
Gió ngừng thổi. Bầu Trời trở nên vắng lặng. Bỗng có tiếng trống, kèn vang dội trên không trung. Cây cỏ đều im lặng cúi đầu. Sau lối năm phút tiếng trống kèn chấm dứt. Một chị Bạch Yến dùng Thảo Mộc Quốc Tế Ngữ yêu cầu các đại biểu Thảo Mộc Hoàn Vũ đứng dậy trong tư thế mặc niệm khi bản nhạc thứ hai trổi lên theo nhịp trống, kèn êm dịu hơn khúc nhạc trước.
Khi bản nhạc thứ nhì vừa dứt, đại diện Nho thung lũng sông Rhône hỏi đại diện Lệ Chi Yunnan (Vân Nam) về hai bản nhạc vừa nghe.
Ɖại diện Lệ Chi Yunan đáp:
“Bản nhạc thứ nhất là bản Aegukka của Bắc Triều Tiên. Aegukka có nghĩa là Ái Quốc Ca. Bản nhạc thứ nhì cũng là bản Aegukka, quốc ca của Nam Hàn.”
“Tôi có hai thắc mắc. 1. Bắc Triều Tiên và Nam Hàn là hai nước hay là một? 2. Tại sao hôm nay lại trổi lên hai bản nhạc cùng tựa Aegukka nhưng khác lời và khác âm điệu?” Ɖại diện Nho thung lũng sông Rhône hỏi.
“Sau Đệ Nhị Thế Chiến bán đảo Triều Tiên chia ra làm hai vùng chánh trị đối nghịch nhau: Phía Bắc vĩ tuyến 38 là Bắc Triều Tiên chịu ảnh hưởng của Liên Sô. Phía Nam vĩ tuyến 38 là Nam Hàn chịu ảnh hưởng của Hoa Kỳ. Sở dĩ hôm nay bản Aegukka của Bắc Triều Tiên và Nam Hàn được trổi lên vì hôm nay đến phiên đại diện Sâm Cao Ly, vua các lại củ, tâm sự với đại diện Thảo Mộc Hoàn Vũ.
Về câu hỏi thứ hai, ban đầu tôi cũng có thắc mắc giống như anh Nho thung lũng sông Rhône. Tình cờ tôi gặp anh, chị Kim Chi ở Seoul, anh ấy giải thích như sau: Bắc Triều Tiên và Nam Hàn có hai chế độ chánh trị đối nghịch nhau. Nhưng quốc ca của Bắc Triều Tiên và Nam Hàn đều là Aegukka. Trên thực tế lời và âm điệu của Aegukka Bắc Triều Tiên và Nam Hàn hoàn toàn khác nhau.
Ái Quốc Ca (Aegukka) của Nam Hàn đề cao tình yêu nước và sự thống nhất bán đảo Triều Tiên. Âm điệu dựa theo âm điệu của bài Auld Lang Syne. Quốc ca Aegukka của Bắc Triều Tiên mang tính chiến đấu, tự hào về sự phong phú khoáng sản và dòng lịch sử năm ngàn năm của Triều Tiên để từ đó suy tôn và sùng bái Kim Tương Quan.” Lệ Chi Yunnan đáp.
“Ai bầu Sâm Cao Ly là vua các loại củ?” Nho thung lũng sông Rhône tiếp tục hỏi.
“Ɖiều này tôi không rõ lắm. Nhưng có lẽ: 1. Do mấy ông thầy thuốc Ɖông Y Trung Hoa bầu chọn. 2. Do các loại củ bầu chọn. 3. Do tự các anh chị Sâm Cao Ly tự nhận mình là vua các loại củ hiện diện trên hành tinh này.” Lệ Chi Yunnan đáp bằng một số giả thuyết vu vơ.
Một chị Vẹt Nam Mỹ Châu dùng Thảo Mộc Quốc Tế Ngữ thông báo Ɖại Trưởng Lão Nhân Sâm Kaesong từ Bắc Triều Tiên đến. Tất cả đại diện Thảo Mộc Hoàn Vũ đều đứng dậy vỗ tay chào mừng Ɖại Trưởng Lão Sâm Cao Ly giữa tiếng kèn, trống trình tấu bản Cao Ly Sâm Hành Khúc hùng tráng và tràn đầy sức sống.
Ɖại Trưởng Lão Nhân Sâm Cao Ly (Triều Tiên/Hàn Quốc) rất già nhưng trông khỏe mạnh khác thường. Lão không cao lớn, tuổi tho không bằng lão Thiên Niên Trường Bách Nhân Sâm (1.000 year-old Changbai Renshen) (1) nhưng trông lão đạo mạo, phúc hậu và tráng kiện. Lão mặc quốc phục Triều Tiên màu trắng thời phong kiến Triều Tiên. Trong túi lão có một bình rượu Makgeolli và một lọ kim chi phủ đầy ớt, tỏi cay nồng.
