User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
50 Năm Ngày Giỗ Vũ Hoàng Chương: Ngọn Lửa Ba Thế Hệ - Nguyên Yên
 
hinh 1 vhc 09202026
Các diễn giả và nghệ sĩ. Từ trái/trên: nhà văn Trịnh Y Thư, giáo sư Trần Huy Bích, nghệ sĩ Kiều Loan, nhà thơ Đỗ Quý Toàn. Hàng giữa: ban hợp ca với ca sĩ Khánh Ly, Nguyễn Hoàng Hà (guitar) và Nathan Đặng, Vành Khuyên, Phương Hà, Lệ Thanh, Thúy Hằng, Thanh Tài, Vinh Tín và Chương Nguyễn. Hàng dưới từ trái: Jimmy Nhựt Hà, Bích Liên, Thúy Anh với Liên Tâm (đàn tranh) và Kim Sơn (sáo), nhà văn Đặng Thơ Thơ. Ảnh: Nguyễn Lập Hậu.
 
Cuối tuần thứ ba của tháng Chín, giữa vô số chương trình sinh hoạt văn hóa nghệ thuật tại Little Sài Gòn, phòng sinh hoạt đài truyền hình SBTN chủ nhật chiều qua bừng sáng. Người ngồi xem chương trình gọi đó là ngọn “lửa thiêng”, thắp sáng hơn 100 khuôn mặt người Việt già-trẻ cùng ngồi bên nhau, tưởng niệm 50 Năm Ngày Mất của Thi Sĩ Vũ Hoàng Chương, ngôi sao bắc đẩu của nền thi ca Việt Nam thế kỷ XX, người thầy của các bậc thầy thi ca Việt. Chương trình do Việt Báo Foundation, Văn Học Press và SBTN đồng tổ chức.
 
Thiệp mời ghi một giờ chiều. Chương trình truyền hình trực tiếp dự trù bắt đầu lúc 1 giờ 30. Vậy mà mới quá trưa, “tài tử giai nhân” đã dập dìu tới, chẳng bao lâu khán phòng đã kín chỗ. Việt Báo vốn mang tiếng khó tính chuyện đúng giờ, chiều hôm nay phải “phá lệ”, mở đầu sớm hơn dự liệu.
 
Ngoài cửa, trước khi bước vào với thơ, khách dừng lại bên bàn sách. Cuốn Vũ Hoàng Chương – Ta Còn Để Lại Gì Không vừa từ nhà in về, giấy còn thơm mùi mực, do Văn Học Press xuất bản. Giáo sư Trần Huy Bích cùng các tác giả Trần Mạnh Toàn, Trần Ngọc Khôi, Nguyễn Ngọc Dung và Phạm Thị Lệ-Hương biên soạn, với một ước mong rất khiêm nhường: cuốn sách sẽ “hữu ích phần nào cho những nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo hơn về sau.”
 
Bên cạnh là bộ thi ca mười cuốn do nhà xuất bản Hàng Thị thực hiện, gần như gom đủ một đời thơ.
 
hinh ban sach
Hình bàn sách: Quầy sách tại chương trình Năm Mươi Năm Ngày Giỗ Vũ Hoàng Chương. Thúy Hằng, Quyên Trần và Janine Trang Nguyễn. Ảnh: Thanh Huy.
 
Đúng 1 giờ 30 chiều, trong không khí lung linh của những áng thơ, thư pháp và chân dung thi sĩ hiện trên những tấm phướn màn ảnh sân khấu, tiếng sáo bất chợt vẳng lên. Cả khán phòng chưa kịp định thần thì ca sĩ Khánh Ly bước lên.
 
“Lửa!
Lửa cháy ngất Tòa Sen!
Tám chín phương nhục thể
trần tâm hiện thành Thơ,
quỳ cả xuống.
Hai Vầng Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt Trời
Mới Mọc,
Ánh Đạo Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên...
Ôi ngọn Lửa huyền vi…”
 
Khánh Ly và những câu thơ từ bài Lửa Từ Bi, Vũ Hoàng Chương viết năm 1963, cùng với ban hợp ca qua trích đoạn bài Trường Ca Lửa Thiêng của Phạm Thế Mỹ đã mở đầu cho chương trình tưởng niệm, vừa trang trọng, vừa ý nghĩa, giữa những tiếng “lửa bập bùng lên, lửa bập bùng cháy” to nhỏ khắp thính phòng.
 
