
Đôi Guốc Dưới Hiên Nhà
Tôi lớn lên ở một cù lao nhỏ ven sông Hậu. Ở đó người ta không tính ngày tháng bằng tờ lịch treo tường, mà tính bằng con nước, con trăng. Nước lớn thì đi đồng, nước ròng thì vá lưới. Đời người cũng trôi lặng như nước, ít ai đi xa khỏi cái bờ kinh của mình.
Nhà tôi nghèo. Nghèo bền vững.
Má tôi mất sớm. Tía tôi mất khi tôi vừa biết vác lúa. Căn nhà lá tía để lại xiêu một bên sau mỗi mùa gió chướng. Mấy công ruộng ít ỏi, đất phèn làm không đủ ăn, trước khi mất tía tôi phải đem cầm cố cho người ta để có tiền thang thuốc cho má.
Trên mấy công đất đó bây giờ có hai nấm mồ đất của tía má tôi, cỏ mọc lút đầu mỗi mùa mưa. Tôi ở lại giữ đất, mà đất cũng không còn là của mình.
Tôi không học nhiều. Chữ nghĩa đủ đọc tờ báo cũ người ta gói rau, đủ viết tên mình không sai. Quanh năm ai kêu gì làm nấy. Tía tôi trước khi nhắm mắt có dặn một câu, tôi nhớ cả đời: "Nghèo thì nghèo, con đừng để người ta coi thường cái lòng của mình." Tôi giữ câu đó như giữ cái nóc nhà.
Tôi chưa từng dám nghĩ đến chuyện vợ con đàng hoàng. Đàn ông như tôi, không ruộng, không chữ, không người thương, chỉ có sức thì mong gì hơn một bữa cơm đủ no.
Năm tôi hai mươi bốn tuổi, ông Hội đồng Phước ở làng bên cho người gọi tôi.
Nhà ông là căn nhà ngói lớn nhất vùng. Cột căm xe, sân gạch tàu. Ruộng của ông cò bay mỏi cánh. Tôi từng vác lúa cho ông nhiều mùa, chỉ dám đứng ngoài sân.
Ông ngồi trên bộ ván gõ, rót cho tôi chung trà. Rồi ông nói chuyện cô Hai. Cô Hai là con một của ông, đẹp và có học nhất vùng. Cô được lên tỉnh học trường đầm, biết đọc sách, chữ viết tròn trịa. Trai trong vùng ai cũng ngó mà không ai dám trèo cao.
Ông không vòng vo. Ông nói cô Hai có thai với anh bạn trai trên tỉnh, nay đã bỏ cô. Ông không trách ai một lời. Chỉ nói ông là người cha, ông không muốn con gái mình phải cúi đầu ngoài chợ, không muốn đứa nhỏ sinh ra đã mang tiếng không cha.
Ông muốn tôi cưới cô Hai, và ông nói thiệt hết.
Ông chỉ cần một người đứng tên làm chồng che mắt thế gian. Một năm. Cho người đời thấy đó là một cuộc hôn nhân đàng hoàng, chứ không phải một người con gái chửa oan. Sau một năm, khi mọi chuyện lắng xuống, tôi có thể rời đi. Coi như tôi bỏ vợ đi theo người khác vậy mà.
Để trả công, ông sẽ chuộc lại mấy công đất cha tôi đã cầm cố, trả lại cho tôi để có chỗ thờ tía má, dựng lại cái nhà. Ông sẽ không để tôi thiệt.
Tôi ngồi im rất lâu. Chung trà nguội ngắt. Tôi hiểu ông. Ông không mua tôi. Ông chỉ đang tìm một lối đi ít đau nhất cho con gái mình. Ông không muốn hỏi trai cùng làng nên tìm đến tôi và biết ba tôi bị siết ruộng, cần phải chuộc lại.
