm tựa nhỏ bé đầy kiên cố, còn tôi thấy chị như một bến đỗ mà nghĩ sẵn lòng dành cả đời để che chở. Nhưng sự ấm áp ấy lại càng làm nổi bật nỗi trống trải mỗi khi một người vắng mặt. Chị nói những đợt tôi ở lại xưởng làm thêm giờ căn nhà trọ bỗng trở nên thênh thang đến đáng sợ. Chị cứ ra vào, tay vô thức pha cà phê rồi sững sờ nhận ra chẳng còn ai ngồi đó để cùng sẻ chia vị đắng. Chị bảo thấy thiếu cái dáng người nhỏ nhắn lầm lũi, thiếu tiếng sột soạt phát ra từ căn phòng cuối dãy. Sự tĩnh lặng lúc này không còn là bình yên nữa, mà là một sự đe dọa. Chị nhận ra mình không sợ cô đơn, chị chỉ sợ cái cảm giác đã từng hết cô đơn rồi lại phải quay về với bốn bức tường một mình.
Ngược lại tôi đi đâu cũng muốn sớm trở về cái dãy trọ ấy. Có một lần tôi nói với chị.
- Hai ngày nữa em về quê để giỗ chạp. Chị lấy cuốn sách này đọc cho đỡ buồn.
Chị đang tưới nước cho chậu dạ lý hương thì khựng lại tay lấy cuốn sách. Không nói gì chỉ nhìn thẳng vào mắt tôi. Đôi mắt đượm buồn như mặt hồ đầy gợn sóng, không còn sự tĩnh lặng của bình yên trước đó.
- Bao giờ thì trở lại đây. - Chị hỏi ngắn gọn.
- Khoảng 4 ngày. - Tôi trả lời.
- Ừ! Chị hỏi cho biết để khỏi nấu cơm. Em về phòng lấy chiếc áo hôm khám bệnh chị kêu mở 2 cúc, mang lại đây.
Tôi ngơ ngác chẳng hiểu mục đích là gì. Tuy vậy tôi vẫn làm theo. Tối đó chị mua cho tôi 4 chiếc áo sơ mi trắng, bảo rằng về quê phải ăn mặc chỉn chu. Riêng chiếc áo tôi đưa chị quyết giữ cho mình, dứt khoát không trả lại. Ngoài ra chị còn mua 1 phần quà lớn để về đặt lên bàn thờ gia tiên cho ngày giỗ thêm long trọng trang nghiêm. Đêm cuối cùng tôi về chị ủi từng chiếc áo phẳng phiu. Chị chuẩn bị hết tất cả đồ đạc như người chị tiễn đứa em đi xa. Chị tưới nước cho cây dạ lý hương mới được mua về ngày hôm qua, rồi nói cùng nó như nói cho chính tôi nghe.
- Đừng tỏa hương nữa. Hãy tiết kiệm để đợi người trở lại.
Tôi đứng yên chẳng biết nói gì. Khi về tới quê tôi thật sự ngỡ ngàng khi biết chị bỏ rất nhiều tiền vào trong đó kèm với mảnh giấy:
- Hãy trở lại sớm nhất có thể. Nơi này luôn có người chờ đợi dưới mái hiên. - Nét chữ của chị.