Trong khoảnh khắc, người nghe không khỏi chạnh lòng nhớ đến hình ảnh một miền nam Việt Nam của những năm đầu thập niên 1960, những năm đầy biến động chính trị, những ngày ngọn lửa đấu tranh chính trị, tôn giáo bùng lên, ngọn lửa của “thơ cháy lên với lời kinh”. Lửa Thiêng từng được ban hợp ca Đại Học Vạn Hạnh trình diễn tại rạp Thống Nhất ở Sài Gòn năm 1964. Từ đó đến nay, biết bao thập niên đã trôi qua, ‘loài người’ vẫn không ngưng thắp lên lời cầu nguyện “tụng cho nhân loại hòa bình”.
 
hinh 2
MC Diệu Quyên và Ysa. Ảnh: Nguyễn Lập Hậu.
 
Hai MC Diệu Quyên và Y-Sa bước ra, nhắc lại ý nghĩa của buổi họp mặt: năm mươi năm, đúng nửa thế kỷ, kể từ ngày thi sĩ Vũ Hoàng Chương qua đời.
 
Ông sinh ngày 14 tháng 5 năm 1915 tại Nam Định. Thuở nhỏ học chữ Hán tại nhà, sau học trường Albert Sarraut ở Hà Nội, đậu Tú tài năm 1937. Năm 1941, ông cùng Chu Ngọc và Nguyễn Bính lập Ban Kịch Hà Nội. Cũng trong thời gian ấy ông gặp Đinh Thục Oanh, chị ruột nhà thơ Đinh Hùng; hai người thành hôn năm 1944.
 
Năm 1954, Vũ Hoàng Chương vào Nam, sống tại Sài Gòn, tiếp tục làm thơ và dạy Quốc Văn tại Chu Văn An, Văn Lang. Năm 1959, tập Hoa Đăng đem về cho ông Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc về Thơ. Từ 1964 đến 1968, ông giữ chức Chủ tịch Trung tâm Văn Bút Việt Nam, tham dự nhiều hội nghị văn chương quốc tế. Năm 1972, ông được tuyên dương về sự nghiệp văn chương, học thuật và mỹ thuật; cùng năm, Văn Bút Việt Nam dưới nhiệm kỳ Linh mục Thanh Lãng đề cử ông cho giải Nobel Văn Chương.
 
8 tuong niem
 
Phần tiểu sử được nhắc lại trong chương trình dừng lâu hơn ở những năm cuối đời. Sau ngày miền nam thất thủ 30 tháng Tư 1975, Vũ Hoàng Chương bị cộng sản bắt giam tại khám Chí Hòa. Đói khát, bệnh tật, chỉ năm ngày sau khi nhà cầm quyền cộng sản thả về, ông trút hơi thở cuối cùng vào ngày 6 tháng 9 năm 1976 tại Sài Gòn. Ông là một trong những văn nghệ sĩ miền nam đầu tiên bị chiến dịch tiêu diệt văn hóa sau 1975 của cộng sản tàn sát.
 
Về thơ Vũ Hoàng Chương, Diệu Quyên nói rằng một chương trình vài giờ không thể đi hết một đời thi ca. Có lẽ vì thế người kể chuyện thơ ông không thể là ai khác hơn một người đã từng sống trong chính khí hậu văn chương ấy, nhà thơ Đỗ Quý Toàn bước lên sân khấu.
 
Hơn năm mươi năm trước, ngay tại Sài Gòn những tháng đầu năm 1975, Đỗ Quý Toàn đã từng giới thiệu thơ Vũ Hoàng Chương. Chiều nay ông trở lại. Không giấy tờ. Không bài soạn sẵn. Chỉ có trí nhớ của một người đã sống đủ lâu với bạn bè, với lịch sử và thời cuộc.
 
0n7a6953 copy
Đỗ Quý Toàn. Ảnh VB.
 