***
Kính chào toàn thể các đại biểu Thảo Mộc Hoàn Vũ! Kính chào! Kính chào!
Tôi từ Bắc Triều Tiên tới sau những ngày dài cực khổ để lo giấy tờ xuất cảnh. Tôi đại diện cho các thân nhân dòng Nhân Sâm và các loại củ trên Ɖịa Cầu để tâm sự cùng quí vị Thảo Mộc hiện diện hôm nay. Vai trò của tôi chỉ có thế. Tôi không phải là Vua các loại củ như lời giới thiệu của Ban Tổ Chức Quốc Tế Thảo Mộc Tâm Sự.
Trên hành tinh chúng ta sống có rất nhiều loại củ.
Có củ sống hoang dã như Củ Năng, Củ Chụp (Khoai Mài hay Hoài Sơn Dioscorea persimilis, gia đình Dioscoreaceae), nấm Truffle Tuber melanosporum, gia đình Tuberaceae v.v..
Có củ được loài người trồng để ăn như Khoai Lang, Khoai Mì, Khoai Mỡ, Khoai Tây, Khoai Yam, Khoai Từ, Củ Sắn (Củ Ɖậu), Củ Hoàng Tinh, Củ Riềng, Củ Gừng, Củ Nghệ, Củ Cải Trắng, Củ Cải Ɖường, Củ Cải Cà-Rốt v.v..
Nhân Sâm chúng tôi vừa sống hoang dã vừa được loài người trồng trong các nông trại ở Hoa Kỳ và Canada.
Phần lớn các loại củ đều sống dưới mặt đất.
Cũng có củ sống dưới nước như Củ Sen (lotus tuber), Củ Ấu Trapa bicornis, gia đình Trapaceae, Củ Năng (Eleocharis dulcis, gia đình Cyberaceae), Củ Từ Cô (Rau Chóc Sagittaria sagittifolia, gia đình Alismataceae) v.v..
Hầu hết các loại củ là thức ăn của loài người. Có loại củ dùng làm bột, làm đường. Có loại củ dùng làm trà, làm thuốc chữa bịnh. Nhìn chung loại củ nào cũng phục vụ cho lợi ích của loài người: nuôi dưỡng và chữa bịnh.
Sâm Cao Ly chúng tôi cũng là loại củ sống dưới đất mặc cho thời tiết băng giá ở các vùng núi trên bán đảo Triều Tiên nơi chúng tôi sinh sống. Chính sự sống ngoan cường của tổ tiên chúng tôi dưới lòng đất băng giá làm cho các thầy thuốc Ɖông Y Trung Hoa nghĩ đến dược tính hiếm có của dòng họ chúng tôi. Người Trung Hoa gọi chúng tôi là Renshen, tức Nhân Sâm, vì chúng tôi là một loại củ có hai rễ dài chẻ đôi tựa như hình người có hai chân vậy. Dược tính của chúng tôi xuất phát từ cuộc sống ngoan cường dưới đất đầy băng giá mà không bị rữa thối, hư mục. Ɖó là sự khác biệt giữa Củ Sâm Cao Ly và các loại củ khác như Củ Gừng, Củ Nghệ, Củ Riềng, Củ Khoai Lang, Củ Khoai Từ, Củ Khoai Môn, Củ Khoai Mỡ v.v.. Người ta nghe nói Củ Sâm ngàn năm nhưng không nghe nói đến Củ Khoai Lang hay Củ Gừng 100 tuổi.

Củ Nhân Sâm (Ảnh: stock.adobe.com)

Trước kia người Việt Nam nghĩ rằng chỉ có Cao Ly có sâm quí mà thôi. Trên thực tế có:
- Sâm Cát Lâm Trường Bạch (Jilin Changbai).
- Sâm Nhật Bản Panax japonicus.
- Sâm Hoa Kỳ Panax quinquefolius.
- Sâm Ngọc Linh, Việt Nam Panax vietnamensis.
- Sâm Tây Bá Lợi Á (Ngũ Gia Sâm) Acanthopanax senticocus.
- Sâm Alaska Fatsia horrida v.v..
Trên đây chúng tôi chỉ đề cập đến các loại Sâm dòng Panax và gia đình Araliaceae mà thôi.
Xưa kia Sâm mọc hoang dại trong thiên nhiên nơi có địa hình hiểm trở và khí hậu băng giá. Do đó Củ Sâm rất quí hiếm. Ngày nay Sâm được trồng ở Hoa Kỳ, Canada. Cây Sâm cao từ 50cm - 70cm. Năm lá rộng, mỏng, màu xanh nhạt tụ lại trên một cuống lá trông đẹp mắt. Củ Sâm dài như Củ Cải trắng nhỏ và có nhiều rễ dài và rễ ngắn mọc tua tủa.

Nông trại trồng Sâm ở Appalachian, Hoa Kỳ (Ảnh: extension.wsu.edu).
