Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
nhala
Source: AI-Generated
 
Một truyện đầu văn nghiệp của “bà già trầu” Hồ Trường An (1966)
 
Trời vừa tắt nắng, Chú Chín Hạc vừa về. Sau khi cột chiếc xuồng vào chân chiếc cầu nhủi, chú vội khoe với bà Tám Vựa Lá ở nhà bên cạnh:

– Nè bác Tám, kỳ dỡ chà nầy, tui được nhiều cá he, nhiều tôm lắm nghe.

Bà Tám đội chiếc khăn bàng, xức thêm một chút dầu nhị thiên đường trên trán, mũi, và ở cổ (vì bà bị cảm), bước ra sàn nước, nói đùa.

– Sướng dữ he. Nè để cho tui ít ký ăn chơi, chú. Mà chú phải bán rẻ rẻ một chút. Cái bến của tui, chú không xin phép, xin tắc gì hết, tự tiện cắm chà. Rồi suốt theo dọc con rạch Long Hồ này, mỗi cái bến của lũ con, lũ cháu của tui chú cũng đem cắm chà ráo.

Chú Chín Hạc đùa:

– Coi, bà ho hen, suyễn tới suyễn lui ăn tôm làm gì cho quến đàm.

Vợ Hai Thạch, con dâu bà Tám nguýt:

– Thây kệ người ta. Đời sống mà chết thèm, chết lạt hoài chịu sao nổi. Bộ chú không chịu bán rẻ phải không?

Thiếm Chín ở trong nhà bước ra, sắc mặt bình thản trái với sự mong đợi của bà Tám và chú Chín.

Bà Tám liền hỏi:

– Bộ thiếm không mừng hả?

Thiếm Chín Hạc cười gượng:

– Mừng chớ. Nhưng mà, tui coi bộ bán mớ cá tôm đó bất quá vài trăm bạc là cùng. Lóng rày đồ ăn thức uống có mắc mỏ gì đâu?

Vợ Hai Thạch phân bua:

– Lúc này, tôm cá ê hề. Mà rủi quá, tui bị cảm luôn luôn. Đời người mà, ai biết được sống nay chết mai, hơi đâu mà kiêng mà cữ. Bởi vậy, hễ đêm nào ngủ, tui nằm chiêm bao, thấy vía của mình muốn ăn món gì là sáng ra tôi phải tìm món đó mà ăn cho được.

Chú Chín Hạc đem hai rọ tôm lên đưa cho bà Tám quan sát rồi nói:

– Kỳ này tôi trúng tôm càng thứ lớn.

Bà Tám thẫn thờ:

– Tôm kho tàu để dành ăn thì thấm miệng lắm.

Khi bà Tám bước vào nhà, vợ Hai Thạch cùn quằn:

– Cái thứ thằng cha Chín Hạc là cái thứ không biết điều gì ráo. Đáng lẽ nó phải tạ ơn cho má con mình một mớ nhắm cá cho phải điệu.

Bà Tám rót nước vào tô đá, uống một hơi rồi nói:

– Ối! Cầu cho nó bán rẻ cho mình.

Vợ Hai Thạch ngó xéo qua nhà Chín Hạc:

– Thằng cha đó là thằng điếm chứ phải chơi sao. Hồi tháng Ba năm ngoái, nó đặt dóc phóng ra một cái tin rằng trong mấy ngọn rạch ở cồn An Thành có một con sấu nổi lên. Báo hại thiên hạ không ai dám lội xuống rạch mò ốc gạo. Cho đến mùa ốc kỳ nầy, thiên hạ cũng chẳng dám léo hánh tới mương rạch. Thế là nó liền đem xuồng qua, lặn lội chỉ có một ngày mà kiếm đâu chừng năm chục lít ốc gạo mà ốc con nào con nấy mập tròn, Cái quân ăn ở bất lương thiệt mà.

Bà Tám phụ họa:

– Con còn nhỏ, con làm sao hiểu thấu lẽ trời? Cái thứ mưu thần chước quỷ, đá cá lăn dưa đó, có bươn chải tới đâu cũng chẳng giàu hơn ai. Trời ăn ở công bình lắm, con ôi! Con thử chống mắt mà coi, cách con vợ nó đối xử với nó. Con mẻ miệt thị chồng ngấm ngầm. Cái thứ đàn bà không nói không năng với chồng có khi cả ngày, đó là nó muốn lộn nài bẻ ống để bỏ nhau, nói cho con biết.