Phần tôi nhìn ra cánh đồng mà tâm trí lại ở tận con hẻm nhỏ. Tôi nhớ mùi cà phê rang, nhớ ánh mắt dịu dàng của chị. Nỗi chờ đợi ngấm vào tận xương tủy, khiến đôi chân chỉ muốn băng qua hàng trăm cây số để được ngồi lại bên hiên nhà ấy, để thấy chị vẫn ở đó, vẫn dành cho tôi một chỗ ngồi bên cạnh. Chúng tôi cứ thế, dùng sự hiện diện của người này để lấp đầy khoảng trống của người kia, mà không biết rằng đó là một sợi dây liên kết mong manh nhưng đầy đau đớn. Vì khi một người thực sự rời đi, khoảng trống ấy sẽ rộng đến mức không gì có thể lấp đầy được nữa. Trong một buổi chiều mưa như thế, khi hơi lạnh của gió luồn qua hiên nhà, chị Phương cúi người rót cà phê vào hai cốc sứ. Tôi đưa tay ra định đỡ lấy chiếc cốc, đúng lúc đó, những ngón tay thô ráp của tôi chạm vào bàn tay mềm mại, hơi lành lạnh của chị. Thời gian như bị bóp nghẹt ngay khoảnh khắc ấy. Tôi giật mình sợ sệt, nhưng không muốn rút tay lại ngay. Một luồng điện chạy dọc sống lưng, làm bùng lên sự xao động mãnh liệt của con trai mới lớn mà tôi đã cố đè nén bấy lâu. Tim đập thình thịch, to đến mức sợ chị sẽ nghe thấy át cả tiếng mưa. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi đó, tôi nhìn thấy một tia bối rối lướt qua mắt chị. Chị không rụt tay lại, nhưng cũng không nắm lấy. Chị cứ để yên như thế, nửa như đón nhận, nửa như đang đong đếm một điều gì đó xa xôi. Chị Phương khẽ thở dài, một hơi thở rất nhẹ nhưng mang theo cả gánh nặng của sự trưởng thành. Ánh mắt chị nhìn xuống bàn tay đang chạm nhau, rồi lại nhìn ra màn mưa trắng xóa. Chị nhẹ nhàng rút tay về, chậm đến mức như đang luyến tiếc, nhưng lại dứt khoát như để vạch ra một ranh giới vô hình.
- Cà phê đã nhạt vì nước đá tan, để chị vào pha hai ly khác. - Chị nói khẽ, giọng chị hơi run nhưng cố giữ vẻ bình thản.
Tôi chẳng biết lý do gì mới mang ra mà bảo cà phê đã nhạt. Chị đứng dậy, để lại tôi ngồi đó với hơi ấm còn sót lại trên đầu ngón tay. Tôi nắm chặt bàn tay chính mình, cảm giác hụt hẫng tràn ngập. Tôi nhận ra rằng, dù có ngồi sát bên nhau, dù có cùng uống cà phê và ngắm mưa, thì giữa tôi và chị vẫn tồn tại một vực thẳm mà không bao giờ bước qua được. Chị gần gũi tôi vì cô đơn, còn tôi gần gũi chị vì đã lỡ trao đi cả tâm hồn thanh tân tuổi mới lớn. Đêm đó, tôi nằm thao thức! Vết chạm ấy không tan biến mà cứ âm ỉ cháy, nhắc nhở tôi rằng trong cái nhà trọ này, tôi vừa là người thân nhất, cũng vừa là người dưng nhất của chị.
Những đêm muộn, khi thành phố đã bớt ồn ào, hai người lại ngồi bên nhau nơi góc ban công nhỏ nhìn ra phía những tòa nhà đầy sao.
- Quang này, em có thấy những ánh đèn kia không? Chị luôn tự hỏi trong hàng ngàn căn hộ đó, có bao nhiêu người đang thực sự hạnh phúc? - Chị Phương hỏi, giọng chị như tan vào màn đêm.
Tôi nhìn nghiêng gương mặt chị, thấy một giọt nước mắt khẽ lăn dài. Tôi không biết nói gì, chỉ lặng lẽ nhìn theo. Chị nhích lại gần một chút, đủ để tôi cảm nhận được hơi ấm từ chị. Chị kể về cuộc hôn nhân đầy viên mãn nhưng hạnh phúc như cây trụi lá vì hạn hán. Chồng chị là trưởng khoa của một bệnh viện, anh ấy ngoại tình với một người nữ bác sĩ thuộc cấp dưới. Đáng nói hơn, người bác sĩ nữ ấy cũng chính là bạn thân của chị. Chị đã bắt gặp hình ảnh giường chiếu của hai người. Từ đó chị xin nghỉ việc một thời gian để tâm hồn được nguôi ngoai. Chị quyết định rời đi, dành tất cả số tiền chuẩn bị mở phòng khám để mua lại dãy trọ này. Sống tại đây cho thanh thản, sau này sẽ tính tiếp. Chị bắt đầu ly thân từ ấy. Gia đình chồng cũng chẳng mấy ưu ái với chị, đặc biệt là mẹ chồng và cô em dâu. Dưới ánh sao đêm ấy chúng tôi là hai linh hồn đang tựa vào nhau để đi qua bão giông. Chị cần tôi để vơi bớt nỗi đau thiếu vắng con cái và sự cô độc của người đàn bà ly thân. Còn tôi, cần chị để thấy mình trưởng thành, để thấy mình có một nơi gọi là nhà giữa Sài Gòn xa lạ. Chị ôm đàn Guitar hát những bài nhạc Pháp. Chị kể tôi nghe về thời sinh viên của trường Đại Học Y Dược. Nói về gia đình không có bao nhiêu người thân tại đây, chỉ có 2 người, ba và chú. Đa số họ hàng nội ngoại đều ở nước ngoài. Ba cũng đã mất khi chị còn 12 tuổi. Đó là lý do thiếu vắng tình thương của cha nên chị lưỡng lự chưa muốn ly hôn. Chị bảo lý do chọn ngành Y, bởi lúc em trai 14 tuổi đi học về bị tai nạn giao thông rồi mất, lúc đó chị bất lực không biết làm gì. Lúc ấy chị ước gì mình là 1 bác sĩ có thể cứu em mình tại thời điểm ấy. Nhà chị chỉ còn lại 2 anh em, anh 2 cũng đã sang Pháp khi chị còn là sinh viên năm cuối. Đó là những lời chia sẻ của chị với tôi trên góc ban công.