Các đạo sĩ Lão Giáo xem Nhân Sâm là linh dược trị bá chứng và kéo dài tuổi thọ của loài người. Người Âu Châu biết Nhân Sâm vào thế kỷ IX nhưng không tin tuyết đối vào tính năng trị bá bịnh của Nhân Sâm. Dù vậy trong tên khoa học của Nhân Sâm có chữ Panax. Theo Hy Lạp ngữ, Pan: tất cả, Akos: chữa trị. Panax: chữa trị tất cả các chứng bịnh tức là trị bá chứng (Panacea).
Theo Ɖông Y Nhân Sâm có khả năng gây phấn chấn thần kinh, trị mất ngủ, hạ máu đường, trị bất lực sinh lý (Impotence), kháng viêm, trị ung thư gan, ung thư phổi v.v..
Nhân Sâm Cao Ly có Ginsenosides C42H72O14, Polysaccharides Cx(H2O)y, Polyacetylenes [C2H2]n (chống béo phì, thiếu đường trong máu, chống u bướu, bồi bổ thần kinh v.v.), Peptides C69H114N18O22S, Phenol C6H6O và các loại sinh tố.
Củ Sâm càng già càng có dược tính cao. Sâm từ 8 tuổi trở lên mới có giá trị cao. Sâm từ 5 đến 8 năm mới khai thác được. Trung bình mỗi acre (4.000m2) sản xuất lối 300 pounds Củ Sâm. Một hectare = 2,47 acres sản xuất được 2,47 x 300 = 740 pounds tức 336kg Củ Sâm tươi. Giá Sâm khô cao hơn giá Sâm tươi.
- Sâm khô: 800 Mỹ kim/pound hay 1.760 Mỹ kim/kg.
- Sâm tươi: 200 Mỹ kim/pound hay 440 Mỹ kim/kg.
Trong thời đại ngày nay Nhân Sâm không còn quí hiếm như xưa. Có trà Nhân Sâm. Có nước giải khát Nhân Sâm. Nhân Sâm + Táo Ɖỏ + Hột Sen được hầm với Gà Ác để tẩm bổ cho người già yếu hay suy dinh dưỡng. Nhân Sâm không còn là đặc sản của Cao Ly. Chúng tôi không còn là thảo mộc độc quyền ở miền ôn đới lạnh giá nữa. Chữ Sâm lan tràn ở Việt Nam mặc dù các vị ấy không thuộc dòng Panax và gia đình Araliaceae quí phái của chúng tôi. Lá Mã Ɖề + Rễ Tranh + Mía Lau nấu ra nước Sâm. Thế là Sâm xuất hiện ở một góc trời Ɖông Á nhiệt đới nóng bức và mưa gió quanh năm. Chúng tôi có một thân thuộc trên vùng đất Tiệt Nhiên Ɖịnh Phận Tại Thiên Thư ở Ɖông Nam Á. Ɖó là anh chị Sâm Ngọc Linh (3) sống âm thầm trên Cao Nguyên Nam Trung Bộ Việt Nam.

Sâm Ngọc Linh Việt Nam - Panax vietnamensis (Ảnh: caytrongviet.com)
Mức sản xuất Nhân Sâm trên thế giới ngày nay lối 80.000 tấn (1 tấn: 1.000kg). Bốn quốc gia Trung Hoa, Nam Hàn, Canada, Hoa Kỳ sản xuất 99% tổng sản lượng Nhân Sâm trên thế giới.

Các quốc gia nhập cảng nhiều Nhân Sâm là Trung Hoa, Hong Kong, Nhật Bản, Singapore, Hoa Kỳ, Ɖức. Nhân Sâm được dùng làm thuốc cổ truyền và nguyên liệu trong kỹ nghệ nước hoa.
***
Bây giờ tôi xin mạn phép nói về ba đồng loại nhưng không đồng chủng với chúng tôi. Ɖó là:
- Anh chị Nần, sống âm thầm trong trạng thái hoang dã và bần hàn đã có nguy cơ tuyệt chủng.
- Anh chị Củ Mài tức Khoai Mài, Khoai Chụp hay Hoài Sơn (Huai Shan), sống hào hùng trong rừng sâu núi thẳm của vùng khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới.
- Anh chị Nấm Truffle, một loại củ sống dưới lòng đất nhưng được xem như một loại Nấm.
Nần là một loại dây có gai, dài lối 10m, được tìm thấy nhiều trong vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới Á Châu (các nước Nam Á, Ɖông Nam Á, bắc Úc Ɖại Lợi). Lá dày, láng, hình trái tim. Ba lá chụm lại trên một cuống lá. Gân lá chìm nhưng rất rõ nét. Củ Nần tăng trưởng sâu dưới đất. Củ lâu năm có thể dài trên 1m. Củ Nần có nhiều rễ nhỏ mọc lia chia trên vỏ củ.