Vợ Hai Thạch cười mũi:

– Con mẻ ngán chồng như ngán cơm nếp nát. Vậy mà họ còn lòng dạ nào sống chung một nhà. Cái đó mới lạ cho chớ. Nếu không có con cái với nhau, chắc họ thôi nhau rồi.

Bà Tám yên lặng bỏ xuống bếp. Lửa trong lò đỏ rực. Nồi cháo heo to tướng đang sôi sùng sục. Đã từ một năm nay, bà Tám nhận thấy trong tâm hồn mình có một sự thay đổi lạ lùng, Sự sôi nổi dễ khích động hình như đã loãng đi nhiều. Trước kia, bà sẵn sàng tìm một đối tượng để mà yêu thương, giận ghét, ghen hờn. Bà sẵn sàng lao mình vào những cái lưới chằng chịt của tình cảm gay gắt rối ren. Những người chung quanh bà làm cho lòng bà bận rộn luôn. Bữa nay bà yêu mến người này vì họ có một vài cử chỉ tốt đối với bà, nhưng chỉ ít lâu, họ sẽ là một cái bia để hứng những cơn thù hằn xối xả của bà vì một chỗ sơ hở nào đó. Sự cãi vã, chửi bới lúc nào cũng niềm nở gọi bà dự phần vào. Lòng bà chỉ là một sợi tơ, mà những chuyện vặt vãnh sẵn sàng lay động nó.

Nhưng cớ sao gần một năm nay, bà cảm thấy sự mệt mỏi như đè lên cái háo chiến, háo thắng của bà. Mọi việc gì đến bà, cũng như một cơn gió lướt trên mặt đá cứng, rồi thoảng qua, không gây một ảnh hưởng cỏn con nào. Niềm chán ngán mênh mông như một lớp bụi trùng điệp, mù mịt rơi vào lòng bà, đẩy bà ra khỏi những sự trói buộc phiền toái của tình cảm đậm đà. Thỉnh thoảng, bà cũng ngạc nhiên về sự thay đổi đó, và nghĩ rằng mình sắp kề miệng lỗ. Tự nhiên bà cũng thấy hơi sợ hãi về cái chết.

Nhưng bà Tám, không hẳn là người hiền. Khi nào gặp một sự bất bình, chưa hẳn bà thoát khỏi cái móng vuốt của cơn phẫn nộ. Nhưng liền đó, bà chợt nghĩ tới cái bất hạnh nào đó của kẻ gây ra việc bất bình đó, rồi tự an ủi, rồi tự hả hê. Đó cũng là một sự rút lui hữu hiệu, một thái độ trốn lánh những chuyện bực mình.

Đã đến bữa ăn chiều rồi đây. Ngọn đèn dầu Hoa kỳ thắp sáng, soi rõ cái bàn tròn trần trụi gần bên khuôn bếp và cũi đựng chén. Ba cái chén đá tráng men màu trứng sáo, và ba đôi đũa tre đặt gần bên bày gần mép bàn. Mãi tới bây giờ, Hai Thạch, con trai của bà vẫn chưa về. Y có một sạp vải ở ngoài chợ Vĩnh Long. Cứ sáu giờ sáng là y đạp xe máy ra chợ, mãi tới tối mịt mới về.

Có tiếng cô Hai Tiểu Thuyết, cô bạn láng giềng của bà reo ở bên hè:

– Bà Tám, tối nay bà đi coi hát không?

Bà Tám mở cửa sau, để quay về hông nhà cô Hai, nói lớn:

– Thôi, đi làm gì cô. Coi hoài những thứ nịnh thần trong tuồng, mình mắc công giận, chớ có ích gì, còn gặp kẻ trung lương mà chịu hoạn nạn mình cũng mắc công thương xót.

Cô Hai mặc áo trắng, quần Mỹ A đen, õng ẹo đứng dưới cây trứng cá. Dưới chân cô, những cây môn kiểng hoang dại, điểm lấm tấm những chấm đỏ tươi hiện rõ giữa khung trời còn sáng. Cô Hai Tiểu Thuyết nói:

– Nằm nhà mãi sinh chán, tôi muốn giải trí một lần xem sao. Cái tuồng hát tối nay bi đát mà đầy ý nghĩa triết lý nữa.

Bà Tám nói vọng qua:

– Thôi, cô coi hát giùm tôi, nghen. Bữa nào rảnh cô thuật lại cho tui nghe. Mình già cả rồi, đi coi những tuồng tích có văn nói lắt léo, rằn ri nhức cả đầu.