Đêm nay Sài Gòn trên cao lấp lánh như một dải kim sa, nhưng ở góc ban công cũ kỹ chỉ có mùi dạ lý hương và tiếng thở dài của gió. Chị Phương ngồi đó, gác cằm lên lan can, đôi mắt xa xăm nhìn về phía những tòa nhà cao tầng rực rỡ ánh đèn xanh đỏ. Chị nắm lấy bàn tay tôi rồi hỏi khẽ khàng.
- Bàn tay của Quang ấm hay lạnh?
Tôi có chút giật mình rụt rè, không dám nhìn thẳng vào mắt chị. Cũng chẳng biết phải trả lời ra sao cho câu hỏi vừa rồi. Tôi im lặng, tay chị càng nắm chặt hơn. Chị nói:
- Em có thấy những ánh đèn kia không? Trông chúng thật gần, nhưng thực ra lại cách chúng ta cả một đời người.
Tôi im lặng khẽ gật đầu. Chị nói tiếp:
- Em có bao giờ thấy bầu trời đêm nay giống một ly cà phê đen không? Cứ hun hút, sâu thẳm, nhìn vào thì đẹp và buồn nhưng chẳng thấy đáy ở đâu cả. Nghe này Quang... nếu một ngày chị biến mất như một ngôi sao băng vừa xẹt qua, đừng cố tìm trên nền trời đêm. Hãy cúi xuống, nhìn vào ly cà phê của em. Chị ở trong vị đắng đó, mãi mãi.
Tôi hiểu và im lặng gật đầu. Chị tiếp tục nói trước khi uống 1 ngụm cà phê:
- Em có thấy chúng ta giống những con thiêu thân không? Cứ lao vào ánh đèn thành phố, để rồi nhận ra mình chẳng thuộc về nơi rực rỡ đó.
- Em thì thấy bản thân giống như những mảnh gỗ thừa ở xưởng mộc hơn. Bị người ta cắt bỏ, quăng vào xó tối. Nhưng may sao, ở xó tối đó, em lại gặp một mảnh gỗ khác... là chị. - Tôi nói mà không nhìn chị.
- Chị không phải là gỗ tốt. Chỉ là thứ gỗ đã mục ruỗng vì nước mưa. Chúng ta quý nhau. Nhưng sự quý mến này, nó giống như hai người đang chìm dưới nước cố nắm lấy tay nhau thôi. Chúng ta không cứu được nhau, chỉ làm nhau bớt sợ hãi bởi cái lạnh của dòng nước.
- Thế thì quá tốt. Ở cái thành phố chín triệu người này, tìm được một người để cùng ngồi im lặng mà không thấy ngượng ngùng, khó lắm. Em không cần chị phải là gỗ tốt. Chỉ cần tối nào đi làm về, thấy bóng chị ngồi đây, em thấy đời mình bớt nhạt.