Lá và dây Nần (Ảnh: picturethisai.com)
Tên khoa học của Nần là Dioscorea hispida, gia đình Dioscoreaceae, tức cùng dòng họ với Khoai Yam, Khoai Từ v.v.. Tên gọi thông thường của Nần là:


Củ Nần (Ảnh internet)
Nần là một loại củ cứu đói cho loài người bị nạn đói vì chiến tranh, loạn lạc hay thất mùa. Nhựa Củ Nần màu vàng, có nhiều alkaloids độc. Củ Nần cần được ủ nhiều ngày để loại trừ chất độc trước khi nấu. Trong đệ nhị thế chiến, ở miền đông Nam Bộ người ta hấp Củ Nần với nếp, ăn với mỡ Hành và muối + Ɖậu Phộng + đường.
Nần cứu loài người lúc đói kém, thiếu lương thực nhưng loài người ít khi nhắc đến tên anh chị Nần vì:
- Phải mất nhiều thời gian mới có thức ăn ngon và an toàn từ Củ Nần.
- Việc tìm kiếm Củ Nần không dễ dàng trên thực tế.
- Thức ăn thuần Củ Nần không ngon nếu thiếu Nếp và muối + Ɖậu Phộng + đường. Nếp đắt tiền hơn cả Gạo! Ɖậu Phộng, muối, đường không dễ tìm trong thời kỳ chinh chiến, loạn lạc, nhất là ở miền rừng núi.
Nhựa Củ Nần có nhiều alkaloids, dioscoreine C13H19O2N, diosgenine C27H42O3 (kháng viêm, kháng lão hoá), polysaccharides Cx(H2O)y (giảm viêm, giảm sự thèm ăn), flavonoids C6-C3-C6, polyphenols (giảm nguy cơ các chứng bịnh kinh niên như ung thư, bịnh tim, v.v.), amino acids, ergosterol C28H44O (tiền sinh tố D2), cyanide CNˉ. Ngoài ra Củ Nần còn có P, Ca, Fe v.v.. Ɖộc chất của nhựa Củ Nần kết hợp với độc chất antiarin C29H42O11 của nhựa cây Sui Antiaris toxicaria, gia đình Moraceae dùng để làm tên tẩm thuốc độc.
Ở các quốc gia nông nghiệp Ɖông Nam Á Củ Nần hay Củ Nừng được giã nhuyễn đắp vào ghẻ hóa giòi trên lưng trâu, bò. Người đau khớp xương dùng Củ Nần giã nhuyễn đắp vào nơi đau rồi băng lại. Ở Phi Luật Tân nhựa Củ Nần được xem như thuốc sát trùng có khả năng làm giảm đau nhức, kháng viêm và chống xuất huyết.
Củ Nần không được loài người ghi công khi cứu họ khỏi sự đói kém và bịnh tật. Suy cho cùng, các anh chị Nần có bề ngoài tàn độc nhưng nếu biết chế ngự sự tàn độc thì các anh chị ấy trở nên hữu ích khi loài người rơi vào cảnh khốn khó ngặt nghèo, cơm không đủ no, bịnh không có thuốc thang.
Nghe nói trong làng Xuân Thịnh, quận Sông Cầu, tỉnh Phú Yên ở Việt Nam có một núi nhỏ giữa một đầm nước gọi là Hòn Nần vì ở đó có nhiều Củ Nần. Tương truyền rằng Củ Nần ở Hòn Nần đã cứu sống Nguyễn Ánh khi chạy trốn quân Tây Sơn vào hậu bán thế kỷ XVIII. Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi tức vua Gia Long, vua Thái Tổ nhà Nguyễn, sau khi quân họ Nguyễn đánh bại quân Tây Sơn, thống nhất sơn hà từ Gia Ɖịnh đền Thăng Long. Một miếu Công Thần được dựng lên trong xã để ghi công những công thần đã cứu giúp nhà vua trong lúc hoạn nạn bằng thức ăn hoang dã. Danh dự thay tổ tiên nhà Nần!
Hoài Sơn hay Củ Mài, Khoai Mài, Củ Chụp là một loại dây dài lối 10m, lá dày, màu xanh sậm hình tam giác giống như lá Khoai Mỡ. Hoa Hoài Sơn nhỏ, màu vàng-xanh. Củ hình ống mọc sâu dưới đất, vỏ màu vàng tươi phủ đầy rễ nhỏ li ti. Ruột Củ Mài màu trắng như tuyết. Ɖó là thức ăn cứu đói khi thất mùa vì lý do thời tiết hay loạn lạc. Củ Mài được tìm thấy ở các miền rừng núi ở Việt Nam, Nam Hoa (Guangdong, Guangxi, Yunnan), Taiwan (Ɖài Loan) và các quốc gia Nam Á, vùng Hy Mã Lạp Sơn và Ɖông Nam Á. Củ Mài không có độc tố như Củ Nần. Cách làm thức ăn từ Củ Mài không phức tạp và mất nhiều thời gian như cách biến chế thức ăn từ Củ Nần.