Cô Hai đứng ngẩn ngơ dưới cây, tay vịn một nhánh mềm. Con chó Vện quanh quẩn bên cô. Sau lưng cô là một sợi dây kẽm căng từ kèo nhà đến cây trứng cá, phơi đầy những tà áo xanh đỏ, hoặc điểm bông hoa sặc sỡ.

Vợ Hai Thạch mở tủ đựng thức ăn, lấy dĩa cá Chim muối chiên đặt lên bàn, nói với mẹ chồng:

– Ở cái xứ này dễ dúng gì có cá chim mà ăn. Má con Ngọc Anh đi Trà Vinh mua rồi bán lại đó đa. Con mẻ bán mắc lắm. Giàu như con mẻ là giàu bỏn xẻn, keo kiết. Để rồi mà coi, chừng con mẻ chết không có hòm mà chôn. Đời thuở nhà ai, con mẻ cho vay ăn lời cắt cổ; nếu ai thiếu tiền tới kỳ chưa trả là con mẻ nhào vô nhà người ta xiết đồ đạc…

Bà Tám nhìn con dâu, hờ hững nói:

– Con nói phải lắm…

Sự thật, bà chỉ để ý hai câu đầu của vợ Hai Thạch. Mấy câu sau của thị như chuồi trơn trợt trên trí óc của bà rồi tan vào cái quên lãng mù mịt. Ít khi bà chú trọng lời lẽ của con dâu, một người đàn bà mồm mép dữ dội và tục tằn. Mỗi khi thị nói, nếu bà hỏi thử một vài điều, tức thì một cái thác nước của lời nói xối xả để xuống tai bà rần rộ. Vợ Hai Thạch có một sự liên tưởng hết sức phong phú. Một khi thị buông ra một câu chuyện, tức thời những câu chuyện khác nối đuổi theo cuống quít nhận chìm người đối thoại với thị vào cái ngột ngạt dài đăng đẳng.

Trời đã tối hẳn. Hai Thạch đã về. Chiếc xe đạp dựng ở hàng ba. Hai Thạch có một thân hình to lớn, hơi nặng nề. Gương mặt của y hơi trẹt, nhưng đôi môi của y gọn, liến thoắng rung động. Vừa bước vào nhà bếp, Hai Thạch liền báo tin:

– Nghe nói thầy giáo An ở trường làng mình tính đi hỏi con Ngọc Anh.

Vợ Hai Thạch trố mắt rồi nói một loạt:

– À, thầy giáo An đi hỏi vợ! Sao mình biết? Ai nói với mình? Cái thầy giáo An trắng trẻo, ốm ốm, cao cao, cái mặt buồn nghiến buồn ngầm suốt đời đó mà. Còn cái con Ngọc Anh có đẹp đẽ gì đâu. Nó ỷ học giỏi, học ở ngoài trường Trung Học Vĩnh Long, biết nói chữ Tây chút đỉnh nên nó khi thị thiên hạ như đồ xả rác. Tui coi bộ hai người không có xứng đôi đâu. Con Ngọc Anh tuy có gương mặt sáng sủa nhưng cao lớn, ô dề, kịch cợm lắm. Nó phải lấy Tây, lấy Mỹ mới coi vừa mắt thiên hạ. Mình có biết tại sao con Ngọc Anh không tới đây chơi với tui không? Tui vốn ghét cái thứ con gái nhà giàu ỷ tài, ỷ sắc, tôi…

Bà Tám bước trái ra sàn nước, không tham dự vào câu chuyện của con trai và dâu. Bà nhận thấy rằng mỗi khi vợ Hai Thạch say mê câu chuyện, thị có một gương mặt và thái độ khác, như một gương mặt của một người ngồi cốt bị một linh hồn khác nhập vào.

Cô Hai Tiểu Thuyết đã vào nhà, gỡ hết quần áo phơi trên dây kẽm. Chiếc cửa sổ mở rộng, bày một vuông ánh sáng vàng đục từ ngọn đèn khí đá hắt ra.