Đêm đó tôi ra bến sông ngồi. Trăng non chiếu lăng tăng trên mặt nước. Tôi nghĩ đến hai nấm mồ của tía má tôi đang nằm trong đất người ta, cỏ mọc không ai nhang khói. Tôi nghĩ đến đời mình vốn đã không có gì để mất, không người yêu. Nếu sự có mặt của tôi giúp một người con gái giữ được chút bình yên, giúp một đứa trẻ sau này đi học không bị chúng bạn chọc ghẹo, thì cũng đáng.
Tôi nhận lời.
Đám cưới nhỏ, lặng lẽ. Tôi mặc bộ đồ mới duy nhất cô Hai mua cho, cô mặc áo dài màu bông hường. Cô cúi đầu suốt buổi lễ, lặng lẽ nhìn tôi trong chua xót cho cả hai.
Về nhà vợ, tôi ở tạm căn nhà sau, cách buồng cô cái sân phơi lúa. Chiếc rương gỗ tạp tía đóng, tôi để nguyên dưới gầm giường. Trên vách tôi chỉ treo hai bộ đồ. Tôi nghĩ mình đến như người khách, thì lúc đi cũng nhẹ.
Cô Hai cũng vậy. Cô đối với tôi lịch sự. Cơm nước có bà Năm, người giúp việc khi cô còn nhỏ. Chúng tôi như hai người khách trọ chung một nhà rộng, đi nhẹ, nói khẽ để khỏi phiền nhau.
Tôi đi làm từ khi gà chưa gáy. Tôi ra đồng của ông Hội đồng, làm như ruộng của mình. Tôi thấy bờ mẫu nào sạt thì đắp lại, thấy lu nước cạn thì gánh đầy. Không ai mượn, không ai biểu. Tôi nghĩ mình đã nhận lời làm chồng một năm thì phải làm cho trọn.
Cô Hai lúc đầu nhìn tôi như người giúp việc đồng áng.. Cô không coi thường ra mặt. Con nhà gia giáo nên không trịch thượng như những người khác. Cô chỉ xa. Một cái xa rất lịch sự, rất sạch sẽ của người có văn hóa. Trong mắt cô, tôi là một phương án êm thấm mà cha cô đã chọn. Cô mang ơn tôi, nhưng ơn thì không phải là thương.
Nhưng mưa dầm thấm đất.
Điều làm cô để ý đến tôi đầu tiên không phải chuyện gì lớn. Một sáng, cô thấy đôi guốc mộc của cô hôm qua còn dính bùn vứt ở góc sân, sáng nay đã được ai đó rửa sạch, đặt ngay ngắn bên thềm. Chiều, cô thấy lu nước sau hè lúc nào cũng đầy. Cái hàng rào tre trước sân bị gió quật nghiêng, qua một đêm đã được dựng lại. Cô biết những chuyện làm đó từ tôi.
Rồi cô bệnh, một trận cảm sau mấy ngày dầm mưa. Cô nằm trong buồng, sốt hầm hập. Cô nghĩ tôi đã ra đồng. Đến khi tỉnh dậy, trên trán là chiếc khăn ướt vừa được thay. Bên cạnh cô, tôi ngồi ngủ gục trên ghế tre, tay còn cầm cái quạt mo cau.
Tối đó cô khóc. Lần đầu tiên sau khi người đàn ông trên tỉnh rời đi, cô khóc không phải vì tủi, mà vì có một người lo cho mình theo một cách rất quê, rất thật.
Từ đó, cô bắt đầu nhìn tôi bằng một con mắt khác. Cô thấy tôi ăn cơm lúc nào cũng vành chén sạch, không bỏ một hột.
Không bao giờ ngồi vào mâm trước. Có khách đến chơi, tôi tự động bưng chén ra sau hè.
Cô lớn lên giữa những người đàn ông biết nói lời hoa mỹ. Lần đầu cô gặp một người đàn ông ít học nhưng lòng không nhỏ nhen, nghèo nhưng không tự ti như tôi.