Dây Khoai Mài/Hoài Sơn (Ảnh: nongnghiepvang.com)
Tên khoa học của Củ Mài là Dioscorea persimilis, gia đình Dioscoreaceae. Tên gọi thông thường:


Củ Mài là nguồn thực phẩm thiên nhiên của loài người. Các anh chị ấy cũng là nguồn dược thảo thiên nhiên của loài người. Củ Mài có: polysaccharides Cx(H2O)y, dioscin C45H72O16, saponin C58H94O27 (cũng có sách ghi là sapotoxin), allantoin C4H6N4O3, amino acids R-CH(NH2)-COOH.
Hoài Sơn được xem là một dược liệu quí giá trong Ɖông Y. Người ta dùng Hoài Sơn như dược liệu trị suy nhược thần kinh gây mệt mỏi kinh niên (Neurasthenia), bịnh đường ruột, bao tử bào bọt, tiêu chảy, kiết lỵ, di tinh, mộng tinh, đau thắc lưng, đau thận, mồ hôi trộm v.v..
Anh chị Hoài Sơn sống ẩn mình trong rừng sâu núi thẳm nhưng anh chị ấy cứu đói cho lương dân miền sơn dã và cứu họ lúc thiếu ăn, bịnh tật.
Nấm Truffle hay Nấm Củ (4) là một loại củ mọc dưới mặt đất, hoàn toàn không có hình dạng của Nấm. Vào thế kỷ XVIII người Âu Châu gọi Nấm Truffle là Kim cương của nhà bếp. Chữ Truffle phát xuất từ nguồn gốc La tinh Tuber mà ra. Tuber: sưng, nở phình, củ v.v.. Tôi tạm gọi nôm na Nấm Truffle là Nấm Củ.
Nấm Truffle được trân quí ở Pháp, Ý và nhiều nơi khác trên thế giới. Nấm Củ này được tìm thấy ở các quốc gia ôn đới Âu Châu như Pháp (Périgord, Piedmont), Ý (Acqualagna), Tây Ban Nha và các quốc gia trên bán đảo Balkan. Ở Ấn Ɖộ và Trung Hoa cũng có Nấm Truffle.

Nấm Củ đen (Ảnh: trufamania.com)
Tên khoa học của Nấm Củ (Nấm Truffle) là Tuber melanosporum (Nấm Củ đen như Nấm Củ miền Périgord của Pháp), Tuber magnatum (Nấm Củ trắng), Tuber uncinatum (Nấm Củ màu rượu nho đỏ), gia đình Tuberaceae.

Nấm Củ trắng (Ảnh: trufamania.com)
Tên gọi thông thường:


Nấm Củ màu rượu nho đỏ (Ảnh: trufamania.com)
Nấm Truffle có ba màu khác nhau: Nấm Truffle đen, Nấm Truffle trắng, Nấm Truffle đỏ.
Trọng lượng trung bình của Nấm Truffle xê dịch từ 30gr đến 60gr. Nấm Truffle có trọng lượng cao nhất được tìm thấy ở Ý năm 2014: 1,786kg.
Việc tìm kiếm Nấm Truffle rất khó khăn vì Nấm nằm dưới mặt đất. Do đó phải dùng heo nái khám phá ổ Nấm và ủi lên. Nấm Truffle toát lên mùi heo đực. Ɖó là lý do tại sao phải dùng heo nái để tìm và ủi nấm Truffle. Khi gặp Nấm Truffle, heo nái thường ăn Nấm nên ngày nay người ta dùng chó đánh hơi nơi có Nấm Truffle để đào thay vì dùng heo nái.
Giá bán Nấm Truffle rất cao. Nấm Truffle trắng Tuber magnatum có giá bán cao hơn Nấm Truffle đen Tuber melanosporum.

Nấm Truffle đen của Trung Hoa hay Ấn Ɖộ giá thấp hơn Nấm Truffle đen Âu Châu như Nấm Truffle Périgord chẳng hạn. Năm 2007 chủ sòng bạc Ma Cao là Stanley Ho mua 1,5kg Nấm Truffle trắng mọc ở Pise (Ý) với giá 330.000 Mỹ kim! Vào năm 2025 một ounce (28gr) vàng trị giá 4.200 Mỹ kim. Một kg vàng có 35 ounce trị giá: 4.200 x 35 = 147.000 Mỹ kim. Giá tiền mà Stanley Ho mua 1,5kg Nấm Truffle Pise cao hơn giá vàng 1,5 lần. Nấm Truffle đắt tiền vì rất hiếm, khó trồng, khó thu hoạch. Phải mất nhiều thời gian huấn luyện heo nái hay chó trước khi tìm kiếm Nấm để thu hoạch.
Một đĩa thức ăn có 1,5g Nấm Truffle giá 25 Mỹ kim.
Một đĩa thức ăn có từ 8g đến 10g Nấm Truffle giá từ 125 - 200 Mỹ kim.
