Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
2025 12 09 books
 
7. Nghiên Cứu Và Phê Bình
 
Lý thuyết người đọc hay lý thuyết tiếp nhận ngày càng ảnh hưởng đến thơ ca và văn xuôi. Người ta chia hệ tư duy nghệ thuật ra làm ba thời kỳ: thời kỳ tiền hiện đại với vai trò trung tâm của tác giả, thời kỳ hiện đại, lấy văn bản làm chính, và thời kỳ hậu hiện đại, vai trò của người đọc được nhấn mạnh. Như vậy văn bản chỉ đơn giản là trang sách hay màn hình với những chữ, không có sức sống cho đến khi người đọc nhận thức tính chất văn chương của nó. Có những nhà nghiên cứu nhấn mạnh đến tính cách cá nhân của người đọc, có người chú ý đến sự đáp ứng của chị ta, anh ta. Vật lý học hiện đại cho rằng người quan sát cũng tham gia vào sự vật được quan sát, làm biến đổi chúng. Tính chất của vai trò người đọc trong văn chương trở nên dễ hiểu nếu chúng ta hình dung sự gặp gỡ giữa người đọc và một văn bản khác lạ. Trong trường hợp này, sự ngạc nhiên và tất cả các kiến thức của người đọc, tạo nên ý nghĩa của tác phẩm. Việc đọc một văn bản là sự kiện xảy ra trong một thời gian và điều kiện nhất định trong lịch sử đọc của độc giả. Tuy nhiên vì người đọc trong một thời kỳ thường chia sẻ với nhau các yếu tố tương đồng như tuổi tác, giáo dục, niềm tin, những di sản mà họ nhận được từ thế hệ trước, vì vậy người đọc trong một thời kỳ có những phản ứng đối với văn bản tương tự nhau. Những thế hệ lớn tuổi thường gắn bó với thơ có vần, bất chấp các quan điểm chính trị của họ, trong khi người trẻ hơn dù ở đâu, cũng cởi mở với các quy luật, và nghiêng về thơ tự do, cách viết mới lạ. Những người cùng một điều kiện xã hội như ra đi từ miền Nam có khuynh hướng yêu thích một giọng văn khác với những người ra đi từ miền Bắc. Sự khác biệt như vậy là bình thường, và chúng làm phong phú thêm văn chương. Người đọc hôm nay, mang theo căn cước của mình, niềm tin chính trị và văn hóa, những kinh nghiệm trong quá khứ trong việc đọc, sẽ trải qua một quá trình tiếp cận với văn bản, mới và lạ, các nhân vật khó hiểu, các xung đột về văn hóa, các niềm tin bị thách thức. Nhiệm vụ của thơ hôm nay là mang lại sự thách thức ấy. Là chấm dứt sự èo uột, cũ kỹ, sáo rỗng trong văn học.
 
Người đọc thơ hôm nay nên quyết định tham gia, hoặc từ chối tham gia, đọc lại, phê phán, và yêu mến thế giới tưởng tượng của các nhà thơ. Các nhà phê bình, dù dựa trên cảm hứng nghệ sĩ, hay sử dụng các sở trường học viện, cấu trúc hoặc giải cấu trúc, hiện đại hay hậu hiện đại, đều bình đẳng như nhau trong việc nhận định một tác phẩm. Trong khi không được quên sự quan trọng của các lý thuyết thì việc tiếp cận một tác phẩm trong thực tế, cách đọc kỹ một văn bản thơ, phê bình thực hành, vừa soi sáng các giá trị của bài thơ, vừa góp phần nâng cao cái nhìn của người đọc, là đều quan trọng như nhau và đều cần thiết. Đã có nhiều người nhắc đến Roman Jakobson, người phát triển các học thuyết của Saussure, đóng góp những quan điểm về ngôn ngữ, chia sẻ với các nhà hình thức Nga. Dưới ảnh hưởng của Jakobson, thi pháp biến thành một ngành của ngôn ngữ học. Khuynh hướng ấy làm cho người đọc bị tách ra khỏi văn bản. Trong thực tế, việc đọc thơ phụ thuộc nhiều vào sự quan tâm có chọn lọc. Một người đọc không dành cho mọi yếu tố một sự quan tâm như nhau: có người nặng về nhạc điệu, có người nặng về tư tưởng, có người thích chữ đẹp, có người đi tìm ý nghĩa. Suy ra, một đám đông người đọc cũng như vậy.
 