Có lẽ cô Hai đang dùng cơm trong nhà. Cô Hai Tiểu Thuyết mới dọn về đây hơn một năm. Không ai rõ chắc chắn gốc gác của cô. Mọi người trong xóm chỉ mang máng biết rằng, trước kia cô ở Ngã Tư Nhà Đài, con một ông Hội Đồng giàu có. Cô đến đây mang một chút phong độ quí phái, là cách ăn nói chậm rãi, văn vẻ, có thái độ nghiêm trang, hơi kiêu kỳ biệt lập, và sự say mê xem tiểu thuyết lu bù của cô nên mới có cái danh hiệu đặc biệt đó. Cô mở một tiệm hàng tạp hóa nho nhỏ, bán kèm thêm rau đậu và thịt heo. Con Sáu Kiểu là đứa em bà con của cô, kiêm người giúp việc cũng giống cô ở chỗ ăn nói văn vẻ theo lối văn chương người Bắc. Hai tiếng mà chị em họ thường dùng là “thảo nào” và “xoàng quá” để thay hai tiếng “Hèn chi” và “thường quá”. Bà Tám và vợ Hai Thạch không ưa cô Hai Tiểu Thuyết lắm, nhưng hơi nể cô vì cái quá khứ mù mờ của cô có vẻ quyến rũ và khả kính. Cả hai mẹ chồng và nàng dâu thường thêu dệt và tưởng tượng nhiều chuyện hay ho nhưng hơi hoang đường để thêm thắt vào chi tiết của đời tư cô Hai. Vợ Hai Thạch học hết ban Tiểu Học, nên thích lựa người bạn có đôi chút học thức để đánh bạn. Tuy đụng mặt cô Hai Tiểu Thuyết, thị tỏ vẻ cung kính lễ phép, nhưng sau lưng cô Hai, giữa đám đông toàn là đàn bà thị vẫn bị lôi cuốn vào câu chuyện nói xấu cô Hai. Có nhiều lúc thị lấy làm ngạc nhiên rằng lúc đó thị chẳng giận ghét cô Hai Tiểu Thuyết chút nào, nhưng giữa bọn đàn bà ngồi lê đôi mách, thị cần nói xấu một ai đó, để cho câu chuyện thêm đậm đà. Điều đó cũng như nhu cầu của một nhà văn gặp cảm hứng ồ ạt tới, còn phải tháo rút tư tưởng lên giấy trắng mực đen.

Bữa cơm chiều trôi qua. Ngọn đèn vàng vọt rọi một khoảng hẹp trong căn nhà vắng vẻ. Hai Thạch vận chăn tắm nằm ở võng đưa cọt kẹt, chị vợ ngồi ở hàng ba ăn mía.

Bà Tám đi đốt nhang cắm ở bàn ông thiên và ở bàn Phật. Không hiểu tại sao vào mỗi buổi chiều, bà cứ nghĩ đến những chuyện Niết Bàn, sinh tử? Bóng tối như một làn nước mênh mông xóa nhòa vũ trụ, và làm nổi lên trong tâm hồn bà những lo lắng vu vơ. Có nhiều đêm vùi đầu vào gối, bà tự nghĩ rằng ngày mai, bà còn có thể thức dậy để nhìn buổi rạng đông mát mẻ hay không? Hay đã đi vào vĩnh viễn trong một thế giới khác?

Hai Thạch tằng hắng rồi bảo vợ:

– Tui muốn đi thăm viếng ba má bên mình ít bữa. Năm này tháng nọ ngồi canh cái sạp vải hoài, mình muốn nghẹt thở. Vợ chồng mình chẳng có con cái chi, có làm thì phải có tiêu khiển với thiên hạ kẻo thiệt thòi.

Chị vợ tán thành:

– Lâu lâu mình cũng nên thay đổi không khí, kiếm kiểng vật lạ mà coi để cho trí óc thảnh thơi. Suốt năm, suốt tháng ở cái xóm hẻo lánh này mình tưởng chừng như bị đày ải gì đâu.

Hai Thạch nói:

– Tôi lựa mùa chim mới về dưới tía má. Cậu Năm em chú bác của mình có đủ cách gài bẫy chim, và cách bắt chuột đồng nữa.

– Về miệt Giáp Nước, Cái Ngang tha hồ mà nhậu; báo hại trở về đây mang bịnh ghiền cho coi.

Bây giờ là lúc vợ Hai Thạch bắt đầu trôi xa vào sự tập trung những hình ảnh của quê hương trong quá khứ. Nhưng thị không nói lên một tiếng gì. Bao nhiêu là mẩu chuyện vui buồn cuống quít đậu trên đầu óc thị, rồi múa may đến lảo đảo cả tâm hồn thị.

