Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
cotden2026 Copy
tranh Đinh Trường Chinh
 
Giúp ban tổ chức làm cái chương trình thi đấu đêm võ đài đầu tiên xong, tôi định đưa mấy đứa học trò đi ăn uống gì một chút, thì có một người đàn ông đến gặp tôi:

– Anh là Kim?

Tôi nhìn anh ta dè dặt gật đầu.

– Mời anh đi với tôi một chút.

Nhìn cái đầu tóc hớt cao, áo bỏ trong quần, thắt dây nịt đàng hoàng – dù là chân mang dép – tôi nghĩ ở một nơi hẻo lánh này chuyện gì cũng có thể xảy ra. Không ít người đã bị mời kiểu đó…

Tôi cố làm tỉnh, tự nhủ không sao đâu. Với cái thói quen chịu đựng không thắc mắc gì qua bao nhiêu năm tháng trong trại cải tạo cũng như những ngày bị quản chế ở địa phương, ai muốn gọi lúc nào, muốn bắt, muốn dẫn đi đâu mặc kệ, chết cũng đã chết rồi, đã làm tôi quên mất mình đang là khách mời không thể thiếu cho cái tổ chức võ đài này.
 
Tôi lặng lẽ đi theo, không nói một lời, sau khi không quên ghé vào tai một đứa học trò nói nhỏ, mà nếu bị nghe cũng không có gì phải bắt bẻ “Con lo ăn uống cho mấy đứa, thầy được mời đi với người này”. Đứa học trò, có lẽ cảm thấy sao đó, nó nói, cũng vô thưởng vô phạt “Cho con đi với”, tôi thấp giọng “Con để ý thầy đi đâu được rồi”.
 
Người này là ai? Vẻ mặt lạnh lùng không biểu tỏ một chút tình cảm nào, thân hay thù, không biết. Dĩ nhiên thù thì không thể biết rồi, còn thân thì sao tôi không thấy được nét quen thuộc nào. Tôi cũng đã quá quen với những lần bị dẫn đi lấy cung, lấy lời khai, dẫn đi “thăm hỏi” lấy tình hình khi đã về xã hội, thái độ của gã công an nào cũng giống nhau! Tôi bước lên đi ngang với anh ta, không muốn lẽo đẽo theo sau như một kẻ dưới, lòng thì ngổn ngang hàng ngàn cái dấu hỏi, “xưa” tôi đã từng đóng quân ở đây, mười người thương biết đâu cũng có một người ghét, mà không may người ghét đó lại là kẻ thù thì coi như suốt đời là “hoạt động chống phá cách mạng” nay chỗ này mai chỗ khác” mà không bao giờ có ai còn gặp được ở nơi nào. Mới hai năm trước, cha của một đứa đệ tử tôi, ở một xã không xa thành phố bao nhiêu, nửa đêm công an xã đến bắt lên trụ sở xã rồi không bao giờ về nữa.
 
Người đi bên cạnh tôi vẫn im lặng. Sau một lúc dẫn tôi loanh quanh mấy con đường trong xóm, tôi được đưa đến một căn nhà nhỏ, việc đầu tiên tôi để ý là không thấy cờ đỏ sao vàng, ảnh Hồ Chí Minh, nhưng như vậy không có nghĩa đây không phải là một cơ quan. Tôi đã từng được “mời” đến những nơi tương tự thế này.
 
Sau khi cánh cổng sơ sài được khép hờ lại, tôi được mời ngồi nơi chiếc ghế của một bộ bàn đặt trước hàng ba (thềm trước của hầu hết những căn nhà thôn quê người ta gọi là hàng ba), rồi như một cái bóng, anh ta lặng lẽ mở cửa vào nhà trong, bê ra một bộ bình trà, một bình thủy, pha trà. Tôi vẫn chưa yên tâm vì hầu như những lần làm việc của các cán bộ công an, bọn chúng cũng đều làm giống vậy. Có vẻ như đã xong phần mở đầu, anh ta bước đến cạnh tôi chìa tay ra:

– Em là Thành, rất mừng được gặp lại anh.
 
Nãy giờ nín thở theo dõi từng động tác của anh ta, thậm chí còn liếc chừng xem đáy bình lúc anh ta pha trà, trong móng tay, có thủ thuật gì như truyện kiếm hiệp, truyện trinh thám khi người ta lén đánh thuốc độc không. Tôi thở ra nhè nhẹ, đưa tay bắt. Công an thì nó không xưng em với mình. Bàn tay anh ta siết nhẹ, tôi đọc được cái vẻ thân thiện và xúc động trong giọng nói anh ta:

– Xin lỗi, chỗ đông đảo em không tiện nói rõ. Anh không nhớ em đâu, nhưng em thì không bao giờ quên anh.

Cố nén một tiếng thở phào, tôi vẫn dọ dẫm:

– Chúng ta có đã gặp nhau?
 
Một người đàn bà bưng mâm thức ăn từ sau nhà tới, chào tôi và sắp thức ăn lên bàn, Thành giới thiệu là chị ruột Thành. Ngoài đường, mấy đứa học trò của tôi cũng đang đi ngang qua, làm như nghêu ngao đi dạo nhưng tôi hiểu là chúng muốn quan sát sự an nguy của ông thầy, có lẽ chúng cũng đã được yên tâm khi thấy tôi đang ngồi trước mâm ăn. Khi người đàn bà vừa quay lưng đi, Thành tiếp:

– Anh có còn nhớ cái chết của một người đàn bà sinh khó ở Chi y tế Củng Sơn tháng 3 năm 75 không?
 
Tôi đã hiểu. Chẳng phải công an, chính quyền nào ở đây cả mà chỉ là chuyện tình cảm riêng tư. Chắc chắn Thành phải là gì đó rất mật thiết với ngưới đàn bà đã chết năm xưa. Tôi gật đầu, Thành tiếp tục giải thích:

– Em là chồng của người đó. Mười năm nay em vẫn mong một dịp nào được gặp lại anh. Sáu mươi cây số không xa, em cũng có một đôi lần xuống phố, nhưng nói thật anh thông cảm, làm gì thì cũng phải lẹ lẹ cho kịp chuyến xe lên, nhà còn đứa nhỏ.

– Bao nhiêu tuổi rồi?

– Dạ 12 anh. Là anh của đứa đi theo mẹ nó. Cháu đang học lớp 6, anh ạ. Mời anh dùng với em bữa cơm.

Tôi cầm đũa, bồi hồi nhớ lại chuyện năm xưa, trong khi Thành vẫn huyên thuyên như chưa bao giờ được nói.
 
Ngay từ khi ký hợp đồng tham gia võ đài Củng Sơn, tôi đã quay quắt với bao nhiêu là những hình ảnh của mười năm trước, đến khi nghe nhắc đến người đàn bà đã chết đó, những chuyện ngày xưa chợt như lũ mãnh liệt kéo về, ray rứt, rộn ràng. Thai phụ trẻ, trên dưới 20, chuyển dạ đã hơn một ngày chưa sinh được, giữa cái không khí ngột ngạt, oi bức của chiến tranh, với hàng ngàn người từ Tây nguyên, dân có, lính có, tràn xuống con đường độc đạo băng qua thị trấn nhỏ này. Tôi vừa dự cuộc họp khẩn cấp từ Chi Khu ra cổng, nói chuyện với mấy người đang đứng cạnh chiếc xe Jeep của tôi, cũng là bãi đáp trực thăng đang có đông đảo đồng bào di tản và quân nhân lạc đơn vị đứng ngồi quanh bãi đáp, hy vọng quá giang được khi có trực thăng đáp xuống. Bất chợt mấy quả đạn cối pháo kích văng tứ tung quanh bãi đáp. Mọi người hốt hoảng, người nằm, người chạy nhốn nháo cùng với tiếng la khóc của con nít. Tôi kịp nhìn thấy người ta khiêng một chiếc băng ca từ bãi đáp hối hả chạy ra. Tôi nhảy vội lên chiếc xe Jeep nổ máy chạy trờ tới hối người ta đặt lẹ thai phụ lên xe, tôi chở hết mấy người nữa chạy về Chi Y Tế cách đó hơn 500m.
 
Trên băng ca là thai phụ xấu số mà Thành vừa nhắc, chị đang chờ trực thăng chuyển về bệnh viện tỉnh vì y tế quận đã bó tay. Họa vô đơn chí, mảnh đạn đạn pháo kích đã chia sẻ cho chị mấy mảnh lẻ ghim vào thân thể chị, làm máu tuôn ướt cả băng ca chị nằm, và tất nhiên cũng ướt cả ghế xe Jeep, nơi chồng chị ôm chị ngồi.
 