Nấm Truffle có 25% proteins, 5% ascorbic acid (sinh tố C) C6H8O6, flavonoids C6-C3-C6, antioxidants, fatty acids (acid béo), terpenoids (C5H8)n, polysaccharides Cx(H2O)y, sterols C17H28O, phenolics C6H5OH, endo cannabinoids (anandamide) C22H37NO2, sulfur S, P, Na, Ca, Fe v.v..
Với những thành phần hóa học kể trên Nấm Truffle có tác dụng chống lão hóa, kháng viêm, kháng khuẩn, ngừa ung thư, trị tiểu đường, bảo vệ gan.
***
Thưa quí vị,
Là loại củ, Nhân Sâm, Củ Nần, Củ Mài, Nấm Củ (Truffle) đều xuất thân từ những miền hoang dã trên Trái Ɖất.
Củ Nần, Củ Mài (Hoài Sơn) cứu đói và chữa bịnh cho người cần.
Nấm Củ, Nhân Sâm phục vụ cho người giàu và quyền uy thế lực, tức phục vụ không đến 1% dân số trên hoàn cầu. Trong tương lai các anh chị Củ Nần, Củ Mài và Nấm Truffle sẽ hoàn toàn vắng bóng trên Trái Ɖất. Loài người trồng Nhân Sâm nhưng không trồng, cũng không nghiên cứu cách trồng Củ Nần, Củ Mài và Nấm Truffle. Các anh chị này có bị tuyệt chủng không? Hay vẫn sống lây lất trong cảnh cơ hàn, đơn cô trong hoang dã?
Sinh quán của tôi là Bắc Triều Tiên hay Bắc Hàn. Quê tôi nghèo nhưng dồi dào bom nguyên tử và hỏa tiễn tầm xa. Những láng giềng ở phía bắc (Nga) và phía nam (Trung Quốc) nhà tôi đều chất đầy bom nguyên tử và hỏa tiễn liên lục địa. Qua Ɖại Tây Dương (Hoa Kỳ, Anh Quốc, Pháp Quốc), Ấn Ɖộ Dương (Ấn Ɖộ, Pakistan) và Ɖịa Trung Hải (Do Thái, Iran<?>), đâu đâu cũng chứa đầy bom nguyên tử.
Vì sống dưới lòng đất tức cõi Âm nên tôi không biết nhiều về chuyện trên mặt đất tức cõi Dương. Tôi không biết bom nguyên tử dùng để làm gì?
- Ɖể trang trí? Bom nguyên tử đâu phải là những tác phẩm nghệ thuật đâu mà trang trí. Chúng thô kịch, nặng nề và hao tốn nhiều tiền bạc. trí tuệ để tạo ra chúng.
- Ɖể hù dọa kẻ yếu? Nghĩa là thi hành câu: Cá lớn nuốt cá bé, Mạnh được yếu thua, Lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng. Nói rõ hơn không có công lý mà chỉ có sức mạnh của bắp thịt, quyền uy và tiền tài.
- Ɖể tự vệ quốc phòng? Nghĩa là có bom nguyên tử mới có hòa bình? Hay vì có bom nguyên tử mà có chiến tranh hủy diệt.
Tự đặt câu hỏi rồi tự tìm câu trả lời và đặt thêm câu hỏi khác để không có câu trả lời rốt ráo nào thêm. Nhân Sâm tôi cảm thấy buồn vô hạn và mường tượng một sự biến đổi khủng khiếp nếu thế giới trải qua chiến tranh nguyên tử. Ɖó là lúc lời tiên tri của vị cao nhân Việt Nam nào đó đúng gần 100% vì:
Mười phần chết bảy còn ba.
Chết hai còn một mới ra thái bình.
Chết hai còn một mới ra thái bình.
Trời ơi! Sao đúng quá! Một ở đây là 1% những cự phú và những người có nhiều quyền uy nhất trên trần gian và thân nhân của họ. Họ có hầm núp kiên cố nên bình an khi có chiến tranh nguyên tử. Dưới hầm có đầy đủ tiện nghi:
- Các loại máy móc.
- Máy điều hòa không khí.
- Máy phát điện.
- Ɖiện thoại.
- Computers.
- Hầm rượu với tất cả các loại rượu trứ danh trên hoàn vũ như Remy Martin, Starward Whisky, Martell VSOP, Courvoisier, Miguel Torres, Royal Salute, Calvados, Boulard, Tacoma, rượu Mao Ɖài (Moutai), Smirnoff Vodka v.v..
- Thuốc men trị các loại bịnh tật của loài người kể cà Tam Tinh Hải Cẩu Bổ Thận Hoàn của nhà thuốc Võ Văn Vân ở Thủ Dầu Một v.v..
Trong lúc bom nguyên tử tàn phá các thành phố và thiêu đốt mọi người sống trên mặt đất, các vị 1% vẫn sống an toàn dưới các hầm trú ần kiên cố. Ɖó là hạnh phúc cuối cùng mà họ hưởng trong kiếp sống trần thế.