Đỗ Quý Toàn kể lại chuyện làng văn ngày trước, về mối giao tình và hỗ trợ văn nghệ giữa nhà báo Chu Tử và Vũ Hoàng Chương. Chuyện tình bằng hữu. Chuyện một Vũ Hoàng Chương làm thơ say hay đến nghiêng ngửa trời đất mà chính nhà thơ lại chẳng phải người rượu chè; rồi chuyện Kinh Kha bên sông Dịch, qua tài thơ của Vũ Hoàng Chương, hào hùng khí phách đến dường nào. Trích đọc và phân tích thơ của Vũ Hoàng Chương, ông không quên nhắc đến sự quan trọng của việc gìn giữ ngôn ngữ và sự cần thiết của việc hỗ trợ nhà thơ.
 
Nhưng lý thú nhất chính là lúc Đỗ Quý Toàn trở lại sân khấu với bài Vịnh Tranh Gà Lợn rất “thời sự”. Một khán giả theo dõi chương trình từ xa nhắn vào: “Mình vui thích ngắm nhà thơ Đỗ Quý Toàn cầm phone tay giải thích bài thơ Tranh con gà, con lợn. Sao trông anh hóm hỉnh, dí dỏm, tinh tường quá!”
 
Một khán giả ngay tại hội trường đã bình: “Tôi thích nhất đoạn diễn đọc bài Vịnh Tranh Gà Lợn của Đỗ Quý Toàn. Nghe mà nghĩ đến tình hình nước Mỹ hiện tại, thật không thể “biết lòng ai đỏ, mắt ai xanh…” Thơ hay đôi khi có cái ngang ngạnh ấy. Nó không chịu nằm yên trong năm tháng của nó.
 
Một nhân vật khác, cũng mang theo cả một phần lịch sử văn nghệ, xuất hiện trên sân khấu tiếp nối: nghệ sĩ Kiều Loan, ái nữ của nhà thơ Hoàng Cầm và nữ kịch sĩ Tuyết Khanh, người từng được thi sĩ dành tặng nhiều vần thơ diễm tuyệt.
 
Kiều Loan học ngâm thơ từ thân mẫu, rồi được chính Vũ Hoàng Chương chỉ dẫn. Chiều nay bà diễn ngâm Bài Ca Sông Dịch.
Giọng ngâm của bà trầm bổng quyện với tiếng đàn tranh của hai em Liên Tâm và Kim Sơn, dựng lại bức tranh bi hùng bên sông Dịch, nơi Kinh Kha một mình lên đường, mang theo khí phách của người tráng sĩ biết trước chuyến đi không có ngày về.
 
0n7a6898 copy
Nghệ sĩ Kiều Loan. Ảnh: Nguyễn Lập Hậu.
 
Nhưng xúc động nhất có lẽ không chỉ nằm trong câu chuyện Kinh Kha. Nó nằm ngay trên sân khấu, nơi hội tụ ba thế hệ: lời thơ Vũ Hoàng Chương; tiếng ngâm Kiều Loan, người đã từng được ông trực tiếp chỉ dạy; và tiếng đàn tiếng sáo của Liên Tâm, Kim Sơn, lớp con cháu rất trẻ hôm nay. Một bài thơ viết từ hơn nửa thế kỷ trước, qua ba thế hệ, vẫn còn nguyên tiếng ngân.
 
gs thb va dq
Trái: MC Diệu Quyên và Giáo Sư Trần Huy Bích. Phải: Quan cảnh khán phòng. Ảnh: Nguyễn Lập Hậu/Thanh Huy.
 
Tiếng vỗ tay vang lên không ngớt khi giáo sư Trần Huy Bích được mời lên sân khấu. Ông đã ngoài chín mươi. Nhưng bảy mươi năm trước, niên khóa 1955-1956, ông còn là một cậu học trò ngồi trong lớp Quốc Văn của thầy Vũ Hoàng Chương. Là nhà học giả nghiên cứu và biên soạn văn chương, người học trò ấy nay đứng trên sân khấu, trình bày lý do cần có Ta Còn Để Lại Gì Không, về nhu cầu gìn giữ một di sản, về ý nghĩa của một ngày tưởng niệm dành cho người thi sĩ.
 
Rồi ông cùng Diệu Quyên mời mọi người đứng lên. Một phút im lặng. Không tiếng đàn. Không tiếng sáo. Giọng Y-Sa vang lên:
 
“Ta còn để lại gì không?
Kìa non đá lở, này sông cát bồi…”
 
Hai câu thơ, trong buổi chiều hôm nay, không còn chỉ là một câu hỏi của riêng Vũ Hoàng Chương. Nó như hỏi thay cả một thế hệ, cả một giai đoạn lịch sử.
 