Về đến Chi Y Tế, Trưởng Chi là một Trung Úy Quân Y, bạn tôi, nói là với tình hình chiến sự ở các quận miền dưới đang rất nặng nề, xin được trực thăng không phải dễ mà bãi đáp lại thiếu an ninh, trực thăng không thể đáp xuống nữa. Giao bệnh nhân lại cho trạm xong, tôi phóng vội về đơn vị, đang ầm ì phản pháo.
 
Khoảng 2 tiếng đồng hồ sau, tôi trở xuống Chi Y Tế thì thai phụ không còn cần bệnh viện nữa, thai nhi cũng vĩnh viễn nằm trong bụng mẹ để đến một nơi không phải chờ trực thăng, không phải chạy pháo kích. Chị đã thực sự thoát qua khỏi con Đường 7 quằn quại, đau đớn của kiếp người. Tôi gọi đơn vị đưa xuống thêm chiếc vận tải GMC. Chiếc xe đã loay hoay chạy tới chạy lui chở người nhà của người chết đi mua, chở quan tài – rất may người bán quan tài vẫn còn đang thu xếp chuẩn bị ra đi – sắm sửa các vật dụng quan trọng cần thiết tối thiểu cho đám tang sơ sài. Tôi còn nhớ hôm ấy mua xong mấy xấp vải trắng, không còn tìm được một thợ may tang phục nào, người nhà phải tự cắt mấy vuông vải làm khăn tang. Xóm làng giống như trong cơn bão, đa số người ta đã di tản theo làn sóng người đổ từ Tây nguyên xuống, nhà nhà đóng cửa, đường sá chỉ còn ngơ ngác một ít người vẫn nấn ná chờ tìm người thân thất lạc hoặc những quân nhân, thường dân chậm chân vừa mới xuống tới Củng Sơn. Việc khâm liệm cũng nhanh chóng, đơn sơ ngay trước cửa trạm xá và cũng từ đây chiếc GMC buồn bã đưa linh cữu chị cùng với khoảng chừng chục người đưa tang theo ra huyệt mộ. Đám tang được coi là tươm tất, ấm áp so với hàng ngàn cái chết khác trong cuộc chiến loạn dọc Đường 7 mấy ngày nay. Người ta trồng cạnh mộ một cây chuối, nói đó là hình ảnh người có thai bị chết, khi nào chuối trỗ buồng thì ở cõi âm nào đó đứa bé sẽ được ra khỏi lòng mẹ.
 
Đó là ngày áp chót của một Củng Sơn hiền hòa, thanh bình, thân thiện, Củng Sơn của Đường 7, con đường nhỏ bỗng trở nên con đường lớn với cái tên mãi mãi là vết sẹo của lịch sử: Đường Máu, trong số phận quê hương, như đường chỉ tay mà người ta gọi là mạng đạo trong vận mệnh một đời người, Củng Sơn của mãi mãi về sau mỗi khi nghĩ tới, không ngăn được những bọt nước mắt mặn trong lòng, một chuyện tình không nhỏ, như con Đường 7.

– Cả nhà em mang ơn anh. Giữa sự hỗn độn, nhốn nháo của những ngày Củng Sơn sắp mất, mạnh ai nấy bỏ đi mà anh còn liều lĩnh lo cho gia đình em, nhất là nếu không có chiếc xe thì việc di chuyển nhà em ra huyệt cũng khó.
 
Một lần nữa tôi xác định Thành không có chút “địch” nào qua chữ nghĩa anh ta dùng. Phe ta thì mới dùng chữ “Củng Sơn mất”, thay vì địch thì lúc nào cũng nói là “tiếp thu, tiếp quản, lấy được, giải phóng”. Tôi trả lời:

– Nếu không loạn lạc vậy thì ai cần đến anh làm gì. Với lại hôm ấy đơn vị anh vẫn còn bình tĩnh mà.

– Dạ, nói chung hôm ấy Củng Sơn cũng chưa có giặc giã gì tới, có điều do đoàn người Tây nguyên ào ạt xuống đồn đãi xôn xao làm mọi người hoang mang hốt hoảng. Càng thấy quân đội lần lượt bỏ đi, người dân càng có cảm giác là đang bị bỏ rơi, đang lơ lửng trên sợi dây treo cổ, chờ ai đó đến đạp ngã cái ghế dưới chân. Thế là mạnh ai nấy tuôn chạy.
 
Thành gọi với vô nhà trong gọi “Chị Hai đem ra cho em chai rượu” rồi rót mời tôi. Tôi từ chối viện lẽ còn nhiều việc phải làm. Thành ép:

– Uống chút xíu để nhớ ngày xưa. Ngày đó có lần em may mắn được có mặt trong một bữa nhậu của mấy anh, ở đây nhiều người còn hát được bản nhạc anh Hóa phổ bài thơ Vô Vi của anh “Ở đây cũng có vài quen biết, em rất ngoan và trời rất trong…” hay là “Củng Sơn mai có nguời quen hỏi, ta ừ rừng núi cũng tình thân”
 
Tôi cảm thấy vui thích, đã từ lâu người ta chỉ biết tôi là một võ sư dạy học trò múa may đấm đá, bỗng dưng có người biết nhiều về quá khứ của mình mà lại đánh đúng vào cái huyệt thơ văn một thời văn gừng văn nghệ, tôi đỡ ly từ tay Thành, ngụm một ngụm rượu đế.

– Ăn đi anh. Ăn cho em vui, lâu lắm em mới thực sự có một ngày vui như hôm nay. Chắc mẹ mấy nhỏ cũng đang có mặt trong bàn này…

Vừa uống rượu vừa ăn, vừa nghe Thành nhắc những chuyện xưa cũ. Tôi chỉ nghe, thỉnh thoảng hỏi thăm đời sống, sức khỏe Thành từ 75 đến nay. Thành uống nhiều, còn tôi thì chỉ phá mồi cầm cự.
 
Bữa trưa rồi cũng kết thúc, khi biết tôi sắp đi, Thành bảo:

– Anh chờ em chút. Em có quà cho anh.

Thành vào nhà trong bê ra một túi nylon cũ, đặt lên bàn:

– Anh xem đi, không dễ gì giữ được đến hôm nay sau những đợt truy quét văn hóa phẩm trước 75 mà người ta cho là đồi trụy.
 
Tôi mở ra, giật mình nhìn mấy tựa sách quen thuộc, ba cuốn truyện dịch từ văn học Nga, Ana Karina của Leon Tolstoi, Gã Khờ của Dostoievski, Doctor Zhivago của Boris Pasternak và một cuốn tập bìa cứng, khá dày. Vừa cầm lấy một cuốn tôi vừa nói:

– Nhưng đây là văn học Nga mà.

– Họ đâu cần biết anh, ở đây có một câu chuyện thật, một ông trí thức vườn, muốn nâng bi lập công, những ngày đầu 75, vội vã treo hình Bác Hồ cùng với hình Angels, Karl Marx, Lenin, bị mấy ổng tới nhà bắt gỡ 2 hình Angels và Karl Marx xuống nạt nộ xỉ vả hăm dọa đủ điều, bảo “thời buổi này mà còn để hình mấy thằng cao bồi du đãng, râu tóc bờm xờm, mà lại treo chung với Hồ chủ tịch vĩ đại nữa”. Chủ nhà càng giải thích mấy ông cách mạng ba mươi đó càng sôi máu, cứ nói là không ai biết tên mấy thằng đó, giải thích sao cũng không chịu, càng sợ lòi cái dốt ra cãi bướng lấy được, tất nhiên là mấy ổng phải thắng, cũng may chủ nhà có nhiều công lao nịnh bợ từ những ngày đầu tháng Tư nên không bị bắt đi cải tạo. Chắc là đám 30  đó chỉ được dạy bắn giết, hiếp đáp. Sau này hiểu ra, có lẽ thẹn quá nên họ kiếm chuyện với ông kia mệt nghỉ, gỡ gạc chút mặt mũi. Nhà quê mà anh. Phép vua thua lệ làng.
 