Phải có cái gì thay đổi trong cuộc sống như mỏi mệt trong cơn bệnh trầm kha này. Chính thị thỉnh thoảng bắt gặp mình có ý tưởng đó, nhưng rồi bao nhiêu công việc hằng ngày lặng lẽ xóa nó đi. Cứ mỗi buổi chiều, sau khi rửa chén dĩa, giăng mùng, giũ chiếu xong, thị bước ra hàng ba, ngơ ngẩn như ngóng đợi một cái gì… thật vô lý hết sức. Cuộc đời không phải chỉ gồm có một sự an ổn lười biếng kéo dài để dìm thị vào cái ngợp ngụa mênh mông. Bởi vậy, vợ Hai Thạch cần phải kiếm một ai đó để đặt tình cảm sâu đậm vào, nghĩa là sẵn sàng thương yêu ca tụng người nầy, thù ghét, hờn giận người kia. Thị quăng mình vào cái bẫy của những công việc hằng ngày, rồi giẫy giụa để xua đuổi cái chán nản về cuộc sống tẻ ngắt đi. Hình như nếu không nói chuyện với ai, khích bác kẻ vắng mặt thì cái ám ảnh đó sẽ đậu trên óc thị. Cuộc đời của người đàn bà dư dả, muộn con thật là trống trải, để cho thị phải múa may, độc diễn giữa biết bao sự vô ích không đâu. Phải chi thị có một đứa con? Ba năm chung sống với Hai Thạch, thị vẫn chưa có một triệu chứng nào về sự thụ thai. Một nỗi lo âu bắt đầu lay động thị vào câu nói bóng gió của bà Bang Biện Quí, má của Ngọc Anh thường đến thị trong những đêm thị mất ngủ: “Cây độc không trái, gái độc không con”

Bà Tám cũng bắt đầu nhắc nhở con dâu về chuyện nối dõi tông đường. Vợ Hai Thạch bướng bỉnh cãi lại rằng nếu phần số Hai Thạch không con thì dù có ăn ở với người đàn bà khác cũng không con như thường. Nếu gặp lúc bà Tám còn đang bồng bột với cuộc đời, chắc chắn sẽ có cuộc cãi vã kịch liệt giữa mẹ chồng và nàng dâu. Nhưng bây giờ, bà Tám như muốn đứng ra ngoài cuộc đời, và có cảm tưởng mình đi sâu vào đời sống an lành vĩnh viễn ở bên kia thế giới… và nhờ đó, vợ Hai Thạch tha hồ giảng giải tiền kiếp, nhân quả để xóa mất chuyện muộn con của mình.

Từ hai năm nay, bà Tám không làm nghề vựa lá lợp nhà nữa. Vì tiếp xúc với bụi và phấn dính trên lá chằm thường xuyên nên bà thường bị suyễn – những cơn suyễn mệt nhọc thứ điều đứt hơi thở. Thuở còn trẻ, bà Tám chằm lá mướn có tiếng là giỏi. Mỗi ngày, bà có thể chằm lối ba trăm tấm. Bởi vậy, từ trong Lộc Hòa, bà phải bơi xuồng vượt qua lối ba chục cây số, đem theo gạo muối, củi, nước mắm, mùng chiếu để đến Cầu Dài chằm lá mướn từ tháng này qua tháng nọ.

Cuộc đời đưa đẩy bà có một số vốn nho nhỏ, để mở một trại vựa lá ở bên dòng rạch Long Hồ. Rồi bà có chồng, rồi Hai Thạch lớn lên. Cuộc đời của bà kéo dài bên dòng nước trôi chậm rãi, lờ đờ, một cuộc đời ít khi bà nghĩ đến một sự thay đổi cỏn con và thản nhiên nhìn mình hoạt động trong đó và tàn tạ trong đó.

Hôm nay, nghe vợ chồng Hai Thạch muốn thay đổi đôi chút cái không khí ở khung cảnh khác, bà chợt nghĩ đến cái chết. Cái chết đã ám ảnh bà từ một năm nay, có phải chăng là một sự thảnh thơi hay chỉ là một nơi đem sự cô độc phủ trùm lấy bà? Bà cũng đọc kinh, niệm Phật, ăn năn sám hối để tìm sự bình tĩnh cho tâm hồn… Nhưng, bà vẫn hoài nghi rằng có Thượng Đế, có sự trừng phạt hoặc cứu rỗi hay không. Thỉnh thoảng, bà Tám ngạc nhiên là tại sao bà có những tư tưởng và thái độ như thế. Cái ý nghĩ về cái chết có thể dao động tâm hồn bà, và đem lại bà những tư tưởng và thắc mắc đầy ăm ắp như thế sao?