- Em lương thiện quá. Nhưng em cũng cũng ngượng ngùng đó thôi. Đôi khi chị ước mình mới mẻ như em, để có thể nhìn đời bằng một đôi mắt khác. Chị quý cái cách em viết, cách pha cà phê đen dù nó chưa đúng tiêu chuẩn như chị đã hướng dẫn cho lắm. Cảm ơn em, nhé. Vì đã không hỏi về quá khứ của chị, cũng không hứa hẹn về tương lai của chúng mình. Đó là điều tốt. - Chị nói rồi tựa đầu vào vai tôi. Tôi bỗng giật mình, mồ hôi nhễ nhại mặc dù đang ngồi trên góc ban công đầy gió mát.
- Vì em biết, có những thứ nếu gọi thành tên, nó sẽ biến mất. Cứ để như thế này sẽ tốt hơn. Cứ để mình là hai kẻ cô đơn ngồi cạnh nhau dưới bầu trời này. Không phải tình nhân, cũng chẳng phải chị em... chỉ là hai con người đang mượn hơi ấm của nhau để đi qua một đêm dài.
- Ừ! Em cứ như thế. Quý nhau ở mức độ này, để sau này lỡ có lạc mất, mình cũng không thấy hận. Còn riêng chị xem em như thế nào thì chị sẽ vĩnh viễn không bao giờ nói cho em biết. Nên nhớ! Em luôn trong con người của chị. Đó là mối quan hệ gì, thời gian sẽ trả lời.
Chị im lặng khá lâu rồi chợt nhìn vào mắt tôi mà hỏi vu vơ:
- Quang này! Em có bao giờ tự hỏi một mình, trong hàng vạn ánh đèn kia, có cái nào dành cho mình không? Hay chúng ta chỉ là những kẻ đứng ngoài lề, nhìn người ta hạnh phúc như hiện tại?
- Sao chị biết người ta đang hạnh phúc. Không chừng họ đang cãi nhau om sòm mà tại mình không nghe thấy. Em không cần cả thành phố rực rỡ ấy đâu. Chỉ cần một ngọn đèn nhỏ thôi, miễn là nó cháy vì em. Giống như ngọn đèn trong phòng chị mỗi khi em đi làm về trễ đều thấy vậy. - Tôi nói.
- Đèn nhà chị rồi cũng sẽ tắt. Chị giống như một người khách trọ trong chính cuộc đời mình. Hôm nay ở đây, ngày mai có khi đã là một nơi nào đó xa lạ mà chính chị cũng chẳng rõ. - Chị nói với giọng đầy buồn bã.
Rồi một thời gian sau chị báo cho tôi một tin vui, rằng: chồng của chị muốn quay trở lại, anh ấy đã ăn năn hối lỗi. Muốn cùng chị sang Mỹ. Anh ấy chấp nhận bỏ chức vụ trưởng khoa ở bệnh viện, bỏ lại hết tất cả để đến bên kia trời tây cùng chị làm lại từ đầu! Chị đã đồng ý. Tin vui của chị mà tin buồn của chính tôi. Dãy trọ này chị cũng sẽ để lại cho một người bạn trong nay mai.
Rồi! Ngày ấy cũng đã tới. Ngày mai chị ra sân bay thì tối đó tôi cũng chính thức rời khỏi con hẻm nhỏ. Nhưng thứ nặng nề nhất mà tôi phải mang theo chính là sự vỡ vụn của một niềm tin ngây thơ tuổi hai mươi. Tôi đi ngang thấy chị vẫn đứng dưới hiên nhìn theo rồi tiếng khóc lại vang lên, tôi quay mặt lại thấy chị ngồi sụp xuống ôm mặt khóc. Tôi nhớ lại lời chị nói, nhẹ nhàng mà thật tàn nhẫn: “Chị sợ cái tĩnh lặng đến phát điên của căn nhà này”. Hóa ra, suốt thời gian qua, tôi chỉ là một món đồ nội thất sống động, một âm thanh để chị xua đi nỗi sợ cô đơn, chứ chưa bao giờ là một người đàn ông trong mắt chị. Sự quan tâm của chị giống như việc người ta thắp một ngọn đèn khi trời tối, không phải vì yêu ngọn đèn, mà vì họ sợ bóng đêm. Tôi hòa mình vào dòng người xuôi ngược trên đại lộ. Thành phố vẫn rực rỡ ánh đèn, nhưng trong mắt, nó trở nên xa lạ và tàn độc hơn bao giờ hết. Tôi cũng nhận ra bấy lâu nay mình sống trong một cái kén ngọt ngào do chính mình dệt nên, để rồi khi cái kén ấy rách toạc, tôi trơ trọi giữa gió lộng trong nỗi co ro. Tôi hiểu rằng, trên thế gian này, có những sự gần gũi chỉ để sưởi ấm nhất thời, và có những lòng tốt chỉ để tự cứu rỗi chính mình. Chị