Tôi lật qua một vài trang, cuốn truyện nào cũng có chữ ký của tôi. Riêng cuốn tập bìa cứng lại là một tập nhựt ký tôi mới viết hơn mười trang từ những ngày Củng Sơn còn bình yên đến khi hấp hối. Những trang kế tiếp là chi chít những dòng chữ mềm mại, ẻo lả hơn. Tôi nghĩ đến một người. Ngay từ khi chưa bước xuống bến xe thị trấn, tôi đã xốn xang nghĩ đến người ấy, người của “chờ hoài nhau trong mơ nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa!” *
 
– Khi biết tụi em là chị em họ rất gần, chị Hương và em càng thân thiết nhau hơn, nhất là hai chị em cùng có anh là người thân. Em biết là anh đã hiểu những gì đã xảy ra với chị, nhưng đọc, anh sẽ hiểu nhiều hơn. Anh giữ hết đi, đó là của anh.
 
Tôi ôm chồng sách, cả người run lên ráng giữ mấy giọt nước mắt đang bất chợt tuôn ra, cám ơn Thành:

– Không phải đây là lần đầu anh lên Củng Sơn. Hồi nội cô ấy còn sống anh đã nhiều lần lên thăm ngoại, muốn thắp một nén nhang mà không thấy bàn thờ.

– Dạ, không ai dám thờ, ít ra nuôi một chút hy vọng, dù là ảo vọng cũng thấy được an ủi hơn là phải chấp nhận một khẳng định đau đớn.

– Nhưng mà cả chuyến…

– Thì bởi, nếu còn được một người sống để biết chắc là thế nào thì nói làm gì.
 
[]
 
Ngày 20 – 4 – 1975
 
Anh, em vừa từ Tuy Hoà về, bây giờ mới thật sự bình tĩnh để em nhớ anh, để em khóc, để em biết em yêu anh đến chừng nào. Em viết cho anh ngay trong tập nhựt ký của anh gửi em, em muốn như vậy, giống như chúng ta cùng đập chung một trái tim, trái tim của anh là trái tim của em.
 
Vâng, hôm ấy là ngày 25 Tháng Ba, Thị trấn như một quán nhỏ trên con đường dài đầy cát bỏng và khách là dòng người hết lượt này đến lượt khác chảy xuôi về hướng Đông, với áo quần tơi tả, mặt mũi xác xơ. Họ là đoàn người chạy loạn từ Tây nguyên xuống, với quan có, lính có và phần lớn là dân thường. Họ chỉ dừng lại nghỉ ngơi ăn uống sau mấy ngày băng rừng lội suối, qua bao nhìêu lằn đạn lạnh lùng, và cũng không ít người đã vĩnh viễn nằm lại dọc đường, đoạn đường em đã vừa vật vã thoát qua. Nhiều người như vừa qua được “vòng loại” của tử thần, trong khi lấy sức chuẩn bị vào “vòng 2” – mà không biết còn bao nhiêu vòng nữa mới vào tới “bán kết, chung kết” – họ kể lại những câu chuyện não lòng mắt thấy tai nghe, đứa bé ngậm hoài vú người mẹ đã chết tự bao giờ, mấy lượng vàng không đổi được một lon guigoz nước, một anh lính bắn hết vợ con rồi tự sát… Ai còn ráng được thì lại tiếp tục lên đường và toán khác tiếp tục đổ tới, nghỉ ngơi, ăn uống, càng lúc càng vội vã hơn. Đi và đến, họ đều có chung một khí sắc: vô vọng, kinh hoàng. Cái nhộn nhịp ngộp thở đó đã qua đến ngày thứ tư, và chiến tranh cũng có vẻ như đang sắp ập đến cái thị trấn này, nơi từng khi suốt mấy tháng liền người dân ở đây không nghe tiếng súng (mấy năm còn đi học em đã sống những ngày tháng yên lành ở đây). Từ trong quận ra, anh gặp em đang đứng cạnh chiếc xe anh đậu bên bãi đáp trực thăng, anh chào em và hỏi thăm vài người cạnh đó về một anh em nào đó của anh. Em bắt chuyện:
 
– Ông cũng có người thân ở Pleku?
 
– Em ruột tôi. Nó là Pháo binh Biên phòng, thuộc Tiểu Đoàn 90 Biệt Động Quân. Có người nói nó chết rồi, người bạn nó nói chính mắt anh ta thấy xác nó còn bị xe tăng Việt cộng cày qua nữa.

– Tôi cũng có người anh 90 Biệt Động Quân, mấy ngày nay không ai biết tin tức gì ảnh.

– Cô cũng từ trên đó chạy về?

– Dạ, tôi ở Pleiku, anh ấy đóng ở Lệ Ngọc, nhưng nhà tôi thì ở đây.

– Nhà…?
 
Em phì cười trước sự… cố tình làm bộ hiểu lầm của anh:

– Là cái nhà. Nhưng tôi không ở đây, mới về ở với nội được mấy ngày, tưởng ổn rồi lại phải chạy tiếp.
 
Bất chợt, mấy quả đạn pháo kích như xé trời rơi xuống bãi đáp nổ trước mặt chúng ta (em có cảm giác đã nổ ngay trên đầu em), em chụp vội lấy anh ôm cứng và anh cũng vội kéo em nằm xuống bên hông chiếc xe Jeep. Đất đá bay rào rào bên tai. Em bám chặt anh và em thấy có được chút yên tâm trong vòng tay người lính, (súng đạn có biết em đang nằm trong tay lính đâu, và nếu có chết em cũng vẫn còn tưởng lính là mình đồng da sắt!). Dứt pháo kích, anh đỡ em đứng dậy hỏi khẽ:

– Cô có sao không?

Em bẽn lẽn trả lời:

– Dạ không. Em sợ quá.
 
Anh chụp lấy ống nói của chiếc máy trên xe gọi đi:

– Cho phản pháo mấy điểm tiên liệu. Tôi về ngay.

Em vẫn ôm cánh tay anh như là nếu có nổ nữa thì anh sẽ đỡ cho em. Có phải mấy quả đạn pháo kích kia đã cột số phận của mình lại với nhau?
 
Cũng lúc này bên kia bãi đáp mấy người đang hốt hoảng khiêng một chiếc băng ca chạy. Anh nổ máy xe và không biết anh sắp đi đâu, cũng không đợi mời, em thản nhiên như một bà chủ chễm chệ nhảy lên xe cho tài xế lái đi (lúc này mà anh có chở thẳng em lên đồi chắc em sẵn sàng ngỡ mình là phu nhân của anh. Em có vô duyên quá không? Đâu đến nỗi mấy quả đạn kia đã làm em phát cuồng!). Anh phóng xe đến chỗ chiếc băng ca, trên đó có một chị mang bầu đến ngày sinh mà đau bụng từ đêm qua đến giờ vẫn chưa sinh được, lúc nãy ở bãi đáp là người ta đang đợi trực thăng chuyển chị về bệnh viện tỉnh thì thật không may chị lại trúng đạn pháo kích, máu đang ra xối xả… Đưa chị xuống trạm xá xong anh trở lên đơn vị, em ở lại lúng túng giúp gia đình người đàn bà, cần phụ gì, em phụ. Khi anh trở xuống thì chị ấy đã vừa mới chết trước đó gần nửa giờ, em đã cùng với anh giúp người nhà lo tang ma cho chị. Mấy tiếng đồng hồ chạy tới chạy lui sắm sửa nhang đèn hòm rương này nọ chỉ đủ để biết tên nhau. Còn ngoài ra thì cái đám tang đã giữ hai ta một khoảng cách yên lặng ngoại trừ (em lại vô duyên nữa) những người đưa tang không khỏi nhìn em thắc mắc, chắc là vợ của ông Trung Úy mới lên thăm.
 
Đêm này em về nhà nội. Từ khi ba mẹ bị chết trên một chuyến xe đò do một quả mìn của Việt cộng trên Đường 7, em đã quen với sự cô đơn của một đứa bé mồ côi, người anh duy nhất sau khi mãn khóa ở Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế đã chọn đi Biệt Động Quân, còn lại em ở với nội đi học, hè và Tết mới về quê thăm nội. Cho đến khi anh của em xin được cho em một chân y tá ở bệnh viện Pleiku vừa học vừa làm. Đã có bao giờ em cảm thấy cô đơn lạ lùng như đêm nay. Nghe tiếng súng nổ xa xa quanh quận, nghe tiếng đạn pháo binh xé màn đêm em nghĩ tới anh. Ồ, sao anh đã không đưa em lên đồi để em được cùng anh thao thức cùng những tiếng đại bác rộn rã từng canh, để được theo anh ra ngồi bên giao thông hào cùng âu lo, bàn tính chuyện ngày mai? Nếu biết có những ngày đen tối sẽ tới, tại sao mình đã không có được những giây phút để sống cho một đời?
 