Vợ Hai Thạch ngáp một tiếng lớn, rồi bảo chồng:

– Buồn thấy mụ nội đây!… Công việc nhà chẳng gì là bề bộn. Hết lo buổi cơm sáng lại lo buổi cơm chiều. Thét rồi, em cứ tưởng cái xóm này như chốn khỉ họ cò gáy miệt Cà Mau, Năm Căn.

Hai Thạch lại nói:

– Tui muốn nghỉ xả hơi một đôi ngày. Hồi chưa có cưới mình, tôi giúp việc cho thằng Chệt chủ tiệm Chánh Ký. Tui lãnh phần đi bỏ mối cà phê và trà hộp ở những vùng Phú Quới, Cầu Vỹ, Mai Phốp, Vũng Liêm, Giồng Ké. Đi đây đi đó tuy có cực mà vui biết chừng nào. Bây giờ tui bó gối ngồi sạp vải nghĩ cũng tù túng.

Chị vợ cười ngao ngán:

– Em muốn trở lại nghề làm bánh phồng tôm. Lúc chưa có sanh đẻ, tại sao mình không tìm cách kiếm tiền? Có việc để làm, mình cũng nguôi ngoai cái nhàm vơ vẩn. Em có biệt tài làm bánh phồng cá nữa; bánh phồng cá của em không tanh tanh như của thiên hạ, ăn vô một miếng nếu đừng để ý thì thiên hạ tưởng như ăn bánh phồng tôm vậy.

Hai Thạch nói:

– Hồi còn con gái, em có xuống miệt An Nhơn Vũng Liêm học cách làm nem mà. Nếu em chịu khó làm hai thứ nem và bánh phồng tôm rồi đếm cho mấy người bán lẻ ở “bắc” Mỹ Thuận, cũng kiếm bộn tiền chứ phải chơi sao.

– Em muốn làm ăn lắm chứ, nhưng mà…,

Giọng vợ Hai Thạch trở nên nũng nịu hơn:

– Tại mình ghen bóng ghen gió, không chịu để cho em bươn chải ở ngoài đời. Trời ơi! Cứ dú em như dú chuối như vậy chắc em mục xương mục cốt.

Hai Thạch véo vào má vợ rồi bước lại bàn rót nước uống. Chị vợ lại ngáp rồi đi ngay vào buồng gói. Bà Tám khi niệm kinh, bước lại sửa mấy cái bông vành vành trắng nuột cắm trong lọ sành đặt trên bàn Phật. Hai Thạch nói với mẹ:

– Cái chái lá để dựa lá chằm đó, bây giờ nên dỡ đi để trồng rau, hoặc dùng nó để vựa củi. Chớ để trống trải như vậy hoài, con thấy bất tiện quá.

Bà Tám nói:

– Tùy con. Má đã già rồi, tính toán không ra việc gì hết. Má cũng muốn trồng ít cây liếp huệ để có bông cúng Phật.

Hai Thạch vươn vai, ngáp. Có tiếng khua động của chị vợ ở trong buồng. Đêm yên lặng trôi tới và bắt đầu vào khuya. Dưới sông, nước vỡ long bong vào chân sàn. Tiếng tàu xà lan chạy sình sịch. Sự yên tĩnh quen thuộc như đè nặng tâm hồn mọi người. Có nhiều đêm, có một vài tiếng động khác, như tiếng ca vọng cổ của một người chèo ghe thương hồ vẳng lên, khuấy động ý nghĩ mọi người. Hai Thạch mới chợt tự hỏi, cuộc đời chỉ có một sự thay đổi nhỏ nhặt, vô ích như vậy sao? Và cái xóm cách xa tỉnh lỵ lối năm cây số có vẻ tiêu điều mòn mỏi trong cái bình thản như vậy hay sao? Sự khuấy động đó, thật sự, tuy nhỏ nhặt vô ích, nhưng đưa cho y một cái băn khoăn vô lý và làm cho y đối diện cả một chuỗi sinh hoạt lặng lẽ, nhạt nhẽo của y từ ngày này tiếp nối qua ngày khác.

Bà Tám bước lại võng đưa tòn teng. Tiếng võng nghiến ngẩm, chậm rãi, đu đưa y vào một cái tẻ ngắt. Đi ngủ thôi. Sáng ra, chắc chắn y sẽ quên tuốt những ý nghĩ phiền muộn đêm nay, nhưng tới chiều mai y sẽ trở lại cái cảm giác chiều nay.