0n7a6928 copy
Trịnh Y Thư về Vũ Hoàng Chương, một Ngọn Lửa Thiêng. Ảnh: Thanh Huy
 
Nhà văn Trịnh Y Thư, trong phần nói chuyện phần sau của chương trình đã đưa câu hỏi ấy đi xa hơn. Theo ông, cái chết của Vũ Hoàng Chương “không hẳn chỉ là bi kịch của một thi sĩ”, mà còn là “bi kịch của một giai đoạn văn hóa Việt Nam bị đột ngột chém đứt ngang.”
 
Nhớ Vũ Hoàng Chương, vì vậy, cũng là nhớ tới những văn nghệ sĩ miền Nam đã đi qua lao tù cộng sản sau 1975, trong đó có những người không bao giờ trở về: Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Việt Sơn, Dương Hùng Cường…
 
Một nền văn hóa không chỉ mất đi khi sách bị thất lạc. Nó mất khi người viết không còn được viết, người đọc không còn được đọc, và một thế hệ nhà văn bị bức tử vĩnh viễn không còn dịp truyền lại cho thế hệ sau những câu chuyện chưa kể. Có lẽ vì vậy mà hình ảnh những người trẻ ngâm thơ, cầm đàn trên sân khấu chiều nay trở nên có ý nghĩa hơn hết.
 
Chương trình trở lại với tác phẩm Hoàng Hạc Lâu, bài thơ Thôi Hiệu mà Vũ Hoàng Chương đã chuyển dịch, rồi từ bản dịch ấy nhạc sĩ Cung Tiến xúc động phổ thành ca khúc sau khi ông đã rời quê hương.
 
Tiếng hát đã dạn dày hoà cùng tiếng đàn u hoài. Một bài thơ đời Đường, đi qua Vũ Hoàng Chương, đi qua Cung Tiến, cất lên với tiếng hát Bích Liên bên tiếng dương cầm của Đỗ Bằng Lăng, vào một buổi chiều ở Little Sài Gòn — một hành trình thi nhạc dài hơn một đời người.
 
bich lien bang lang
Bích Liên hát Hoàng Hạc Lâu, nhạc Cung Tiến, thơ Thôi Hiệu, bản dịch của Vũ Hoàng Chương. Dương cầm: Đỗ Bằng Lăng. Ảnh: Nguyễn Lập Hậu.
 
Ba tiết mục cuối trở lại hoàn toàn với phần đọc/ngâm thơ Vũ Hoàng Chương: Say Đi Em qua giọng đọc Đặng Thơ Thơ, Chờ Đợi Hoài Công qua tiếng ngâm Thúy Anh, và Chia Tay qua giọng Jimmy Nhựt Hà.
 
Mỗi người trong khán phòng hẳn có một tiết mục yêu thích riêng. Với người viết những dòng này, Say Đi Em là một khoảnh khắc đặc biệt người thơ hồn thơ nhập vào nhau. Có lúc không còn biết người đang đọc thơ, hay chính bài thơ đang mượn người để tự cất tiếng.
 
Thúy Anh được nhiều khán giả xem từ xa gửi lời khen tới cô “ả đào” có lối diễn ngâm xuất thần.
 
Còn Jimmy Nhựt Hà, một khuôn mặt rất trẻ, lại đem đến cho tiết mục cuối một điểm son khác. Nhìn một người trẻ đứng trước khán phòng đọc Vũ Hoàng Chương người xem hiểu rằng “tưởng niệm” không nhất thiết chỉ nhìn về quá khứ. Đó còn là cách một thế hệ trao lại tiếng nói của mình cho thế hệ kế tiếp.
 
trump ai hoax 1
Nhà văn Đặng Thơ Thơ; Thúy Anh với Liên Tâm (đàn tranh), Jimmy Nhựt Hà với Kim Sơn (sáo). Ảnh Nguyễn Lập Hậu/Thanh Huy.
 
Chương trình chấm dứt mà nhiều người vẫn chưa muốn rời ghế. Một khán giả lớn tuổi nói: “Đã lâu rồi, Little Sài Gòn không có một chương trình văn học thi ca thuần túy và giá trị như hôm nay.”
 