Khi chiều anh hỏi em “mai em tính sao”, em nói lại chờ trực thăng, còn Chi Khu là còn hy vọng (em xạo anh thôi, em biết trực thăng sẽ không đáp xuống nữa, ý em chỉ là muốn đợi anh). Anh nói cho anh gửi gì đó về nhà anh. Em nghĩ nếu Củng Sơn còn thêm một ngày, một ngày thôi, đêm mai em sẽ không để anh phải lo lắng một mình.
 
Và hôm sau, 26 tháng 3, đúng là anh đã xuống bãi đáp trực thăng gặp em. Bãi đáp cũng như phố thị Củng Sơn hôm nay vắng vẻ, đoàn quân dân di tản từ Tây nguyên sau mấy ngày dồn lại nghỉ ngơi ở đây cũng đã đi gần hết. Anh nói:
 
– Nếu không gì trở ngại em cho anh gửi về nhà anh mấy cái này, nhẹ thôi, 45 đường Tản Đà Tuy Hòa.
 
Em mở xách tay, đặt bọc nylon vô xách, trong đó đã sẵn mấy bộ quần áo và một đôi giày của em, anh cười, không hẹn mà của anh cũng là một bộ quần áo và một đôi giày dân sự và mấy cuốn sách (em hiểu là tại sao anh cười).

– Coi bộ hai đôi giày hạnh phúc quá phải không?
 
Thay vì đúng ra em đã đỏ mặt ngượng ngùng, còn có thể cự nự anh nữa, thì em lại lườm yêu anh, lên giọng dạy đời (em lớn lúc nào vậy anh nhỉ?):

– Giờ này mà còn yêu đời quá, sao không giữ bộ civil lại mà thay? Người ta lột bỏ quân phục lẫn vào thường dân không thấy sao?

– Tại họ không còn đơn vị.

– Còn anh thì sao?

– Anh em của anh đang trông cậy vào anh.
 
Anh đưa em qua ngồi cùng trên chiếc ghế bên phải tay lái, cả hai cùng im lặng bên nhau như để nghe hơi thở của người này tràn trong phổi của người kia, và cùng lắng nghe cái ngột ngạt nặng nề đang bơm căng cái thị trấn nhỏ bé này.

– Anh cho em lên đồi đi.

– Chi?

– Tử thủ

– Xạo quá, sao không ở lại tử thủ Pleiku ấy?

– Tại trên ấy không có anh. Nha anh! Cho em lên đồi với anh đi.

– Nói bậy

– Không bậy.
 
Biết em nói thật, anh la:

– Nguy hiểm lắm em biết không?

– Không. Không biết. Chết là cùng. Chết thì chết với anh, chạy thì chạy với anh.

– Em biết là gia đình binh sĩ anh đã cho đi từ mấy ngày trước, chỉ còn những tay súng chiến đấu thôi.

Em nói lì:

– Em không phải gia đình binh sĩ. Em là gia đình sĩ quan. Em cũng biết chiến… Mặc kệ, em chỉ biết có anh thôi.
 
Anh ôm em, hôn lên mắt lên môi em. Chúng ta chìm trong những nụ hôn, những nụ hôn buồn mà vẫn muốn kéo dài không dứt… Không gian yên ắng, vũ trụ mất hút trên hai bờ môi. Trời có sập xuống ngay chiếc xe này chắc em cũng sẽ bình thản ra đi mang theo nụ hôn đầu đời vừa ngọt ngào vừa xót xa. Tội nghiệp anh, tội nghiệp em.
 
Một tài xế lái xe từ trên đơn vị xuống báo với anh là “trên Hòn Ngang chỉ còn mấy thầy trò Pháo Binh thôi, đơn vị bảo vệ bên cạnh cũng đã không còn một bóng người (vậy mà anh nói Trung Úy Đại Đội Trưởng của Đại Đội gì đó là bạn anh, đã hứa có đi thì sẽ cùng đi). Trung Đội đang có lệnh bắn yểm trợ tùm lum hết”. Anh bảo anh tài xế về, rồi bảo em:
 
– Em thấy chưa? Không xong rồi đấy, mạnh ai nấy đi, có khi Chi Khu cũng sắp “nhổ neo”, hay là anh đưa em về nhà nội, cất giùm anh mấy cuốn sách, khi nào thấy trên đồi bắn hai quả chiếu sáng, xe anh sẽ ghé đón em ở đây.
 
Nghe lời anh em đã đợi, Củng Sơn càng lúc càng trở nên vắng lặng, suốt mấy tiếng đồng hồ, tiếng đạn pháo binh trên Hòn Ngang ầm ì liên tục, mặc dù nhiều người bảo em chạy đi, bởi vì trong Chi Khu cũng đã di tản mất tiêu hết rồi (hay thật, em ở ngay trước cổng mà họ biến đường nào em không hay, thảo nào họ đã bắt anh bắn chặn, yểm trợ cho họ chạy, anh ơi, sao anh không biết họ đang hy sinh anh vậy?) Nhưng mà khi em còn nghe tiếng đại bác thì còn biết là anh vẫn đang ở đó. Mấy trái đạn pháo kích nổ trong Chi Khu. Quận phát hỏa. Trời muốn sụp tối, chỉ còn một mình em giữa cái mênh mông chết chóc này, tiếng đại bác đã ngưng bặt, và em đã không thấy hai quả chiếu sáng anh hẹn. Chuyện gì đã xảy đến cho anh làm hai viên đạn sáng phải thất hứa với em? Em cắm đầu chạy, sợ thì ít mà lo cho anh thì nhiều.
 
Nửa đêm hôm ấy em tới cầu Sông Con. Đường 7 chỉ cho phép em đi trên đoạn gần 10 cây số đó thôi, phía trước nữa đang có nhiều tiếng súng nổ, nghe nói Việt cộng chặn ở đó, em và một số người gặp gỡ trên đường cùng giạt vào rừng, em không hiểu ai đã đi giùm em trên đôi chân rã rời, gầy guộc này. Bóng đêm âm u, kinh khủng quá. Cố gắng bước thật nhẹ, nhưng âm thanh vẫn rõ mồn một trong cái im lặng rợn người cứ bám riết theo từng bước chân.
 
Hôm sau 27 Tháng Ba thì em gặp được dòng người đi từ Chí Thán, theo Ban Chỉ Huy của Quận, hỏi thăm tên anh, nhiều người dân Củng Sơn nói có gặp anh, và người ta nói anh cũng đã tìm em. Em mừng quá, phải chi em gặp được anh ngay lúc này, chúng ta sẽ yên tâm về nhau hơn, sẽ chia sẻ với nhau những gian nan, đói khát, hiểm nguy trước mặt (anh có biết tối qua đến giờ em chỉ có một bụng nước nơi một con suối em qua không? Nhưng mải mê nghĩ tới anh, em cũng quên bớt cái đói. Biết em đói anh có trách em hư không? Hư thật, lo yêu không lo chuẩn bị lương thực gì hết, mà thật ra em cũng khờ quá, nghĩ là sẽ leo lên trực thăng, 30 phút là về đến Tuy Hòa!). Có nhau, những lo âu, hốt hoảng, đau đớn sẽ chỉ là một giấc mơ, giấc mơ nào rồi cũng tỉnh giấc. Có nhau, chiến tranh, di tản cũng chỉ là một vở tuồng gay cấn, hồi hộp nghẹt thở, rồi cũng phải hạ màn. Kịch bản bắt anh và em đều chết, hoặc một trong hai ta phải chết trên đoạn đường hắc ám này, hay kịch bản viết hạnh phúc sẽ dắt tay chúng ta vượt qua lửa đạn, thì rồi cũng phải kết thúc.
 
Không biết anh đang ở đoạn nào trong dòng người sâu hun hút này, nghe nói cả mấy ngàn người gần như đi hàng một, đoàn người thoăn thoắt, lầm lũi chìm khuất trong rừng rậm, người sau chậm chân chừng 5 mét, đã không kịp thấy người trước rẽ hướng nào. Người ta nói anh đi chung với Ban Chỉ Huy của Quận Hiếu, nhưng Quận Hiếu đã vượt lên phía trước, hay bọc lại phía sau thì chả ai biết được. Em quay quắt, loay hoay như gà mắc đẻ với ngổn ngang nhiều tâm trạng khác nhau, giữa hiểm nguy ai cũng cầu bình an, đi đường ai cũng mong được tới nơi, sao em lại đi ngược đi xuôi tìm anh thế này?
 