Và rồi cô bắt đầu lo cho tôi, cũng bằng những việc nhỏ. Thấy tôi đi cày về đau lưng, cô đem xuống phòng tôi cái gối mây kê lưng ngủ cho êm. Thấy áo tôi rách ở vai, cô không nói, trưa vắng lấy kim chỉ tự tay vá lại. Biết tôi ăn không được mắm quá mặn, cô dặn má Năm kho riêng cho tôi một tộ lạt hơn.
Tôi không gọi đó là thương nhưng hình như có mùi hương yêu đang phảng phất quanh tôi.
Mỗi chiều, khi nghe tiếng chân tôi lội bì bõm dưới ao sau nhà, cô lại tự động đứng dậy, đi ra hiên sau nhìn tôi. Nhìn bâng quơ vậy thôi, chứ không phải chờ. Cái nhìn trìu mến của người đã phải lòng.
Chúng tôi thương nhau như phù sa bồi bờ. Không ai thấy nó bồi mỗi ngày, chỉ đến khi bãi đất đầy mới biết mình không thể rời được nữa. Nhưng ai cũng còn giữ kẽ vì cái ranh giới vô hình còn giới hạn.
Chỉ có một nơi tôi cho phép mình không giữ kẽ, là với thằng bé.
Nó ra đời vào một đêm mưa. Tôi đứng ngoài buồng nấu nước, chạy đi gọi bà mụ, tay chân lóng ngóng. Khi bà mụ trao nó cho tôi ẵm lần đầu, tay tôi run đến nỗi sợ làm rớt nó.
Từ ngày đó, tôi biết thế nào là có một gia đình để đi về. Buổi trưa đi đồng nắng rát, chỉ cần nghĩ đến chiều về thấy thằng nhỏ là tôi hết mệt.
Nhưng tôi vẫn giữ lòng mình lại bằng ba sợi dây vô hình:
Sợi dây thứ nhất là lời hứa. Một năm. Ông Hội đồng đã giữ lời, đã cho người chuộc lại mấy công đất nơi đó có mồ mả tía má tôi. Mấy năm nay cỏ mọc lút đầu mả, tôi chưa dám về thắp một nén nhang cho đàng hoàng vì đất còn trong tay người ta. Nay đất về rồi, tôi phải cố giữ bằng bất cứ giá nào. Đó là gốc của tôi.
Sợi dây thứ hai là nỗi sợ của người ít học. Cô Hai có học, biết nhiều chuyện ngoài kia. Tôi chỉ biết con nước, bờ ruộng. Có những lúc cô nói, tôi hiểu bằng tim chứ không hiểu bằng chữ. Tôi sợ cái thương hôm nay của cô chỉ là cái ơn, là sự cảm động của một năm gần gũi.
Sợi dây thứ ba là ông Hội đồng thương con nên mới phải làm vậy, chứ nhà ông mấy đời sống trong nề nếp, gia phong nên không bao giờ chịu cho cuộc hôn nhân thật vì tôi là thằng không cha không mẹ, chữ nghĩa không có. Cái giai cấp đó nó không phải muốn bỏ là bỏ được. Nó in sâu trong xã hội rồi.
Rồi một năm cũng qua. Một buổi chiều, ông Hội đồng gọi tôi ra sân. Ông nói mọi chuyện đã qua, người làng cũng đã quên. Ông nói tôi đã giữ trọn lời hứa, ông mang ơn tôi. Từ nay tôi có thể trở về cuộc đời của mình.
Sáng hôm ấy, tôi đứng trong căn phòng phía sau, nhìn chiếc rương gỗ nhỏ đã theo tôi đến đây từ ngày đầu tiên. Tôi xếp vào đó vài bộ quần áo như ngày mới đến, còn bộ đồ cưới tôi để lại. Chỉ có vậy. Một năm sống trong căn nhà này, vậy mà đến lúc ra đi, tôi mới thấy mình có quá nhiều thứ phải bỏ lại.
Tôi bước ra sân. Cô Hai đã đứng dưới mái hiên. “Anh Hai... đi thiệt sao?”
Tôi cúi đầu. “Dạ.” Một tiếng dạ ngắn ngủi, nhưng nghe như một lời đoạn tuyệt.