*

Giấc mơ ngắn ngủi vừa cắt xén lại một mẩu đời. Hai Thạch vụt thấy mình trở lại quãng đời mà y đã theo đuổi sự học ở trường Cao Tiểu Cần Thơ. Thuở đó, sau cái chết của Trần Văn Ơn, học sinh âm thầm hoạt động làm biểu tình và bãi khóa. Trong lớp không lúc nào ngớt cuộc bàn tán về thái độ của chính phủ Trần Văn Hữu. Từng loạt truyền đơn thỉnh thoảng cứ tung ra, trắng xóa mấy dãy bàn ghế. Hai Thạch bị lung lay giữa cuộc dao động sôi nổi đó. Y cùng một lũ bạn bè mở cuộc liên lạc với công tác thành. Ba Thiết, em trai của y cũng bỏ học, nhưng không mảy may bị chi phối bởi cơn biến động của lịch sử. Tên này chỉ hì hục bài bạc và ăn nhậu.

Thuở đó, tâm hồn Hai Thạch rung động với một cuộc kháng chiến được thi vị hóa rải rác trong các quyển tiểu thuyết của Vũ Anh Khanh và Lý Văn Sâm. Sự trang sức trên thân thế của y là một cuộc đi kháng chiến. Một buổi sáng nọ, y thu xếp những bộ quần áo vải ú đen, một tube đựng ký ninh và đựng thuốc kiết vào va li rồi đi xe xuống quận Ô Nam cách châu thành Vĩnh Long chừng 15 cây số. Ở đó, người chị họ sẽ đưa y vào khu Tám. Cái hình ảnh một đêm mưa tầm tã mà y phải lội qua một cánh đồng loáng nước rộng mênh mông. Mưa xối từng cơn rần rộ, xóa nhòa ánh đèn rải rác trong thôn xóm. Cơn sốt bừng bừng sưởi đốt trong cơ thể y, nhưng cái thi vị lẫn kiêu hãnh như xóa nhòa thực tại. Y ngước lên trời cười cảm khái như một anh kép hùng của màn bạc. Đây chỉ là giai đoạn đầu.

Nhưng cái thi vị đó mòn mỏi rồi tắt dần vào cuộc đời đi theo kháng chiến gian nan.

Y chẳng bao giờ quên cuộc đời âm thầm di chuyển từ cơ quan này qua cơ quan nọ, những bữa cơm kham khổ, những đêm thức suốt sáng theo bộ đội qua những khúc sông, sóng gió hãi hùng. Và một buổi chiều, khi ngồi trước sàn ở nhà một bà mẹ chiến sĩ, y vụt ngáp liên hồi, nước mắt ứa ra cùng với sự chán ngán mênh mông. Y đi quá xa và thi vị đã tắt rồi. Hai Thạch vụt nhớ lại những nhân vật trong một phim đã xem phỏng theo quyển… của nhà văn Đức. Y cũng như những nhân vật đó, muốn làm một cuộc du lịch hào hứng trong cơn biến động của đất nước, và thực tế đã trả lời một cách hùng biện cái giá trị của một cuộc kháng chiến kéo dài.

Rồi đó, Ba Thiết cũng đi vào biên khu. Được hai năm, tên này bị giết vì cuộc âm mưu làm gián điệp cho thực dân bị phát giác. Trong thời gian đó, ông Tám bỏ đi buôn bạc giả có in hình ông Hồ Chí Minh, bị quản thúc ở Hóc Hỏa thuộc vùng Hỏa Lựu, rồi chết vì bị đau gan không có thuốc men.

Chỉ có bà Tám ở lại ngoại ô là bị thiệt thòi nhất. Thương nhớ hai con, bà hết lòng giúp đỡ bọn công tác thành, săn sóc họ từng miếng ăn, manh áo. Nhưng khi bọn này bỏ kháng chiến, trở về làm “bao bố” nhìn mặt cho Tây, bà bị chúng bắt để điều tra và bị giam cầm mấy tháng…

Giấc mơ lộn xộn đầy hình ảnh hào hùng lẫn bi đát kia loãng dần. Hai Thạch tỉnh dậy, đầu óc căng thẳng. Trong đêm khuya, tiếng khua động của bà Tám ở nhà ngoài và tiếng nghiến răng của bà vợ ở bên cạnh như đánh thức y một sự thật trắng trợn. Cuộc đời an lành quá, lịch sử bỏ rơi y hoàn toàn.