Mấy ngày sau đó, em thật sự tuyệt vọng, khát thì thỉnh thoảng cũng gặp được con suối, nhưng cái đói đã làm em rã rời, chỉ có một lần được vợ chồng anh lính đi chung cho em mấy nắm gạo sấy. Em tự an ủi, rồi cũng qua thôi, chết như những người em gặp dọc đường thì cũng qua – có lẽ họ đã chịu đói nhiều ngày quá, nếu em cũng chạy từ Kontum, Pleiku xuống mà không ghé Củng Sơn ăn được chút gì thì có lẽ em đã không còn để tìm anh – như một đứa bé sơ sinh chết trên tay mẹ vì người mẹ em gặp không có sữa, đến nỗi cũng không có được mấy giọt nước để nhỏ vào miệng bé, cả da mặt bé bị bỏng rộp lên vì nắng, người mẹ mắt ráo hoảnh, hết còn biết đau đớn nói với em, như chuyện của ai chứ không phải chuyện của mình, “ba nó cũng mới chết hôm qua ngoài Đường 7” – “Sao vậy chị?” – “Cướp của giết người chớ sao, Việt cộng mà, không phải đồng bọn của chúng thì là kẻ thù hết, xe dân mà chúng cũng chặn đánh. Chết nhiều lắm, cả trăm xe nằm chết dí ngoài đó, may tui còn sống đây” – “Rồi cũng qua chị ơi”.
 
Vâng, rồi cũng qua. Chị ấy với đứa bé đã chết vẫn trên tay đã cùng em và hai người lính nữa được trực thăng bốc ở một bìa rừng (em không biết khoảng nào), xuống sân bay Đông Tác, mà có vẻ như đây là một trong những phi vụ cứu nạn cuối cùng hôm nay cho những nạn nhân thất tán trên Đường 7. Sân bay vắng ngắt như muốn nói với em không còn ai ở đây để cô kiếm tìm, chờ đợi. Việc đầu tiên, em hối hả đi xe thồ về thẳng địa chỉ anh cho, chiều 30 Tháng 3, nhà anh không còn ai, hàng xóm nói là cả nhà đã tản cư đi Nha Trang từ ba hôm trước và người ta cũng nói là thấy anh đã về tới chiều qua, rồi cũng đã vội vã đi Nha Trang sáng nay. Tạ ơn Trời Phật, anh của em đã được bình an.
 
Gần nửa tháng ở Nha Trang đi đâu em cũng tìm anh, cho đến sáng nay 12 – 4 mới gặp được anh ở trước cổng một trường Tiểu Học xã Hòa Trị, Tuy Hoà.
 
Tuy Hòa, em lại đến 45 Tản Đà để hỏi về anh và nghe nói anh đang bị tập trung ổ đây từ ba hôm trước, 10 – 4.
Em đã tức tốc lội bộ lên trường hỏi thăm tin tức anh, nhưng cũng như nhiều các bà con khác, chỉ có thể đứng ngoài cổng nhìn vô… khóc rồi về! Không ai được họ cho phép gặp.
 
Hôm sau 13 – 4 em lại lên và em đã gặp được anh. Anh bên trong cổng khóa kín cùng với đông đảo các anh, các chú khác.
 
Em không thể ôm anh khóc cho thỏa những âu lo, mong nhớ bao ngày qua. Về Tuy Hòa em đã nghe người ta chết nhiều quá. Một không khí khủng bố bao trùm lên khắp mọi nẻo đường, từ thành thị đến thôn quê, không đâu là không nghe những từ ngữ “nợ máu, ta diệt, xử trị”. Giữa lúc tranh tối tranh sáng này, những kẻ được coi là người chiến thắng lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm bắt bớ chém giết những ai mà họ cảm thấy là đã không thiện cảm với cách mạng, không bám trụ ở lại xóm làng đóng góp giúp đỡ cách mạng trong chiến tranh đều là theo địch, không thể sống giữa hai lằn đạn được mà phải tản cư đến một nơi yên ổn hơn để sống là chống đối, những vùng ven thành phố thiếu an ninh, ban đêm người dân phải túa vào thành phố tìm nhà quen ngủ nhờ qua đêm để tránh đạn pháo kích hoặc trên núi xuống lùng bắt là phản động. Không ít những tội nhân đã bị xử trị trong số những lương dân thầm lặng đó. Em cũng đã gặp mấy người thân của những nạn nhân đó đi tìm chồng, con, anh, em mà không dám để nước mắt lăn xuống má. Em lo quá, không biết họ sẽ đối xử với anh, với các anh thế nào. Em có nghe nhiều người nói trước các anh, đã có nhiều đợt, họ chuyển tù tàn binh vào một mật khu sâu, xa nào đó, cũng nghe đồn có vài đợt, trên đường dẫn đi họ đã bắn chết mấy chục người. Em cố nuốt nước mắt an ủi anh:
 
– Nghe nói các anh sẽ học năm ngày về, anh cố gắng giữ gìn sức khỏe về với em.
 
Anh cười nửa miệng, buồn buồn:
 
– Không biết họ còn giữ anh ở đây bao lâu, cũng không ai biết là học tập cải tạo ở đâu.
 
– Ồ, bộ quần áo anh gửi em, anh có nên mang theo nữa có mà thay đổi không?
 
– Em quên anh là tù binh sao? Mang mấy thứ đó thì để anh mang em theo không êm ấm hơn sao. Em giữ đi.
 
– Mệt anh quá, ai đùa với anh.
 
Thương anh quá, em biết anh đang tan nát lòng, mà vẫn cố làm tỉnh cho em vui. Bất chợt nước mắt em trào ra không kìm được, em cắn chặt môi, hai vai rung lên bần bật, tay vịn lên song cánh cổng. (hồn em đi lạc mất rồi, mà anh cũng không thể ôm em thật chặt để em hoàn hồn lại).

– Nín đi được không? Nín anh nói cho nghe chuyện này.

– Nói đi!

– Quên anh đi.
 
Em nín khóc, mở to mắt nhìn vào mắt anh:

– Nói lại.

– Anh yêu em…

– Dẹp

Người ta cho gặp năm phút, mà em đã ăn gian thêm năm phút rồi, vừa nói vừa lo hết giờ nhưng rồi giờ cũng hết thật. Họ dẫn anh vào, em lại khóc.
 
Trở lại Tuy Hòa, đi về gần mười cây số đi bộ, hối hả ra chợ mua ít thực phẩm, về nhà quen kho vội một lon Guigoz mắm ruốc thịt mỡ và ít cá chà bông hai món mà mấy chị em gặp trước cổng trường Hoà Trị đã chỉ cho em làm, để sáng hôm sau kịp mang lên cho anh.
 
Hôm sau, 14 – 4, em lại lên thăm anh với những thứ em đã chuẩn bị, nhưng hôm ấy họ không cho bất cứ ai thăm gặp. Đông đảo những người đến thăm hoang mang lo lắng không biết chuyện gì sắp xảy ra, tất cả đều luẩn quẩn quanh hàng rào dõi chừng vào bên trong. Đến 9 giờ họ tập họp tất cả các anh trói dây chuyền lại, mấy chục bộ đội súng ống lăm lăm trên tay lùa các anh đi. Em đứng bên đường, thấy em, anh đưa cách tay không bị trói vẫy vẫy, em trào nước mắt ra. Em và nhiều người nữa lẽo đẽo theo các anh một chặng, qua khoảng hơn hai cây số còn nhà cửa xóm làng, thì đến một khoảnh rừng còi, nơi có mấy chục nấm đất mới, khói hương nghi ngút, người biết chuyện nói đó mộ của một nhóm tù binh đi trước đó bị “xử lý” và được dân làng chôn. Trong đó có người là dân Phú Yên được người nhà tìm tới thắp nhang mà không biết người thân nhân mình nằm chính xác dưới nấm đất nào, sẵn thắp cho tất cả những người chung số phận., làm tăng thêm nỗi lo âu trong lòng những người có thân nhân đang nhập sơn kia. Đám bộ đội áp tải chặn chúng em lại. Họ đưa các anh đi sâu vào núi.
 