Cô im lặng. Gió thổi qua sân, làm tà áo bà ba cô khẽ lay. Một lúc lâu, cô mới nói rằng cô biết ngày này rồi cũng sẽ tới. Ngày tôi đến đây, cả hai đều nghĩ chỉ cần một năm. Một năm rồi tôi sẽ về với mảnh đất của tía má, còn cô sẽ trở lại cuộc đời của mình.
Nhưng không ai ngờ một năm lại đủ để hai người xa lạ trở thành người thân thuộc.
Cô nói cô đã quen tiếng chân tôi ngoài sân mỗi sáng. Quen buổi chiều đứng dưới mái hiên nhìn tôi từ ngoài đồng trở về. Quen một người âm thầm sửa lại hàng rào, vá mái nhà, rửa đôi guốc cho cô. Quen có một người không nói lời ngọt ngào nhưng lúc nào cũng ở đó khi cô cần.
Cô nhìn tôi, nước mắt chảy xuống. “Em quen có anh trong nhà rồi.” Tôi quay mặt đi vì mắt mình cũng đã đỏ.
Cô bước xuống bậc thềm, đi chậm đến trước mặt tôi. Hai bàn tay cô nắm chặt vào nhau. Cô muốn nói thêm điều gì đó, nhưng rồi chỉ lắc đầu. Có lẽ những lời cần nói đều đã nằm trong ánh mắt.
Rồi bất ngờ, cô bước tới ôm lấy tôi.
Đó là lần đầu tiên cô ôm tôi như bao người đàn bà ôm người mình thương. Không phải vì danh nghĩa vợ chồng. Không phải vì lòng biết ơn. Mà vì cô sợ tôi bước đi rồi sẽ không bao giờ trở lại, cô sẽ mất tôi mãi mãi.
Tôi ngượng ngùng vòng tay ôm lấy cô. Lần đầu tiên được ôm “vợ” của mình. Bờ vai cô run lên. Tôi nghe rõ tiếng tim đập mạnh của cô và cả của tôi, lần đầu tiên chúng bên nhau thật gần… Hơi ấm và mùi đàn bà làm tôi ngây ngất tâm hồn và thể xác.
Tôi muốn khóc. Tôi muốn nói rằng tôi không đi nữa. Muốn ở lại. Muốn làm chồng thật. Muốn mặn nồng trong tình chồng nghĩa vợ. Muốn chiều đi đồng về vẫn thấy cô đứng dưới mái hiên đợi tôi. Tối đến nghe tiếng thằng Tý cười trong nhà.
Cô buông tôi ra, hai bàn tay vẫn còn giữ lấy tay áo tôi. “Anh Hai... ở lại với em.” Câu nói ấy nhẹ thôi, nhưng làm lòng tôi đau hơn tất cả.
Cô nói cô sẽ xin ông cho anh làm rể thật. Cô nói ruộng đất nhà mình còn nhiều. Cô nói tôi cứ ở lại làm ruộng, nuôi thằng Tý rồi chúng tôi sống với nhau như một gia đình thật sự. Cô không cần tôi mang ơn ai nữa. Cô chỉ cần tôi đừng đi.
Tôi nghe mà lòng mềm xuống. Nhưng trong đầu tôi lại hiện lên hai nấm mồ của tía má. Tôi nhớ lời tía trước lúc mất. Tôi nhớ những năm tháng mảnh đất của dòng họ nằm trong tay người khác. Nay đất đã trở về, tôi không thể quay lưng. Phải cố giữ bằng mọi giá.
Tôi khẽ nói: “Cô Hai, tôi thương cô thiệt lòng. Tôi thương thằng Tý như con ruột. Nếu được sống cho riêng mình, tôi muốn ở lại lắm. Nhưng tôi còn lời hứa với tía má. Đất đã có rồi, tôi phải về.”