Phương đã sang Mỹ, có một cuộc đời mới bên người đàn ông chị chọn. Còn tôi cũng đã rời đi, để lại sau lưng chàng trai 20 tuổi dại khờ bên góc ban công cũ kỹ. Đã 3 năm rồi con hẻm cũ ấy, giờ chắc cũng đã đổi thay, nhưng nỗi buồn tênh của ngày ra đi thì vẫn nằm lại đó, vĩnh viễn thuộc về một thời thanh xuân lầm tưởng. Nỗi buồn năm xưa giờ đây đã kết tinh thành một sự nhẹ lòng cay đắng. Hóa ra, sự trông ngóng mà tôi từng nâng niu, sự giúp đỡ thầm lặng mà tôi từng lầm tưởng là tình yêu, thực chất chỉ là một trạm dừng chân tạm bợ của chị trên hành trình tìm kiếm hạnh phúc thực sự. Chị Phương quan tâm tôi không phải vì yêu, mà vì tôi là một vật lấp chỗ trống hoàn hảo trong những ngày chị đơn độc. Đôi khi, người ta đối tốt không phải vì mình đặc biệt, mà vì họ đang cần một sự an ủi để tự cứu rỗi chính mình. Sai lầm của tôi là dùng lăng kính của một chàng trai trẻ ngây thơ để giải mã thế giới nội tâm của một người đàn bà trưởng thành. Tôi im lặng vì tự ti, nhưng chính sự im lặng đó khiến tôi mãi kẹt lại trong ảo tưởng do mình tự dựng nên. Với chị Phương sự tử tế không rõ ràng vô tình trở thành một loại tội ác cào xé trái tim nhạy cảm của chàng trai trẻ mới chập chững bước vào đời. Một thông điệp cốt lõi tôi học được: đừng nhầm lẫn sự hiện diện của một người với sự sở hữu trái tim họ. Hãy học cách yêu thương tự chủ cảm xúc bản thân đủ để không trở thành liều thuốc giảm đau cho nỗi cô đơn của bất kỳ ai.
Hơn ba năm sau Sài Gòn vào giờ tan tầm, cơn mưa như một tấm lưới khổng lồ bủa vây lấy những dòng xe xuôi ngược. Tôi ngồi dưới mái hiên của quán cà phê cũ. Nơi hai người đã có vài lần đến trước đầu hẻm, hơi lạnh thấm qua lớp áo cũ của tôi. Và rồi, giữa hàng ngàn khuôn mặt xa lạ lướt qua dưới làn mưa trắng xóa, tôi bỗng giật mình khi nhìn thấy chị. Chị đã trở về, có lẽ vì một công việc quan trọng nào đó. Chị Phương bước ra từ phía bên kia đường, nép mình dưới chiếc ô rộng màu đen vững chãi. Đi bên cạnh chị là một người đàn ông người mà chỉ cần nhìn cách anh ta nghiêng ô che hết vai cho chị, tôi đã biết chị không còn phải chịu đựng những cơn cảm lạnh của mùa mưa năm cũ. Chị không còn là người đàn bà gầy guộc với đôi mắt đầy sương mờ của mấy năm trước. Chị của hiện tại rực rỡ và bình thản, khoác lên mình sự sang trọng của một người đã tìm thấy bến đỗ bình yên chẳng còn đơn độc. Trong một khoảnh khắc tưởng chừng như ngưng đọng, chị xoay mặt lại và ánh mắt chúng tôi chạm nhau. Tôi giật mình, còn chị đứng chết trân mắt đỏ hoe. Giữa tiếng còi xe inh ỏi, tiếng mưa rơi lộp bộp trên mái hiên và hơi người ẩm ướt, thế giới của tôi bỗng nhiên im bặt. Tôi siết chặt cây bút bi trong túi áo, kỷ vật duy nhất còn sót lại từ căn phòng trọ năm ấy. Tôi đã định gọi tên chị, đã định bước ra khỏi mái hiên để nói một câu gì đó, nhưng rồi đôi chân tôi như bị đóng đinh tại chỗ. Chị nhìn thấy tôi như một bóng ma của quá khứ. Một giây thôi, đôi mắt chị thoáng qua, vội vàng lấy tay chạm lên mí mắt như sự che đậy cảm xúc vừa trào ra, nhưng rồi ngay lập tức trở lại vẻ tĩnh lặng như mặt hồ không gợn sóng. Chị mỉm cười. Đó không phải là nụ cười của sự hoài niệm, cũng chẳng phải nụ cười của sự trách móc. Đó là nụ cười của một người đã hoàn toàn buông bỏ quá khứ. Một nụ cười nhẹ tênh, như thể chị đang chào một người quen cũ tình cờ gặp lại trên sân ga của một chuyến tàu đã đi quá xa! Rồi chị quay lưng đi.