Người viết và người đọc hôm nay có nhiều khả năng tiếp xúc với các ngoại ngữ. Dù yêu mến tiếng Việt, họ vẫn có những sở thích và tham chiếu khác. Sự tác động của internet lên văn học và việc đọc thơ hãy còn lâu mới được nghiên cứu thấu đáo, nhưng đặc điểm quan trọng nhất hiện nay là sự tương tác gần như ngay lập tức giữa tác giả và người đọc và giữa người đọc với nhau. Bản thân người viết bài này cũng đã nhận được nhiều phản hồi ngay lập tức, từ những độc giả không phải là nhà phê bình, nhưng ý kiến của họ hoàn toàn có ích cho người viết. Sự tương tác mau lẹ làm biến đổi ngôn ngữ và biến đổi thơ ca.
 
Khi đối diện với một nền văn minh và các phương tiện kỹ thuật mới, sẽ có hai thái độ cực đoan: những người trở nên nô lệ của chúng và những người quay lưng lại với chúng. Nếu tiếp nhận các lợi ích của phương tiện thông tin mới, thơ có thể mở ra những cánh cửa chưa từng có, những bài thơ trữ tình của các sự kiện và sự suy tư cá nhân. Nhiều người than phiền thơ in sách không bán được. Trong khi điều ấy là đúng, thì việc lan truyền thơ bằng các phương tiện khác là một lợi thế của thơ hôm nay mà các nhà thơ chưa biết sử dụng. Các chủ đề được chọn lựa, các chất liệu sáng tạo, các khuynh hướng biểu diễn, đối thoại, sân khấu, đọc thơ trên đường phố, trước các khán giả lớn và trước dăm ba người hãy còn rất hạn chế đối với người Việt ở cả hải ngoại lẫn trong nước. Trong các hình thức nghệ thuật và văn học, thơ có khả năng tiếp nhận nhanh hơn cả cái mới và cái lạ. Trong khi không ngừng quan tâm đến các vấn đề Việt Nam, thơ hải ngoại có nhiều cơ hội hơn để tiếp cận với nền thơ thế giới nhất là Bắc Mỹ và Châu Âu. Các nhà thơ có thể làm nhiều hơn nữa nếu họ tin vào điều đó, và nếu họ giữ được tình yêu lâu bền đối với ngôn ngữ mẹ đẻ, lòng ao ước tự do và công bằng, làm cho thơ xứng đáng trở thành tiếng nói của cộng đồng, và trong khả năng của mình, góp vào các diễn đàn đương đại trên xứ sở mà người Việt chọn làm quê hương thứ hai. Lằn ranh phân biệt giữa thơ dở và thơ hay, giữa một nhà thơ tài năng và một nhà thơ tập sự, thậm chí giữa một nền văn học thực sự và một nền văn học nhảm nhí ngày càng trở nên mơ hồ. Điều này không những đúng cho thơ mà còn cho cả văn xuôi hải ngoại, không những chỉ đúng cho văn học hải ngoại mà còn đúng cho văn học trong nước, kể từ năm 1975 đến nay, vì nhiều lý do khác nhau, thậm chí hoàn toàn khác nhau. Trong một bối cảnh như thế, rất ít nhà phê bình có chỗ đứng. Hầu hết chọn sự im lặng. Sự trao đổi qua lại giữa các nhà thơ hoặc giữa những người viết nói chung thường chỉ có tính chất thù tạc. Ngôn ngữ thơ ca thay vì có nhiệm vụ xác định các đối tượng mô tả như những điểm tham chiếu thì lại bôi xóa chúng, dịch chuyển chúng. Như thế một ngôn ngữ bị xáo trộn, không dừng lại, sẽ tiếp tục vận động về phía trước và mang theo nó những thay đổi của lịch sử. Mặt khác người đọc ở hải ngoại ngày càng phân tán và giảm thiểu, trong khi người đọc trong nước tăng lên, sự giao hòa giữa trong nước và ngoài nước không chỉ dừng lại ở mức độ kinh tế, xã hội, chính trị, mà còn ở ngôn ngữ và văn học. Sự nghiên cứu về thơ nói chung, và về thơ hải ngoại, được khởi đi bởi một số nhà phê bình từ những năm một chín tám mươi như Đặng Tiến, Nguyễn Văn Trung, Đỗ Khánh Hoan, Thi Vũ Võ Văn Ái…còn được tiếp nối bởi những người nghiên cứu văn học, hoặc các nhà văn nhà thơ viết phê bình, đến nay vẫn viết, như Thụy Khuê, Nguyễn Hưng Quốc, Bùi Vĩnh Phúc, Trần Doãn Nho, Trịnh Y Thư, Đỗ Quyên, Khế Iêm, Nguyễn Tà Cúc, Ngu Yên, Nguyễn Đức Tùng và những người khác.
 