Họ trở thành những người bất hạnh nhất trần gian sau khi chiến tranh nguyên tử chấm dứt. Họ là thiểu số những người sống sót để tiếp tục cai quản một vũ trụ hoang tàn, hiu quạnh đầy âm khí.
Cầu kỳ, dinh thự, nhà cửa hóa tro tàn. Người người bị thiêu đốt dưới nhiệt độ 3000 - 4000 độ của bom nguyên tử. Họ chết, hóa thành than hay bị bốc hơi mất dạng. Bom nguyên tử không tha sắc tộc, giới tính, tôn giáo, tuổi tác, nghề nghiệp nào cả. Nó dẫn đến cảnh chết chóc và hủy diệt hàng loạt.
Không có điện. Không có nước. Mọi vật đều bị nhiễm độc. Thức ăn mà các cự phú và các bậc quyền chức dự trù bị rữa thối, không ăn được. Một cự phú khét tiếng khắp hoàn vũ bị bịnh nhưng không có bác sĩ chăm sóc, cũng không có thuốc uống để ngăn chận bịnh. Ông thoi thóp thở trong thân hình da bọc xương như một người vô gia cư đói khát vào mùa đông giá buốt. Thời tiền chiến tranh nguyên tử tiền bạc của ông nhiều đến nỗi phải mướn 100 chuyên viên đếm giấy bạc làm việc mỗi ngày 10 giờ để đếm giấy bạc 100 Mỹ kim trong 1.000 ngày mới hết (5). Bây giờ ông trở thành người vô sản. Các ngân hàng đều cháy rụi. Tiền bạc hóa ra tro. Nhân viên ngân hàng đều chết. Mọi chung cư đều không còn nữa. Nếu lầy được tiền, ông cự phú cũng không biết phải làm gì? Các cửa hàng bách hóa, nhà hàng, quán tiệm, dealer bán xe hơi, các hí trường, các đổ trường, các hộp đêm… đều bị thiêu rụi.
Người chết, thú vật và cây cỏ cũng chết theo. Mọi sinh hoạt đều ngưng đọng. Âm khí ghê rợn bao trùm trên vũ trụ hoang tàn, vắng lặng, hoàn toàn không còn dấu vết của sự sống mà chỉ có màu xám của khói, màu đỏ của lửa và mùi khét lẹt tỏa ra từ người và vật bị bom nguyên tử thiêu đốt. Ông cự phú bi quan và tuyệt vọng khi hoài tưởng quá khứ vàng son và nghĩ đến tương lai đen tối trước mắt. Cùng các cự phú khác, ông phải chôn cất nạn nhân của bom nguyên tử, dọn dẹp nhà cửa đổ nát, đường phố ngổn ngang xác người, xác thú, xác xe cộ và tự tìm phương kế sống cho những ngày sắp tới. Muốn có ăn, ông phải tự cày cấy, xuống sông, suối mò tôm, bắt ốc v.v.. Cuộc đời của những cự phú và giới quyền uy nhất hô bách nặc (một người hô, trăm người dạ - một số người miền Nam đọc trại là “nhất hô bách nạt” do “nặc” là một từ Hán cổ) còn kém hơn cuộc đời của người tiền sử.
Người tiền sử thừa hưởng di sản của một Trái Ɖất nguyên trinh, đất đai màu mỡ, nước uống tinh khiết, không khí thanh sạch, cây trái tốt tươi, thú vật đầy rừng.
Thời hậu chiến tranh nguyên tử các cự phú và giới nhất hô bách nặc muốn có nước phải tự đào giếng hay tự xuống sông, suối để gánh nước bị ô nhiễm phóng xạ nguyên tử để uống, nấu nướng, tắm rửa, giặt giũ v.v.
Muốn có ăn phải tự đi kiếm, tự tìm củi, tự tạo ra lửa để nấu nướng.
Muốn có lửa phải tự kiếm đá để tạo lửa nhưng đá bị nung dưới nhiệt độ 3000 – 4000 độ nên mềm nhũn như đá vôi. Khi hai hòn đá chạm nhau, lửa không xẹt mà hai hòn đá biến thành bột! Việc tạo lửa thời hậu chiến tranh nguyên tử khó khăn hơn thời tiền sử rất nhiều.
Vài ngày sau khi bom nguyên tử nổ, các hầm núp của các cự phú và giới nhất hô bách nặc bắt đầu sụp đổ. Muốn có chỗ ẩn trú phải tự tìm cây hay đập gạch để xây cất nhà. Ɖất thì khô cứng như bị hầm, cây cối đều thành than. Cỏ cháy thành tro bụi bị gió cuốn đi. Mọi vật trên không trung, trên mặt đất, trên mặt biển, sông hồ, dưới lòng đất đều bị thiêu hủy và nhiễm độc.