Cô đứng im. Nước mắt cứ rơi, nhưng cô không khóc thành tiếng nữa. Có lẽ cô hiểu rằng tôi không rời đi vì hết thương. Nhưng vì bổn phận. Tôi đưa tay nắm lấy bàn tay cô. Tôi giữ thật lâu, như muốn ghi nhớ hơi ấm cuối cùng. “Cảm ơn cô Hai. Mong cô mạnh khỏe và hạnh phúc sau này.”
Vác chiếc rương lên vai. Đi được vài bước, tôi dừng lại nhưng không dám quay đầu. Tôi biết chỉ cần nhìn thấy cô đứng đó, nhìn thấy đôi mắt cô đỏ hoe, tôi sẽ không còn đủ sức bước tiếp.
Phía sau, tôi nghe một tiếng nấc bật lên. Một tiếng nói khẽ: “Mong anh trở lại với mẹ con em”.
Tôi cắn chặt môi bước tiếp, qua hàng rào tre, xuống con đường đất dẫn về bến sông. Nắng đã lên cao hơn, nhưng lòng tôi lạnh ngắt.
Sau lưng tôi là căn nhà từng xa lạ, nhưng đến lúc rời xa lại trở thành nơi tôi thương nhất. Đôi guốc mộc của cô vẫn nằm dưới hiên, ngay ngắn như mọi ngày. Chỉ khác một điều sẽ không còn người đàn ông mỗi chiều đi đồng về, lặng lẽ cúi xuống rửa sạch.
Tôi mang theo chiếc rương trở về với đất của tía má. Còn trái tim mình, tôi biết đã để lại nơi đó.
Một cuộc chia tay không có ai phản bội ai, không có ai hết yêu ai. Chỉ có hai người thật lòng thương nhau… nhưng cuối cùng vẫn phải bước về hai phía của cuộc đời.

Đôi Guốc Dưới Mái Tranh
(Theo yêu cầu, xin viết thêm phần nối tiếp truyện "Đôi Guốc Dưới Hiên Nhà")
Mười tháng sau ngày anh rời khỏi căn nhà dưới mái hiên ấy, mùa nước nổi lại về. Bông điên điển vàng rực bờ kinh, nước lên sớm. Trong nhà ông Hội đồng Phước, người ta tất bật quét sân, lau trường kỷ, làm bánh bò, bánh da lợn. Ngày mai khách trên tỉnh về coi mắt cô Hai.
Cậu Tú Nam nhà trai hơn cô gần mười tuổi, đã có một đời vợ, mất vì bệnh. Cậu có bằng Tú Tài Pháp, cũng thuộc người hiểu sâu học rộng. Ruộng đất, cửa hàng đều có, gia thế tương xứng.
Ông Phước tính toán đã lâu, con gái mình từng một lần lỡ dở, nay lấy được chỗ này coi như có chỗ dựa, chuyện cũ về cái thai và người chồng nghèo bỏ đi năm nào rồi sẽ chìm xuống.
Cô Hai đóng cửa phòng kín mít, ngồi bên cửa sổ, hai tay ôm lấy đôi guốc mộc cũ đã không ai nâng niu lau chùi nó suốt mười tháng. Người ta có thể quên một câu nói, quên một bữa cơm, quên cả một mùa mưa, nhưng có những việc nhỏ đến mức chẳng ai nghĩ nó đáng nhớ, vậy mà lại nằm sâu trong lòng người ta cả đời.
Cô áp đôi guốc vào ngực, nước mắt rơi xuống. Ngày mai người ta sẽ đến coi mắt cô, người ta muốn cô mặc áo đẹp, ngồi trước mặt một người đàn ông xa lạ, nghe họ nói về ruộng đất, gia sản, gia phong, rồi mỉm cười như thể không ai tốt hơn người đàn ông học thức và giàu có này. Cô sẽ không chịu nổi.