Một thân hữu của Việt Báo, anh Nguyễn Bá Khanh, về tới nhà rồi mà dư âm buổi chiều còn mãi vấn vương. Anh viết:
 
“…Tiếng đàn tranh, tiếng sáo, tiếng trống và nhất là tiếng thơ từ những giọng ngâm đã theo tôi mãi trên đường về nhà. Đâu phải lúc nào chúng ta cũng có được một buổi chiều như thế!”
 
Nguyên Yên
 
hinh luu niem nguyen lap hau
Hình lưu niệm, ban tổ chức, nghệ sĩ và diễn giả, từ trái: Trúc Hồ, Diệu Quyên, Y Sa, Kiều Loan, Trịnh Y Thư, Nguyễn Hoàng Hà, Phương Hà, Chương Nguyễn, Liên Tâm, Hòa Bình, Đặng Thơ Thơ, Khánh Ly, Thúy Hằng, Thúy Anh, Kim Sơn, Jimmy Nhựt Hà, Đỗ Bằng Lăng, Bích Liên, Đỗ Quý Toàn, Trần Huy Bích, Trần Ngọc Khôi. Ảnh: Nguyễn Lập Hậu.
 
toan canh nguyen ba khanh jpg
Toàn khán trường, ảnh: Nguyễn Bá Khanh.
 
************
 
Ngọn Lửa Thiêng - Trịnh Y Thư 
 
vhc 2

(Phát biểu của Trịnh Y Thư nhân buổi lễ Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, ngày 20 tháng 9 năm 2026 tại Quận Cam, California.)

*

Kính thưa quý vị và các bạn,

Hôm nay, chúng ta cùng nhau họp mặt trong không gian trang trọng này để tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương, một trong những tiếng thơ độc đáo và rực sáng nhất của thi ca Việt Nam thế kỷ XX. Nửa thế kỷ đã trôi qua, nhưng ánh lửa từ thơ ông vẫn còn cháy, âm thầm mà mãnh liệt, trong tâm tư những người yêu thơ, yêu văn chương.

Vũ Hoàng Chương là thi sĩ của men say lửa cháy, của đam mêcô độc, của cõi thếtâm linh, của một tâm hồn luôn kiếm tìm cái đẹp tuyệt đối giữa những biến động khốc liệt của đất nước mà thế hệ, thời đại ông gánh chịu. Ông bước vào thi đàn với phong thái riêng: cổ điển mà phóng túng, u hoài mà rực rỡ, như một người đứng giữa giao lộ của truyền thống và hiện đại, mang theo tiếng thở dài của phương Đông và nỗi khắc khoải hoài nghi của kiếp nhân sinh.

Thơ ông không chỉ là những câu chữ hoặc vần điệu; đó là một khí chất, một cách sống, một cuộc đối thoại với định mệnh. Khi đọc Vũ Hoàng Chương, tai ta như nghe được tiếng vọng của trăng tàn, tiếng nấc của cuộc rượu, tiếng gọi của tự do, thứ tự do mà ông nâng niu đến tận cuối đời; mắt ta thấu thị từng góc cạnh ngõ ngách của nỗi đau kiếp người. Dù cuộc đời ông trải qua nhiều khúc quanh nghiệt ngã, thơ ông vẫn giữ được sự thanh sạch của một tâm hồn hướng về cái đẹp, cái thiện, và sự thật.

Năm mươi năm sau ngày ông rời cõi thế, chúng ta không chỉ tưởng nhớ một thi sĩ. Chúng ta tưởng nhớ một nhân cách nghệ sĩ, một người đã sống trọn vẹn với thơ, với nghệ thuật, với nỗi đau và niềm kiêu hãnh của dân tộc. Di sản của ông không nằm trong những trang sách cũ, mà trong cách chúng ta tiếp tục đọc, tiếp tục lắng nghe, tiếp tục để thơ ông soi sáng những vùng sâu thẳm của tâm hồn.

Tưởng niệm 50 năm ngày qua đời của Vũ Hoàng Chương không phải là một dấu chấm hết. Nó là dịp để chúng ta cùng nhìn lại trang sử bi thương của dân tộc, và qua đó, biết đâu chúng ta học được bài học lịch sử một cách thấu đáo, trọn vẹn hơn.