Một tuần sau em về Củng Sơn, trên chặng đường này xe đò đã nhiều lần dừng dọc đường, nhất là lúc ngang qua Trường Hòa Trị Đông, xe phải nhường cho một đoàn tù binh nữa, khoảng vài chục người, qua đường để nhập sơn đi cải tạo giống như các anh hôm nọ. Thật ra chiếc xe không cần phải chờ lâu, nhưng lấy cớ nhường cho công vụ, bác tài cho hết hành khách xuống xe để bà con làm một chút lễ tiễn đưa tình nghĩa với các anh. Cũng khoảng hơn mười thân nhân đến đứng bên đường tiễn đưa, giống như em tuần trước, và cả người đi lẫn người đến tiễn đều khóc hù hụ. Họ vừa khóc vừa dặn dò nhau dấu hiệu họ ghi trên người “Em nhớ anh mặc áo thun có ghi tên anh dưới nách bên trái nha…”, “Con mặc bộ quần áo này với cái quần đùi màu xanh biển nha mẹ” … Mọi người gọi nhau, gào khóc mà không ai ngăn được. Làm sao ngăn khi họ nghĩ là họ đang bị lùa ra pháp trường như 120 người chết tập thể trên Hòa Định. Chả là hôm qua, hàng ngàn người đổ xô lên Lù Đôi Xã Hoà Định tìm xác thân nhân mình và họ đã khiêng, gánh những gói xương thịt chồng, con, anh em mình trong những tấm poncho về ngang qua đường này, đến hôm nay thỉnh thoảng cũng còn vài ba người đi nhặt xác về trên con đường thối um mùi thịt chết. Nghe nói là dân làng và những người làm ruộng quanh cái hốc rừng Lù Đôi ấy đều phải chịu đựng mùi hôi thối nồng nặc bốc lên suốt cả tuần lễ rồi chưa hết, Ai cũng nghe chuyện tuần trước, trong một đêm, trước ngày anh bị đưa lên núi, cách mạng đã đọc tên 120 Sĩ Quan, Cảnh Sát, Quân Nhân bị tạm giữ ở trường Định Thọ xã Hòa Định, cách trường anh đã ở khoảng mười cây số về phía Củng Sơn, lùa mọi người vào một hốc núi, dồn ngồi hết vào một chỗ và họ cho nổ bom vừa nã AK xối xả vào đám tù binh. Thân nhân lên nhặt xác, không còn xác nào nguyên vẹn, bầm dập, tan nát, những mảnh xương thịt văng tung tóe, nhiều người nhà chỉ nghe người thân mình có tên trong danh sách 120 người kia là lên tìm hốt bừa bất kỳ một mảnh thịt, xương, chân tay, gan ruột, mà không cần biết của ai. Làm sao còn phân biệt được của ai nữa trong tâm trạng hoảng loạn, tê điếng, vừa đau đớn, kinh hoàng, vừa tanh hôi gớm ghiếc, may lắm mới có được một vài xác còn nhận diện được nhưng cũng không phải là nguyên vẹn. Sau này tình cờ em quen được một người có tham dự những ngày hốt xác ấy kể lại em nghe, có tin là đã có một người còn sống, lúc đó bất tỉnh, khi tỉnh dậy đã trốn vào núi rồi sau đó lần mò trốn thoát được vào miền Nam. Anh có tin có một nhà ở Hòa An cùng một chỗ này đã chịu 3 cái tang ba anh em ruột và một anh (em) rể không?
 
Củng Sơn quá nhỏ nên nhiều người biết về anh. Cũng có nhiều người biết chúng ta đã tìm nhau suốt những ngày Tháng Ba chạy loạn (nhờ anh mà em đã được nổi tiếng). Em bị công an mời lên mời xuống nhiều lần để hỏi về quan hệ của mình. Em viết tự khai, kiểm điểm tùm lum. Em cảm thấy vui vì vô hình trung người ta đã ràng buộc chúng ta với nhau. Càng thích thú hơn khi có lần một công an huyện nói với em “Cô có biết hắn là một tên ác ôn không? Ở những giờ phút cuối cùng mà hắn còn ngoan cố gây thương vong cho cách mạng”.
 
Nhưng rồi họ cũng không quá rảnh để khó dễ em hoài. Có lẽ họ thấy em còn quá trẻ con, với lại họ cần lợi dụng cái vốn chữ nghĩa ít ỏi (ít ỏi nhưng chắc là không ít hơn nhiều người trong số họ) của em, bắt em đi làm đủ thứ chuyện, giúp nông hội làm thuế nông nghiệp, đến từng nhà lập bộ nhân hộ khẩu, viết khẩu hiệu… nói chung là những chuyện gì có liên quan đến chữ nghĩa hay cộng trừ nhân chia mà không ảnh hưởng đến an ninh là họ gọi em, em được trả công điểm tính vào cuối tháng để nhận gạo, khoai, bắp, bo bo cả thảy 18 ký đủ thoi thóp sống một tháng bên bà nội.
 
Saigon đã đầu hàng 30 Tháng 4 nên tin tức về các trại cải tạo không còn bị bưng bít nữa. Em đã tìm lên trại Tổng Binh Trà Kê, một nơi núi non hiểm trở cách Củng Sơn trên dưới 20 cây số gì đó thăm anh nhưng họ không cho vào. Những nấm đất nằm ngang dọc vô lối trước cổng trại làm em (và những người nhà của tù binh đi thăm) quặn thắt. Nghe nói ở đây đã có hơn 40 người bị sốt ác tính chết trong chưa đầy một tháng. 
 
Giữa Tháng Năm được tin các anh chuyển trại về Sơn Định, gần đồng bằng hơn, nơi không cao như Tổng Binh nhưng vẫn là núi, em lại tìm anh với hy vọng mang đến cho anh một vài thứ mà nghe nói là các anh đang rất cần như chiếc áo len (em tháo len từ chiếc áo len tay dài của em và đan gom lại. Có thể tìm mua được len mới nhưng em xuống Tuy Hòa cũng khó khăn, lại cũng muốn anh mặc áo của em như em thỉnh thoảng em mặc chiếc áo sơ-mi của anh nghênh ngang đi chợ hay đi làm), nhưng rồi cũng không gặp anh được. Em ngồi ủ rũ ở nhà thăm nuôi hơn nửa ngày may ra hỏi thăm đươc ai đó tin tức về anh nhưng những người được ra thăm nuôi bị kèm kỹ quá nên cuối cùng em lại phải quay về mà không thể tiếp gặp hỏi được ai.
 
Đánh liều, em làm đơn ra công an xin phép thăm chồng (anh ơi, em nhớ anh quá, may còn cuốn nhật ký này để đêm đêm em nói chuyện với anh), công an bắt bẻ em “Mới mà cô đã quên mấy lời tự khai, kiểm điểm của cô rồi”, “Sao cô biết hắn ở đâu mà đi thăm”, “Chồng cô thì hôn thú đâu?”. Tự nhiên em muốn trêu hắn, em cười cười:

– Gì dữ… Tui không biết thì mấy ông dạy tui chứ cứ quát tháo… tui sợ…

– Cô mà sợ.

– Tại tui nghĩ thiếu gì những cặp vợ chồng không có hôn thú, chỉ là tờ giấy thôi mà. Tụi tui lấy nhau rồi thì là vợ chồng chớ sao.
 
Hắn vỗ bàn:

– Lấy nhau? Chứng từ đâu?

– Lấy nhau có cần kêu ai nằm dưới gầm giường không? Trời đất chứng không được sao?
 
Hắn to tiếng (chắc là để khỏi bật cười):

– Cô đi về. Cơ quan không rỗi giải quyết ba cái chuyện riêng tư của cô. Bảo cái thằng trời thằng đất bá vơ nào ấy ký cho cô đi.
 
Em đứng dậy ra về sau khi thòng lại một câu:

– Không riêng tư chớ tui có chuyện gì công đâu.

Em về nhà nằm khóc. Không biết người ta đồn sao mà ra chợ có nhiều người hỏi thăm em về anh. Anh được dân ở đây quý lắm đấy, biết không?
 
Cậu Thành, chồng của chị mà anh và em đưa ra mộ, ngày mình quen nhau đó, lại là em bà con gần của em, là giáo viên lưu dung, rất quý mình nên thường động viên, giúp đỡ em, có khó khăn vui buồn gì em cũng thường tâm sự, vấn kế cậu ấy. Chính cậu ấy cho em mượn xe đạp và chỉ đường em đi Trà Kê, Sơn Định tìm anh.
 