8. Nghĩ Về Thơ Hôm Nay
 
Ngôn ngữ không chỉ là hình thức diễn đạt mà là toàn bộ suy nghĩ của một thế hệ. Thơ là bộ phận ưu tú của ngôn ngữ. Nếu ngôn ngữ không đủ giàu có, tâm hồn người viết không đủ sâu, thì cảm xúc sáo rỗng, suy nghĩ không xa. Sự phân biệt giữa các loài, các dân tộc, các cộng đồng là khả năng chuyển tư tưởng thành ngôn ngữ. Thơ tạo ra những tương tác giữa người và người về mặt cảm xúc, thái độ, suy nghĩ. Những bàn luận về thơ cần phải đặt trên bàn luận về ngôn ngữ nói chung. Tuy nhiên nghiên cứu ngôn ngữ là một lãnh vực sâu rộng; và hiện nay ở hải ngoại chúng ta không có hay ít có các chuyên gia ngôn ngữ học. Sự khác nhau giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ đời thường là gì? Ngôn ngữ là sự phản ánh hiện thực, nhưng ngôn ngữ cũng tạo ra một hiện thực khác. Các nhà thơ thường xuyên mang ngôn ngữ trở lại với những cảm xúc nguyên thủy trong khi làm mới chúng, các cảm xúc ấy.
 
Mặt khác, tự do là điều kiện cần nhưng không phải là điều kiện đủ cho sự phát triển của nền văn học. Các diễn đàn, các sinh hoạt nghệ thuật sôi nổi, sự ủng hộ của dư luận, tiếng nói của các nhà phê bình, sự tiếp nhận cởi mở, là những điều kiện để làm cho một nền thơ phát triển.
 
Nhiều người hỏi: thơ là gì?
 
Tôi muốn đặt ra một câu hỏi khác, có lẽ dễ trả lời hơn và thiết thực hơn: thơ hay là gì?
 
Thơ là một tác phẩm nghệ thuật dành cho hai người và chỉ hai người mà thôi: thi sĩ và người đọc. Không phải người nào đọc sách cũng là người đọc của thơ.  Người đọc của thơ khác với người đọc nói chung ở chỗ người ấy chấp nhận tham gia một trò chơi; và niềm say mê của họ không có ích lợi gì cả. Sự ích lợi có thể sẽ phát sinh sau đó. Một bài thơ hay mang lại sự tưởng tượng lớn ở người đọc. Sự tưởng tượng trong thơ là tất cả: nó mang lại lòng hoài niệm, nỗi đau buồn, cái chết chưa được chôn cất, tình yêu chưa được thổ lộ, sự phẫn nộ chưa bao giờ được lên tiếng.
 
Niềm vui được thể hiện và được tìm thấy trong ngôn ngữ, niềm vui ấy là lớn nhất trong các niềm vui, nhưng chỉ dành cho một số ít người. Chỉ một số ít người là người đọc của thơ. Đó là sự thật muôn đời. Điều ấy xem ra có vẻ cay đắng nhưng đó là sự thật. Tuy vậy, sự thật còn lớn hơn thế: những người đọc thật sự, dù cố ý hoặc vô tình, sẽ làm lan tỏa niềm vui thú của thơ ra những người xung quanh mình.
 
Những phương pháp sáng tạo mới, các khuynh hướng cách tân táo bạo là cần thiết, nhưng không nên làm cho người đọc ngần ngại, các nhà thơ phải thuyết phục được người đọc của mình rằng: những bài thơ khó hiểu nhất vẫn có thể mang lại cho họ sự vui thú như khi nghe một bài hát ru. Thơ hôm nay dù mới mẻ cũng không vượt qua được các yếu tố ngàn đời của thơ: tính âm nhạc, tính hình ảnh, vẻ đẹp của ngôn ngữ, tính tư tưởng. Có hai khuynh hướng trong nghiên cứu và phê bình: một mặt coi nặng phê bình thực hành, trong thực tế là các lời khen vô tội vạ, có người gọi là phê bình nghệ sĩ hay phê bình báo chí, bè phái, coi nhẹ các nghiên cứu học thuật, như phê bình lý thuyết, văn học sử. Khuynh hướng ngược lại: coi nặng lý luận văn học, nói những điều tổng quát và cao siêu khiến cho độc giả sợ hãi, nhưng khi nhận định một tác phẩm cụ thể thì khô khan, thiếu chân thực. Phê bình vừa phải đứng cách xa tác phẩm vừa phải đứng rất gần. Những người yêu tiếng Việt, yêu thơ hôm nay có một may mắn lớn là nhờ các phương tiện truyền thông hiện đại, họ có thể đọc được nhiều tác phẩm xuyên biên giới, cũ và mới, mọi khuynh hướng.
 