Nhìn từ chiều sâu văn hóa và lịch sử Việt Nam, số phận của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương sau năm 1975, ta không chỉ thấy một trường hợp cá nhân bị đàn áp, mà còn thấy đó là một nhát chém lên lịch sử-văn hóa Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi tăm tối đầy chấn động. Như chúng ta được biết, ông bị bắt giam vào khám Chí Hòa trong những điều kiện sức khỏe suy sụp trầm trọng, bị bắt không hẳn chỉ vì vài câu thơ châm biếm thời cuộc, mà vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam vượt lên trên ý thức hệ, điều mà bối cảnh chính trị lúc đó không thể dung nạp.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đại diện cho một dòng chảy văn hóa độc lập, ông thuộc thế hệ thi sĩ tiền chiến – thế hệ đã đưa thơ Việt bước vào thời hiện đại bằng tinh thần tự do khai phóng đầy cá tính, và sự kết hợp hài hòa tuyệt hảo giữa truyền thống thâm thúy Đông phương và cảm thức lãng mạn Tây phương. Trong văn hóa Việt Nam, thế hệ này được xem như những người gìn giữ phẩm giá tinh thần, đặt nghệ thuật lên trên mọi mục tiêu chính trị.

Sau 1975, chính quyền mới muốn thiết lập một hệ chuẩn văn hóa duy nhất: văn nghệ phải phục vụ cách mạng, phục vụ tuyên truyền chính trị. Trong bối cảnh ấy, một thi sĩ như Vũ Hoàng Chương – người chủ trương “thơ là tiếng nói của tự do nội tâm” – trở thành biểu tượng của một truyền thống văn hóa không nằm trong hệ thống cai trị độc tài toàn trị.

Những nhà văn, nhà thơ như Vũ Hoàng Chương thường bị nhà nước nhìn bằng con mắt nghi kỵ. Ông không hoạt động chính trị, nhưng trong lịch sử Cộng sản Việt Nam, trí thức độc lập thường bị xem là nguy hiểm hơn những người chống đối công khai, vì họ có ảnh hưởng tinh thần sâu rộng.

Lịch sử Việt Nam cho thấy: mỗi khi xã hội biến động, văn chương trở thành nơi lưu giữ ký ức và lương tri. Thời Lê-Nguyễn, nhiều nhà Nho bị lưu đày vì dám viết những điều trái ý triều đình phong kiến. Thời Pháp thuộc, văn chương trở thành nơi nuôi dưỡng tinh thần dân tộc. Sau 1975, văn chương lại đứng trước yêu cầu phải phục vụ một hệ tư tưởng mới. Trong dòng cuồng lưu ấy, Vũ Hoàng Chương là kẻ đứng ngoài nắng, không phải trong bóng mát: một thi sĩ trung thành với tự do tinh thần, và vì thế ông bị cuốn vào vòng xoáy của lịch sử, bị bánh xe lịch sử nghiền nát.

Trong văn hóa Việt Nam, nhà văn-nhà thơ không chỉ là người sáng tác, mà còn là người giữ gìn lịch sử tinh thần và ký ức dân tộc, luôn coi trọng “tự do trong tâm tưởng”. Một chế độ muốn kiểm soát xã hội phải kiểm soát ký ức, và vì thế phải kiểm soát nội tâm người viết. Đối với họ, tự do nội tâm dẫn đến tự do tư tưởng, mà họ quy chụp là phản động.

Đó là lý do vì sao, sau khi cưỡng chiếm Miền Nam, nhà nước Cộng sản đã bắt bớ, giam cầm, tù đày, hành hạ hàng trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo thuộc chế độ cũ. Nhiều người chết trong tù. Có người chỉ được thả về trong cơn hấp hối, về đến nhà thì tắt thở.

Nhà văn Nhã Ca, trong một chương trình phỏng vấn, đã cho chúng ta biết như sau về số phận của cả một tập thể trí thức văn nghệ sĩ Miền Nam Việt Nam vào thời điểm đó như sau. Bà nói:

Trong chiến dịch tiêu diệt văn hóa, văn nghệ sĩ miền Nam tháng Tư năm 1976, Vũ Hoàng Chương, vị thi hào Việt Nam thế kỷ thứ 20, là người đầu tiên bị giết. Chiến dịch tàn khốc này đã kéo dài cả chục năm.  Hàng trăm văn nghệ sĩ bị bắt đi tù đầy, nhiều người không bao giờ trở về […] như học giả Hồ Hữu Tường, các nhà văn, nhà báo Nguyễn Mạnh Côn, Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, Trần Việt Sơn, Dương Hùng Cường...”