Một ngày đầu Tháng Tám, Thành khuyên em nên xuống gia đình anh để nắm rõ hơn về tin tức của anh. Con số 45 Tản Đà đã bị hô biến thành Trạm Y Tế Phường I – chắc tại nó không đủ lớn để có thể trở thành đồn công an hay ủy ban phường – Hàng xóm nói cả gia đình anh đã về quê Hòa Kiến, Tuy An gì đó (thật làm khó cho em, phần thì Tuy An hay Hòa Kiến thì không ai biết chính xác, mà như Tuy An thì làm sao biết xã nào! Xe Lam thì mấy tiếng đồng hồ mới có một chuyến, rồi nếu có xe để đi thì chừng về làm sao? Phần thì em cũng không thể vắng nhà ban đêm được, phó thường dân mà! Em đến nhà nhỏ bạn thân, nó có người chú ruột ở xóm nhà anh, nó dẫn em đến chú nó, hỏi thêm hơn về gia đình anh mà trước đó em hỏi nhiều người đã né tránh không dám nói rõ. Ông chú nói giữa Tháng Tư, ba anh bị cách mạng xử lý, trước ba anh là Đông Y Sĩ, Võ Sư, chắc là họ nghĩ ba anh đã dạy võ cho nhiều Sĩ Quan, Binh Sĩ trong Quân Đội và Cảnh Sát (hừm, hễ một cái “chắc là” là một mạng người!). Má anh cũng bị cách mạng bắt giữ để điều tra tại sao tìm được xác ba anh. Không ai nghĩ là má anh đã được thả, vì nếu bà đã về được thì thế nào bà lại chả ghé qua thăm chòm xóm vốn từng một thuở vô cùng thân thương. Em trai kề anh, người lính Lệ Ngọc ngày đó đã may sống sót trở về với hai chân bị mìn sưng tấy, rất may không trúng xương nên không bị cưa, sau thời gian nằm một chỗ cũng phải đi cải tạo. Một em trai khác đang học lớp 11 cũng bị bắt trên đường hôm đi tìm xác ba anh, vì chú ấy có họ cùng chữ lót giống ba và anh. Còn lại là mấy đứa em gái mà lớn nhất là 14, 15 tuổi, được bà con láng giềng lén lút giúp đỡ một thời gian ngắn, đến khi nhà bị phường “quản lý”, bốn chị em được bà con ngoài quê dẫn về. Nghe nói lúc trước làm ăn được, má anh thường giúp đỡ cho nhiều người ngoài quê, ba anh cũng vậy, nhờ có đệ tử trong Cảnh Sát ba anh cũng đã giúp xin cho nhiều người ở quê liên can Việt cộng bị Cảnh Sát bắt được thả ra trước đây, nhiều khi cũng biết rõ họ có hoạt động Việt cộng nhưng vì tình quê hương bổn bảo ba đã xin cho họ, để rồi “cứu vật, vật trả ơn…”) Chú nói cũng không ai có tin tức gì về anh.
 
Trên đường đưa em ra bến xe về lại Củng Sơn, con bạn hỏi em:   
 
- Mày có muốn vượt biên không? Mày ở đây cũng không giúp được gì cho ảnh đâu, chọn trở về Củng Sơn để sống đã là một quyết định sai lầm lớn nhất của mày rồi, thành phố bao giờ cũng dễ thở hơn. Nằm trên ấy mày sẽ bị hành quanh năm suốt tháng. Cứ về suy nghĩ đi, chưa vội. Tao sẽ gặp mày sau. Mày còn được bao nhiêu?
 
[]
 
Ngày 15 – 8 – 1975
 
May quá, có tin là một trại cải tạo dành cho tù tàn binh mới lập ra ở Ngân Điền, cách Củng Sơn 8 cây số về phía Tuy Hòa. Cả thị trấn hôm qua nhốn nháo tin tức về những đoàn xe dồn các anh về đó. Em đã tức tốc xuống Ngân Điền ngóng anh, may ra gặp lúc họ đổ các anh xuống em có thể được thấy anh (chắc anh gầy lắm, lúc còn ở Trại Trà Kê Tổng Binh, em đã nghe nói nhiều người phải chống gậy mà đi). Nhưng ở đây bộ đội đông quá, họ canh gác nghiêm ngặt, mà lại tới 4, 5 trại gì đó, trại này cách trại kia cả mấy cây số. Thời gian em không còn đủ để lội tới lội lui mấy chục cây số, em lại thua lần nữa rồi.
 
Hôm nay em đã bị lên “làm việc” với công an. Lần này họ làm dữ với em hơn bao giờ. Trực tiếp hỏi em là một công an nói giọng Bắc khá trẻ, hai lăm là cùng, đập bàn, quát tháo hỏi những câu mà em không biết ở đâu ra “Sao cô biết bọn chúng được chuyển về đây? Cô đã liên lạc với đường dây nào? Bọn phản động nào đã cung cấp thông tin cho cô? Cô đã nhận công tác gì của chúng? Chúng định thực hiện những kế hoạch phá hoại gì? Cô đã triển khai đến đâu? Cô cất giấu vũ khí ở đâu? Tốt nhứt cô nên thật thà khai báo mục đích, động cơ, để được cách mạng khoan hồng, đồng bọn của cô đã khai hết rồi, cô không giấu được đâu.”
 
Hắn nói như đọc thuộc lòng một bài văn mới học. Một thoáng nổi khùng bất chợt, em đã dõng dạc:
 
– Nói thẳng ra, đây không phải mới lần đầu, các ông quá biết là tôi đã tìm kiếm anh ấy thế nào mà. Nếu quý ông bị mất liên lạc với người nhà của quý ông, thì quý ông cũng phải “triển khai kế hoạch, thực hiện công tác” tìm kiếm chứ, phải không? Tôi không có gì phải khai báo thật thà hơn ngoài cái động cơ tình cảm và mục đích muốn thăm nuôi. Quý ông cũng biết cả thị trấn hôm qua, ai cũng biết Ngân Điền đang xảy ra chuyện gì, Ngân Điền là khu dân cư chứ đâu phải là rừng núi hoang vu đâu, một chiếc xe dừng lại lâu lâu một chút ở đó người dân cũng xầm xì huống hồ cả trăm chiếc náo động cả buổi.
 
Đuối lý và bất ngờ trước thái độ của em, hắn hậm hực bắt em viết bản thành khẩn đến chiều. Buổi trưa ở lại đồn, chúng cũng hoàn toàn không nhớ gì tới cơm nước cho “phạm nhân”, em lại căn tin của đồn mua một gói mì tôm ngồi nhai khô như nhai bắp rang cho đỡ buồn (À phải rồi, lo cơm nước cho phạm nhân thì làm sao căn tin sống). Trời ơi, một buổi trưa! Và nếu phải là mười, một trăm, một ngàn buổi trưa thế này? Còn bị lao dịch, cùm kẹp, đói khát, bệnh tật. Thương anh quá. Em phải làm sao đây?
 
Họ không biết là những “bài bản” khủng bố tinh thần kia là đã quá lố bịch và nhàm chán hay sao mà cứ bắt em viết đi viết lại mấy bản tự khai, thành khẩn suốt cả buổi chiều. Nhiều lúc xong một bản, họ không thèm đọc chỉ liếc sơ qua rồi xé toạc làm đôi một cách lạnh lùng, tàn bạo (hay thô bỉ?) “Chưa đạt yêu cầu”. Lúc đầu em còn tức ứa nước mắt, nhưng nghĩ, nước mắt đâu mà phí với những con người không tim óc này, em đổi giận làm vui, viết thì viết, nghề của chàng mà (chàng đã dạy cho thiếp viết nhựt ký được thì sá gì ba cái lẻ tẻ này). Ờ! Mà anh có dạy em viết không nhỉ? Anh ơi, em muốn làm thơ, lúc ngồi trầm ngâm đan áo cho anh, em có mấy câu “Tay em đan bằng muôn ngàn mơ ước, mỗi mũi đan là một mũi yêu thương”, hay không anh? Mà sao hổng giống thơ anh gì hết, cậu Thành đọc là “Ở đây cũng có vài quen biết, em rất ngoan và trời rất trong, may ta còn chút trà xanh khói, ngồi lại gần em nắng lụa hồng”. Chết anh rồi, em nào vậy? Cũng còn may là em chưa nghe ai nói có em nào “rất ngoan” của anh ở đây, cũng chưa nghe có em nào “nhận trách nhiệm” là nàng thơ của anh. Thôi tạm tha cho anh. Em sẽ mặt dày tạm giữ cái vị trí này được không? Anh yêu, anh đang nghĩ gì trong đầu? Anh có biết anh chưa bao giờ mất em không?
 