Nhớ lại ngày anh đi, cô nghĩ chỉ cần thời gian trôi qua, nỗi nhớ rồi sẽ nguôi. Nhưng mười tháng cô càng cố quên thì càng nhớ: nhớ tiếng chân anh ngoài sân, nhớ dáng anh cúi xuống bên lu nước, nhớ chiếc áo bà ba bạc màu phơi trên sào, nhớ cả cái cách anh ăn cơm rất chậm, vành chén lúc nào cũng sạch như thể anh sợ làm phiền người khác.
Có những đêm cô thức giấc giữa khuya, nhìn ra căn nhà sau nay đã trống từ lâu. Cô đã từng có một người chồng, một người chồng không phải vì cưới hỏi, một người chồng đến với cô bằng một lời hứa, rồi rời đi vì một lời hứa khác.
Cô lau nước mắt. Ngày mai cô không thể gặp người từ thành phố xuống. Cô mở chiếc rương nhỏ dưới giường, lấy ra mấy bộ quần áo đơn giản. Không mang nữ trang, không mang tiền nhiều, chỉ vài bộ đồ và ít đồ dùng của thằng nhỏ. Cô ẵm con nhìn quanh căn phòng một lần cuối rồi mở cửa.
Bà Năm đang đứng ngoài hành lang. Cô khựng lại.
“Má Năm…”
Bà nhìn cô, không hỏi gì, chỉ nhìn thật lâu như đã biết hết mọi điều trong lòng cô. Cô cúi đầu.
“Chiều nay con muốn về ngoại. Con dẫn thằng nhỏ theo. Mai con về.”
Bà Năm nghe vậy, mắt đỏ lên. Bà biết cô không về ngoại. Bà biết cô muốn đi đâu. Bà hiểu tánh cô từ lúc còn nhỏ, biết cái cách cô nhìn ra cổng mỗi chiều trong suốt mười tháng qua, biết những đêm cô khóc mà cứ nói với bà là đau đầu, biết chiếc áo cưới của người đàn ông ấy vẫn được cô gấp ngay ngắn trong đáy tủ như một thứ không ai được chạm vào.
Bà bước tới, nắm tay cô rồi nghiêm nghị nói.
“Cô Hai… đi thì đi cho tới nơi. Cô đã thương người ta tới vậy mà để người ta đi mất mười tháng mới chịu đi tìm?”
Cô òa khóc, ngã vào lòng bà. Bà ôm cô như ôm một đứa con ruột.
“Đi đi. Tôi lo được. Tôi sẽ nói cô về ngoại. Còn ông Hội đồng… để tôi nói.”
“Má Năm…”
“Đừng khóc. Người ta sống một đời, gặp được người mình thương đâu phải chuyện dễ.”
Bà nhìn ra sân, nhìn thằng bé giọng chùng xuống.
“Ừ đem nó theo. Nó cũng nhớ cha nó.”
Chiều xuống. Con đò nhỏ rời bến, mang theo hai người xuôi về con rạch nhỏ cuối làng bên.
***
Căn nhà lá của anh ở cuối rạch, mái thấp, có hàng chuối và cái lu nước bên hiên. Anh đang ngồi vá lưới cá. Nghe tiếng mái chèo, anh ngẩng lên. Tưởng người trong xóm nhưng sững lại.
Cô đứng trên mũi đò, áo bà ba tím nhạt, tóc xõa vai. Hai người nhìn nhau. Mười tháng xa cách. Anh ốm hơn. Cô cũng cũng vậy, mắt trũng sâu.
Không ai nói được gì. Rồi cô bước lên bờ, giọng vỡ ra:
"Em nhớ anh... Em đến với anh đây. Anh ơi…anh có còn nhớ mẹ con em không?"
Người đàn ông từng chịu được bao mùa nước nổi bỗng không đứng vững. Anh nhìn cô rồi chỉ thốt được trong một tiếng nghẹn:
"Có."
Chỉ một tiếng đó, mười tháng chờ đợi vỡ òa. Cô lao tới ôm chầm lấy anh, mặt vùi vào ngực áo bạc màu mà khóc nức nở. Anh siết chặt lấy cô trong vòng tay run run như họ đến từ chiêm bao.