Xem thế, số phận của Vũ Hoàng Chương không hẳn chỉ là bi kịch của một thi sĩ, mà là bi kịch của một giai đoạn văn hóa Việt Nam bị đột ngột chém đứt ngang. Ông bị bắt vì ông đại diện cho một truyền thống văn chương Việt Nam lâu đời: tôn trọng tự do tinh thần, giữ gìn đạo lý, và dùng ngôn ngữ để soi sáng nhân tâm.

Trong lịch sử Việt Nam, những giá trị ấy luôn tồn tại – dù có lúc bị chèn ép, có lúc bị lãng quên. Nhắc đến Vũ Hoàng Chương hôm nay là nhắc lại một phần của bản sắc văn hóa dân tộc: văn chương Việt Nam không bao giờ hoàn toàn khuất phục trước bạo lực.

Tại sao chúng ta không nên lãng quên cái chết của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương và những người cầm bút Việt Nam khác, những người có cái chết tương tự như ông?

Nhớ đến cái chết của ông, trước hết, là nhớ đến một thời kỳ mà văn chương bị buộc phải im tiếng, và những giá trị tinh thần bị đẩy vào bóng tối.

Thứ hai, số phận của ông phản ánh bi kịch của trí thức Việt Nam trong thế kỷ XX. Thế kỷ XX của Việt Nam là thế kỷ của chiến tranh, chia cắt và những biến động chính trị tác động mạnh lên dòng sinh mệnh dân tộc. Trong những biến động ấy, giới trí thức – đặc biệt là những người giữ tinh thần độc lập – thường trở thành nạn nhân của lịch sử. Cái chết của Vũ Hoàng Chương nhắc nhở chúng ta rằng trí thức Việt Nam đã phải trả giá rất đắt cho việc giữ gìn phẩm giá tinh thần, và rằng tự do tư tưởng chưa bao giờ là điều hiển nhiên có sẵn cho chúng ta hưởng thụ.

Thứ ba, ông đại diện cho truyền thống “văn dĩ tải đạo” – tiếng nói lương tri của người Việt. Từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Du đến Nguyễn Khuyến, Nguyễn Đình Chiểu, Tản Đà, văn chương Việt Nam luôn gắn với đạo lý, với tiếng nói của lương tri. Vũ Hoàng Chương tiếp nối truyền thống ấy: thơ ông không chỉ đẹp mà còn chất chứa nỗi đau, sự khắc khoải và những suy tư về thân phận con người. Cái chết của ông là lời nhắc nhở rằng khi tiếng nói đạo lý bị bóp nghẹt, văn hóa dân tộc cũng bị tổn thương.

Thứ tư, cái chết của ông là minh chứng cho việc văn chương có thể bị bức hại, nhưng không thể bị tiêu diệt. Dù nhà thơ bị giam giữ, dù bị xem là “phản động”, thơ Vũ Hoàng Chương vẫn sống. Nó sống trong trí nhớ của người đọc, trong những câu thơ truyền miệng, trong sự kính trọng của giới văn nghệ sĩ và mọi người dân khác. Nhắc đến cái chết của ông là khẳng định rằng bạo quyền có thể cầm tù, bức tử một thi sĩ, nhưng không thể xóa bỏ linh hồn của thơ. Câu thơ “Thi thư dù lửa bạo Tần có thiêu” có thể xem là lời tiên tri của Thi sĩ Vũ Hoàng Chương.

Nhắc đến Vũ Hoàng Chương là nhắc nhở rằng văn chương, khi chân thật và đẹp đẽ, có thể vượt qua thời gian. Và hôm nay, khi chúng ta nhắc lại tên ông, đọc lại những câu thơ ông để lại, chúng ta đang tiếp tục hành trình mà ông đã khởi đầu, hành trình đi tìm cái đẹp trong một thế giới tàn bạo vô nhân tính.

Xin kính cẩn nghiêng mình trước vong linh Thi sĩ Vũ Hoàng Chương. Xin tri ân những gì ông đã để lại cho văn học Việt Nam. Và xin giữ cho ngọn lửa thơ ông tiếp tục cháy trong lòng mỗi chúng ta. Xin trân trọng cảm ơn quý vị.

Trịnh Y Thư