Đến 5 giờ chiều họ cho em về sau khi tạm chấp nhận mấy bản tự khai cuối cùng (em biết sẽ không là cuối cùng trong đời!) kèm theo một lời hứa hẹn não nùng:

– Nếu có gì chưa rõ ràng, chúng tôi sẽ còn liên hệ với cô, cô nên nhớ, tai mắt cách mạng ở khắp nơi.

Thua nữa rồi, anh yêu ơi, điều quan trọng là em phải biết anh ở đâu trước đã.
 
[]
 
Ngày 1 – 3 – 1976
 
Vô phương rồi anh. Mọi người vừa mới ăn một cái Tết được gọi là Tết hòa bình đầu tiên. Chỉ có đám con nít và những gia đình cách mạng là hồ hởi phấn khởi, còn mọi người thì vẫn dè dặt, lấm la lấm lét đón xuân, như cho qua một thủ tục chẳng đặng đừng với tổ tiên, ông bà. Nhà chỉ còn hai bà cháu, anh Hai hồi năm ngoái đã theo được đơn vị về Saigon, sống luôn trong đó nơi nhà vợ của ảnh sau sáu tháng đi “học tập”. Hơn bốn tháng qua em đã tích cực tham gia các công tác địa phương, hy vọng là em không còn bị theo dõi để ý nữa, không có tin tức anh thì em cũng phải sống, dù là sống một cách đau đớn. Mùa đông, mùa biển động đã qua, tin tức về những cuộc vượt biên sôi nổi hàng ngày, nghe nói là ở các vùng ven biển, lọt nhiều mà bị bắt, bị chết cũng nhiều, chính quyền tổ chức nhiều cuộc học tập để lên án, nhục mạ những người vượt biên, họ không tiếc lời đối với những người bỏ nước ra đi, “bọn phản quốc, lưu manh, du đãng lười lao động, bọn đĩ điếm, ham bơ thừa sữa cặn của đế quốc…”
 
Hôm Mồng 1 Tết, sau khi lo cho Bà Nội cúng kính, em vội vã đi Ngân Điền, em đi tới đi lui trên bốn con đường vào bốn trại 51, 52, 53, 54 mong là sẽ hỏi thăm được ở một cán bộ, bộ đội nào đó về anh, may ra với cái tập quán “tử tế như ba ngày Tết”, có người sẽ giúp em, nhưng tưởng vậy mà không phải vậy, đám bộ đội Miền Bắc (sao em chỉ gặp toàn là Bắc kỳ thế này?) đã hống hách lắc đầu không chút suy nghĩ.
 
Em lại quay về vấn kế Thành, may quá, những tai mắt cách mạng đi chơi Tết cả nên những cái bóng ma thành khẩn, tự khai cũng lo kiếm chỗ liếm láp say sưa cho biết Tết miền Nam. Thành bảo ngày Tết người ta thăm nuôi đông đảo, hay là chị tìm cách làm quen mấy người đi thăm đó, rồi nhờ họ giúp hỏi thăm tên anh, có khi cũng có người biết. Hay quá! Bằng chiếc xe đạp Thành cho mượn em lại quay trở xuống Ngân Điền ngày Mồng 2 Tết, làm theo như Thành chỉ, rồi thắc thỏm chờ đợi từng người từ các nhà thăm nuôi ra Đường 7, con đường mà em đã giẫm tới giẫm lui đến muốn điên lên (và cũng đến thương quá đỗi mà ghét cũng vô cùng!).
 
Hoàng thiên bất phụ hữu tình nhân, em đã có tin anh, một cái tin thật sự không mong, trước khi họ chuyển tất cả tù binh về đây, thì họ cũng chuyển anh và một số các anh khác đi đâu không ai rõ. Trời ơi, em muốn điên lên với cái tin này. Họ đã làm gì anh? Chuyện 120 người ở Hòa Định lại hùng hổ xộc vào tim óc em, mà sau này em còn biết thêm đó mới chỉ là một điểm máu, trong tỉnh còn vài ba chục điểm lác đác khác khắp các xã thôn. Em không dám nghĩ tới những bất hạnh có thể xảy đến với anh, với chúng mình. Em chỉ còn bám víu vào một hy vọng mong manh: Chúng đưa các anh ra Bắc như nhiều người đồn đại, dù có xa hơn, ở những nơi em không thể tới nổi, nhưng anh sẽ vẫn sống… Trời ơi, thế là từ nay em sẽ không còn được cái cảm giác vừa đớn đau lo lắng, vừa say sưa hy vọng đi tìm anh, nghe ngóng đợi chờ từng tin tức về các anh, nôn nao hy vọng được một lần khóc thỏa thuê trước mặt anh, dù là trước bao nhiêu cặp mắt cú vọ của đám bộ đội cai tù ở nhà thăm nuôi.
 
Em không đủ lớn để biết phải làm sao tìm được anh. Mà ví dụ giờ này biết anh ở đâu đó, như người ta nói có thể anh bị chuyển ra một trại nào đó ngoài Bắc, thì em cũng đâu thể làm gì được.
 
[]
 
Ngày 5 – 5 – 1976
 
Anh yêu, có phải người ta đã giựt mất anh của em rồi không? Không được có anh bên em, còn chút hy vọng của chờ mong, hạnh phúc của kiếm tìm cũng đã mất. Người ta bắt đầu có những biểu tỏ thân thiện với em, lâu không thấy em “phạm tội”, họ tin là em tốt lắm rồi, nhiều cán bộ chính quyền, công an lui tới “thăm” em, tán tỉnh, tặng quà, khen em ngoan, đẹp, hiểu biết, (nếu em được gần anh nhiều hơn không biết em có “giỏi” hơn không?). Em đã ngoan ngoãn bước vào một cái bẫy, “Cửa Hàng Dược Huyện Sơn Hòa”, với một chân vừa bán thuốc vừa kế toán, cái công việc mà vào lúc này chưa có một trường nào của “cách mạng” đào tạo.
 
Em sắp phải xa anh rồi, anh yêu, đầu của em không thể nai vàng ngơ ngác, thụ động mãi trước móng vuốt những con thú dữ đang chực vồ lấy em. Đầu của em phải lớn hơn ý đồ của họ. Hôm xuống Tuy Hòa nhận thuốc, em ghé con bạn, bàn bạc kỹ với gia đình nó, và em quyết định, ra sao thì ra, miễn em vẫn mãi mãi là của anh.
 
Con bạn dẫn em ra chợ gặp mấy người bà con của nó bán thuốc Tây. Em nhẫm tính, lần nhận thuốc tháng tới, xe đò xuống, nhận thuốc xong, người ta cho hôm sau về, nhưng nếu trễ một ngày thì họ cũng chưa thắc mắc. Em sẽ giải quyết hết ngay buổi chiều nhận được, việc quan trọng là trốn tạm đâu đó vài ngày trong lúc chờ đợi ra khơi.
Anh thương yêu, mai mốt về có thể anh sẽ đọc được những dòng này, anh sẽ buồn, nhưng em tin là anh hiểu em. Em để lại anh những dòng nước mắt này, vì nó được viết chung bởi tình yêu chúng ta. Ở đâu thì mãi mãi em vẫn là của anh, của những ngày tháng đau thương không bao giờ phai nhòa trong ký ức.
 
Có thể đây là những dòng cuối cho anh trong tập nhật ký này, em sẽ mang gửi lại cậu Thành để sau này khi anh về được, cậu chuyển lại anh. Đây cũng là một quyết định đứt ruột của em, mặc dù em đang chuẩn bị một tập nhật ký khác cho chúng mình. Đừng khóc, anh yêu, em biết anh sẽ không cầm được nước mắt. (Em đang khóc bằng mắt của anh, nước mắt của cả hai chúng ta đang làm em ngộp thở đây). Em tin nếu chúng ta không sẽ được gần nhau thì những viên đạn pháo kích đui mù kia đã không rơi xuống số phận chúng mình, phải không anh?
 
Đặng Kim Côn
Tuy Hòa, Phú Yên, Tháng 4-1986
 
*Hoài Cảm, nhạc Cung Tiến
 
 

Tìm các bài VĂN khác theo vần ABC . . .