Đêm đó căn nhà lá sáng đèn. Anh nấu nồi cơm, cô xắn tay áo nhặt rau bên bếp. Không cần nói nhiều. Khuya, tiếng côn trùng rỉ rả ngoài đồng, trong nhà chỉ còn ngọn đèn dầu leo lét. Anh trải chiếu mới trên bộ ván.
Cô ngồi bên cửa, anh ngồi sau lưng, khẽ nắm lấy tay cô. Bàn tay anh thô ráp, tay cô lạnh ngắt.
"Anh có nghĩ em sẽ tới không?"
Cô hỏi.
"Anh luôn mơ ước có em bên cạnh, anh chỉ lo em phải chọn bên tình bên hiếu"
Anh nói khẽ.
Cô lắc đầu, áp tay anh lên má mình:
"Em đã chọn rồi."
Anh nhìn vào mắt cô, không còn khoảng cách của hai người xa lạ từng giữ kẽ dưới một mái hiên. Anh run run vuốt tóc cô, cô ngước lên, nước mắt còn đọng trên mi.
Rồi anh cúi xuống. Nụ hôn sau mười tháng ngập ngừng rồi cháy bỏng, bao nhiêu nhớ thương dồn nén vỡ ra. Cô níu chặt lưng áo anh, đáp lại tình anh trong tiếng nức nở.
Đêm ấy, dưới ngọn đèn dầu chao nhẹ, không gian mộc mạc của căn nhà lá như ngừng trôi. Họ trao nhau những nụ hôn bắt đầu bằng e ấp, rồi lịm đi trong nồng nàn say đắm. Mười tháng đợi chờ dài đằng đẵng được bù đắp bằng tất cả sự dịu dàng và cuồng nhiệt nhất của tình nghĩa phu thê. Họ cho nhau trọn vẹn qua từng nhịp đập của hai con tim mà không cần đến danh nghĩa hay lễ nghi, bởi tâm hồn họ vốn dĩ đã hòa quyện từ rất lâu rồi.
Mờ sáng, sương trắng còn phủ mặt sông, tiếng chèo rẽ nước dồn dập vọng vào rạch. Mấy chiếc ghe lớn của nhà ông Hội đồng đã đến tìm cô.
Cô Hai giật mình tái mặt. Anh bước ra trước, che cho cô và cu Tý sau lưng, cúi đầu:
"Thưa ông Hội đồng."
Ông Hội đồng Phước đứng chết lặng trên bến khi nhìn hai đứa đúng bên nhau lo sợ. Anh dang tay che chở cô. Cô ôm con nấp sau anh lấm lét nhìn ông trong lo sợ như 3 con nai đứng trước con cọp đói mồi.
Trên đường đi ông đã giận sôi gan. Ông định sẽ lôi con gái về. Nhưng đến nơi, ông chỉ thấy một căn nhà lá thấp lè tè, cái lu mẻ miệng. Và con gái ông, hòn ngọc ông nâng niu trong áo quần nhàu nát, tóc chưa kịp chải, lại đang nép sau lưng người đàn ông nghèo ấy, tay nắm chặt nhau không rời.
Ông nhìn người trai trước mặt. Năm xưa ông cho người đến thuê anh làm chồng một năm để giữ danh dự cho con, trả bằng ít tiền và mảnh đất cha mẹ để lại. Anh đã giữ trọn lời, giữ danh dự cho con ông. Anh làm tròn bổn phận mà không đòi hỏi, rồi khi hết hạn đã lặng lẽ rời đi, không lấy thêm gì.
Một người nghèo đến mức không dám quay lại vì sợ con gái ông khó xử. Lồng ngực người cha nghẹn lại. Bao nhiêu tính toán môn đăng hộ đối, gia phong, ruộng đất bỗng nhẹ tênh.
Mắt ông đỏ hoe, ông thở một tiếng rất dài, rồi bước tới vỗ mạnh lên vai anh:
"Cậu Hai..."