Nhiệm vụ nhà thơ là viết cho thật hay, xưa nay đã thế, bây giờ càng thế. Thơ là tâm hồn và tư tưởng của một dân tộc. Sau hai mươi năm chiến tranh và một nửa thế kỷ lưu lạc, người Việt hải ngoại vẫn còn giữ được trong tài sản ít ỏi của mình một thứ ngôn ngữ đẹp, sang trọng, gần gũi với văn minh nhân loại. Nếu chia nền thơ hải ngoại làm ba thời kỳ, thời kỳ 1975 – 1989 là giai đoạn khởi đầu, sự kế tục của thơ miền Nam, tiếng kêu bi thiết của những người vừa mất quê hương, thời kỳ 1989 – 2000 là giai đoạn trưởng thành, hội nhập vào xứ sở mới, quay trở lại giao lưu với trong nước, mang tâm thức hiện đại, thì thời kỳ thứ ba từ 2000 đến nay là sự phát triển phức tạp, trên nhiều hệ tọa độ, rất khó theo dõi, vừa dung nạp các giá trị văn chương thế giới vừa giao thoa với trong nước, có sự phối hợp nhiều ngôn ngữ, nhiều nhà thơ cùng lúc có thể sáng tác trong hai ngôn ngữ, mang tâm thức hậu hiện đại. Có một khoảng cách rất lớn giữa kỳ vọng của độc giả và tài năng của các nhà thơ, giữa nhiệm vụ của thơ ca và các tác phẩm ngày càng bình dân hóa, dễ dãi, tràn lan, trong bối cảnh các tiêu chuẩn thẩm mỹ bị hạ thấp, giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác.
 
Ngôn ngữ thơ là một ngôn ngữ nghệ thuật. Ngôn ngữ nghệ thuật biểu lộ lịch sử, tư tưởng, văn hóa của một cộng đồng hay một dân tộc. Thời đại lưu vong đã tạo ra một lớp nhà thơ mới, đó là những người chưa từng cầm bút ở trong nước, hoặc là người đã từng viết trước đó nhưng trong hoàn cảnh mới, họ tiếp tục viết với bút pháp mới. Sự thất vọng mà thơ Việt hải ngoại mang tới cho người đọc không lớn hơn mà cũng không nhỏ hơn sự thất vọng mà thơ trong nước mang tới cho người đọc của họ trong nước. Điều kiện địa lý cách trở, thế hệ trẻ ở hải ngoại lớn lên xa dần tiếng Việt, sự bổ sung của các nguồn di dân từ trong nước không theo kịp. Chúng tôi hy vọng rằng những nhà thơ, nhà phê bình, người đọc, thuộc mọi thế hệ, vẫn còn yêu tiếng Việt nhận ra sự khó khăn của chúng ta, làm việc nhiều hơn nữa, đọc nhiều hơn, viết mới hơn và viết hay hơn. Đời sống ngày một sôi động, thơ hôm nay có thể tạo ra những khởi đầu mới mẻ, cái nhìn mới, tư tưởng mới, nhờ học tập ở các nền thơ lớn trên thế giới, góp phần di dưỡng tinh thần dân tộc, sự phản kháng đối với các tội ác và tình yêu công lý, sự kêu gọi người Việt ngồi lại bên nhau, hóa giải hận thù, tìm đường đi tới. Sự hóa giải không phải là đối với quá khứ, sự hóa giải là cho các vấn đề dân chủ hôm nay. Thơ không đem lại những câu trả lời cho các vấn đề đương đại, nhưng có thể làm cho người đọc trở nên dấn thân nhiều hơn về trí thức và cảm xúc. Người đọc trở nên gắn bó hơn với những đối thoại và tra vấn bên trong các nhà thơ, khi bài thơ có thể mang lại cho họ vẻ đẹp của tiếng Việt, âm nhạc, năng lượng, tính ẩn dụ, tính đối thoại và tính kịch, lòng khao khát của một dân tộc chia lìa, đã mất mát quá nhiều qua chiến tranh và tan vỡ, hận thù và chia rẽ, tìm lại nhau trên hành trình đi tới tự do như người vượt biển vượt tường năm xưa, đi tìm sự đoàn kết dân tộc và các giá trị phổ quát của nhân loại.
 
Nguyễn Đức Tùng