Bịnh ngoài da và các loại bịnh lạ xuất hiện. Khi bịnh, chỉ chờ chết dần mòn chớ không có y tá, bác sĩ hay thuốc men chi cả. Các y sĩ, nếu còn sống sót, cũng không được bình thường. Trí nhớ, sự nhận thức của họ biến mất. Ngũ quan lệch lạc. Có người bị loạn thị khi thấy màu xanh hóa ra màu tím, màu đỏ; thấy đàn ông ra đàn bà; thấy sạch thành dơ; khi vui lại khóc, buồn tênh lại cười v.v.. Thuốc men, nếu có, bị nhiễm phóng xạ nguyên tử. Bịnh mà không thuốc cũng chết, uống thuốc cũng chết. Nghĩ đến đây vị Ɖệ Nhất Cự Phú Hoàn Vũ tắt thở! Thi thể của ông sau đó được Thiên táng hay Ɖiểu táng, một nghi thức mai táng thường thấy ở Tây Tạng (Tibet).
Ɖó là hình ảnh hai cuộc đời tương phản của các cự phú và các bậc tột đỉnh quyền uy trên thế gian thời tiền và hậu chiến tranh nguyên tử.
Tôi chân thành cám ơn các cự phú, các nhà lãnh đạo quốc gia đầy quyền uy, các thầy thuốc Ɖông Y đã đưa Nhân Sâm, Nấm Truffle và trứng cá Caviar lên tột đỉnh danh dự khiến Hoài Sơn, Nấm Mối, Nấm Ɖông Cô, Bào Ngư, Vi Cá và Thạch Ô Hải Sâm suýt ganh tị. Kính chúc cộng đồng Thảo Mộc Ɖịa Cầu luôn luôn được mưa thuận gió hòa.
Trên không trung bản nhạc Trái Ɖất Này Không Chỉ Một Mình Tôi được trổi lên.
Ɖại Trưởng Lão Nhân Sâm Cao Ly vội vã thu xếp hành lý ra phi trường về Pyongyang (Bình Nhưỡng), ghé qua phi trường Sheremetyevo International Airport ở Moscow. Ban Tổ Chức Quốc Tế Thảo Mộc Tâm Sự chúc Ɖại Trưởng Lão thượng lộ bình an. Thình lình xuất hiện một ông tướng mang mề-đai từ ngực xuống tận đầu gối đứng thẳng người, mặt hướng về Pyongyang và cất tiếng hát bài Chin-geunhan Eobeoi (Friendly Father – Cha Thân Ái) bằng tiếng Triều Tiên.
Ɖại Trưởng Lão Nhân Sâm Cao Ly - Kao-Li (6) Panax Ginseng.
Phạm Ɖình Lân, F.A.B.I.
Chú thích:
(1): Chang bai (Trường Bạch) là tên một dãy núi trong tỉnh Jilin (Cát Lâm).
(2): Ashwaganda: Nghĩa là mùi của ngựa (tiếng Sanskrit/Phạn ngữ). Ɖó là tên gọi của Sâm Ấn Ɖộ (Indian ginseng) Withania somnifera, gia đình Solanaceae chớ không phải gia đình Araliaceae của Sâm Cao Ly.
(3): Ngọc Linh: Núi Ngọc Linh (cóvài nguồn ghi tên núi là Ngọc Lĩnh/Lỉnh) trong tỉnh Kontum. Sâm Ngọc Linh được gọi là Sâm Việt Nam, Sâm Trúc (Trúc Tiết Nhân Sâm).
(4): Tên gọi Nấm Củ (Nấm Truffle) do tác giả bài viết đặt tên dựa vào chữ TUBER trong tên khoa học và cách phát triển trong lòng đất của loài thảo mộc này.
(5): Một giờ đếm được 100.000 tờ giấy bạc. Số giờ làm việc của 100 chuyên viên trong 1.000 ngày: 10 x l00 x 1.000 = 1.000.000 giờ. Số tờ giấy bạc đếm được trong khoảng thời gian đó: 100.000 x 1.000.000 = 100.000.000.000 = 100 tỷ tờ. Số tiền tổng cộng là 100 tỷ x 100 = 10.000 tỷ Mỹ kim = 10 trillion Mỹ kim (1 trillion: 1.000 tỷ).
(6): Kao-Li (Cao Ly) tức Chosen (Triều Tiên). Chosen: Cương Thổ Ban Mai Yên Tĩnh. Chánh quyền Pyongyang (Bình Nhưỡng) ngày nay vẫn dùng quốc hiệu Triều Tiên. Chánh quyền Seoul (Hán Thành) phía Nam vĩ tuyến 38 dùng quốc hiệu Hangkuk hay Hankuk (Hàn Quốc). Phần đất phía Nam vĩ tuyến 38 là Namhan (Nam Hàn) và phần đất phía Bắc vĩ tuyến 38 là Bukhan (Bắc Hàn).






