Ông nhìn con gái đang khóc, giọng khàn đặc:
"Ta chỉ có một mình nó là con. Cả cơ nghiệp này sau này cũng là của nó. Ta cứ tưởng cho nó chỗ giàu sang là thương nó, hóa ra người làm nó yên lòng nhất lại là cậu."
Ông ngừng lại, nhìn căn nhà lá:
"Thôi ta cho hai đứa thành vợ chồng thật. Nhưng cậu phải về ở rể nhà ta. Đất của tía má cậu thì giữ lấy, đừng bán, khi nào nhớ thì về thăm."
Rồi ông hạ giọng, như dặn dò:
"Còn chuyện làng xóm... cứ để người ta biết là cậu hối hận rồi trở lại với vợ, không ai thắc mắc đâu vì hai người là vợ chồng có cưới hỏi mà. Danh dự của nó, ta giữ. Còn hạnh phúc của nó... ta giao cho cậu."
Câu nói của ông Hội đồng vừa dứt, cô Hai quỳ xuống ôm chân cha, bật khóc. Bao nhiêu tủi hờn của mười tháng qua như được tháo khỏi lòng.
“Cha… con cảm ơn cha…”
Ông cúi xuống đỡ con gái, bàn tay run run vuốt mái tóc cô. Ông muốn nói nhiều lắm, nhưng cổ họng nghẹn lại. Ông chợt hiểu, tiền bạc có thể cho con một mái nhà lớn, nhưng không thể mua được một người thật lòng thương nó.
Ông nhìn sang anh đang ôm đứa bé. Anh vẫn cúi đầu, trong lòng vừa mừng vừa lo, bởi hạnh phúc đến quá bất ngờ. Anh khẽ nói:
“Dạ… con không dám hứa gì cho cô ấy. Con chỉ xin ông cho con được bên vợ con suốt đời.”
Ông Hội đồng im lặng hồi lâu rồi đáp:
“Ta không cần con hứa gì ngoài tình thương con dành cho nó suốt đời. Chỉ thế là đủ.”
Anh nghe mà mắt cay lên. Cô Hai bước tới nắm chặt tay anh. Cu Tý còn nhỏ, chẳng hiểu chuyện gì, chỉ thấy mẹ khóc nên rụt rè nắm lấy tay anh. Mười tháng trước anh ra đi một mình. Hôm nay trở về, bên cạnh đã có vợ và con.
Ông Hội đồng nhìn ba người, lòng nhẹ đi. Ông biết mình đã chọn đúng. Cả đời ông giữ được ruộng đất, nhà cửa, nhưng điều ông muốn giữ nhất vẫn là nụ cười của đứa con gái duy nhất.
Anh cúi xuống nhìn đôi guốc mộc dưới hiên. Anh nhặt lên, phủi nhẹ bụi rồi múc một gáo nước rửa sạch bùn đất dưới chân cô và đôi guốc cô ưa thích. Mười tháng trước, anh cũng từng làm như vậy. Nhưng ngày ấy là để chuẩn bị cho một cuộc chia ly. Còn hôm nay, vẫn đôi tay ấy,vẫn người đàn bà ấy… chỉ khác một điều: ngày mai không còn phải xa nhau.
Ngoài sông, sương đã tan tự bao giờ, nắng sớm đổ tràn vàng óng trên sóng nước chập trôi. Họ dìu nhau bước về phía những chiếc ghe đang chờ.
Ngoảnh nhìn lại căn nhà lá nhỏ nằm im lìm sau hàng chuối, lòng ai cũng dâng lên một nỗi bùi ngùi khó tả. Nơi ấy, đêm qua, đã ôm trọn một giấc ngủ mặn nồng, đêm đầu tiên họ thực sự thuộc về nhau bằng hai chữ "vợ chồng". Và cũng từ mảnh đất nghèo ấy, một gia đình thật đã bắt đầu ra hoa..
_______
Tim Nguyễn
London, 12&14/08/2026
Nguồn: Fb Nguyễn Bỉnh Khiêm






