Người đàn ông lịch lãm kia khẽ chạm vào vai chị, họ tiếp tục bước đi. Dưới làn mưa mịt mù, bóng dáng chị nhạt nhòa dần, rồi hoàn toàn hòa tan vào dòng người đông đúc đang hối hả ngoài kia. Chị không một lần ngoái đầu nhìn lại. Chị đã bước sang một chương đời rực rỡ hơn, nơi không có mùi dạ lý hương, không có những ly cà phê đen đắng và không có gã 20 tuổi tha phương nghèo nàn viết lách với những điều viển vông lầm tưởng.
Tôi đứng lặng trong bóng mờ của mái hiên, nhìn theo cái chấm đen của chiếc ô xa dần rồi biến mất. Ly cà phê đen trên bàn tôi vẫn còn đó, đắng ngắt và nguội lạnh. Hóa ra, cái kết đau đớn nhất không phải là sự chia ly giày vò trong nước mắt, mà là sự lướt qua nhau giữa đám đông với một nụ cười bình thản. Chị mang theo vị ngọt của cuộc đời mới đi về phía trước, còn tôi ngồi lại với vị đắng của những năm trước đây, tự mình viết nốt dấu chấm hết cho một câu chuyện mà từ lâu, chị đã không còn là người đọc nữa. Mưa vẫn rơi, dòng người vẫn trôi, chỉ có tôi là kẻ lỗi thời, đứng lại giữa mùa cũ để tiễn đưa một giấc mơ.
Có những người xuất hiện trong đời chỉ để cùng ta đi qua những ngày giông bão. Khi nắng lên, họ sẽ cần một thứ khác, một cuộc đời khác. Ly cà phê đen của tôi là sự trung thành với kỷ niệm, còn ly cà phê sữa đang trên tay chị là sự sòng phẳng với tương lai. Trong khoảnh khắc ấy, tôi đã nghĩ mình sẽ thấy sự nuối tiếc, hay ít nhất là một lời chào từ chị. Nhưng không. Chỉ có một nụ cười, đẹp và xa lạ. Một nụ cười như nói rằng: chị Phương đã ổn rồi. Còn Quang, em vẫn ở đây sao. Em còn đang đợi chị à?. Thành phố này lạ lắm, nó có thể mang hai người lạ đến ngồi cạnh nhau dưới một mái hiên mưa, cùng nhau uống cà phê và kể cho nhau nghe về cả cuộc đời. Nhưng cũng chính thành phố ấy, vào một chiều mưa khác, lại có thể khiến họ bước qua nhau như hai người dưng, chỉ để lại một nụ cười nhạt nhòa trong gương chiếu hậu của những chiếc xe lướt ngang vội vã. Chúng ta gặp nhau khi cả hai đều đắng chát, rồi rời xa nhau khi một người đã tìm thấy vị ngọt của đời mình. Hóa ra, tôi không phải là bến đỗ, tôi chỉ là một trạm dừng chân trong những ngày trời đổ mưa. Chị bước tiếp để hạnh phúc, còn tôi đứng lại để nhớ. Ly cà phê đắng mãi sau này, tôi uống thay phần của cả hai chúng tôi.
Quang Nguyễn
(Trích từ: Tôi... Em... Sài Gòn Truyện ngắn Quang Nguyễn)
Nguồn: Fb Quang Nguyễn