Biết rằng không thể ngủ được, Hai Thạch bước ra buồng. Đêm không trăng. Những khuôn cửa sổ mở rộng để lồng một khung cảnh mù mờ, nhờn nhợt bên ngoài. Tiếng sóng chậm rãi vỗ vào bờ và vào chân sàn. Rải rác trên sông, xuồng cầu tìm đốt đèn leo lét rồi lẩn khuất trong màn sương xám. Ánh đèn, tiếng sóng như khuấy động vào y một sự chới với mơ hồ. Dĩ vãng sống động lúc đầu rồi đưa y vào cảm giác rời rã, tê liệt lúc sau, cũng không xa lắm, nhưng y có cảm tưởng mình rời một cứ điểm rồi chạy một cách mù quáng trên một suốt đường dài. Bây giờ y dừng lại, hoảng hốt, xúc cảm. Rồi! Cuộc đời hiện tại là một cuồng lưu đã cuốn trôi máu nhiệt thành và ác mộng buổi trước…

Hai Thạch bước lại cửa sổ, loay hoay với một chuyện cỏn con nào vừa chợt xẹt qua đầu óc mình. Những ngọn cau như bất động trong gió đêm. Nền trời yên tĩnh như sà xuống thấp. Hai Thạch có cảm tưởng mình đứng giữa chòi hoang. Tiếng ngáy của cô vợ và tiếng mơ của bà Tám trong yên lặng có vẻ trơ trẽn…

…Mình ở giữa một chòi hoang, đúng rồi! Cách đây sáu năm. Thật là lố bịch! Hai Thạch nghe như có tiếng chế nhạo từ một biến cố xa xưa dội lại.

Y không có một ý niệm gì rõ rệt về chủ nghĩa Cộng Sản và cũng không hề gia nhập vào Đảng vì tất cả đối với y đều hoang đường. Vì chịu không kham với những cuộc bố ráp thường xuyên, Hai Thạch muốn trở lộn về thành thị. Nhưng thật sự, y cũng không can đảm ra đầu thú với chính phủ Thực Dân. Tự ái không cho phép y hành động sự khiếp nhược lộ liễu đó. Cần phải ngụy trang sự nhát gan của mình bằng một cái gì thi vị hơn. Lợi dụng chứng bệnh tim, dầu là chỉ bị nhẹ thôi, Hai Thạch xin Thượng cấp cho mình về Hóc Hỏa, trong một cái chòi hoang. Cuộc đời đó an lành quá cũng đến chán ngán. Chòi nằm giữa đồng lộng, gió lộng tơi bời. Ở đó, y đốt đèn viết truyện làm thơ đăng trong các báo Kháng chiến in bằng thạch bản. Trong thơ, trong truyện y tha hồ kêu gào sự thất bại của mình trước bịnh tật, để y không hoàn thành sứ mạng của mình. Rồi đó, y gia nhập phong trào văn nghệ đề cao Nông dân Chủ nghĩa, chuyên sản xuất những loại thơ văn vắt khô cả tình cảm và sinh khí để ca tụng một cách máy móc Chủ nghĩa đó. Bao nhiêu công việc kể trên vừa che lấp cái mặc cảm hèn nhát của y, thì văn nghệ thuộc phái đề cao Nông dân chủ nghĩa bị nhà thơ T. H. đả kích và trở nên mất tín nhiệm trong hàng ngũ kháng chiến. Nhà thi sĩ đó viện cớ rằng bài “Em ơi! đợi anh về” của một thi sĩ Nga cũng biểu dương sự xây dựng như thường, mà nó vẫn súc tích biết bao tình cảm chan chứa và đôn hậu…

*

Hai Thạch chợt nghe một loạt sóng ào ào cuốn qua, rồi lắng xuống. Trời nực, im gió. Sự lặng lẽ rơi một cách đột ngột. Y thèm một tách cà phê vào giờ này. Có một sự bứt rứt vu vơ gì dềnh lên rồi lả tả rơi xuống. Hai Thạch không muốn xuống bếp, lúi húi pha cà phê bằng nước được giữ nóng đựng trong bình thủy. Cơn thèm thuồng dịu lần, và cơn lạt lẽo cũng tăng dần làm y cảm thấy đắng cả miệng.

Y trở về những ngày sống ở chòi hoang, sau phong trào văn nghệ Nông dân chủ nghĩa bị đè bẹp. Y cảm thấy mất hết tất cả rồi. Thiên hạ đã bỏ quên y thật sự rồi. Ý muốn trở về đầu thú cứ lởn vởn trong óc y và hành hạ y từng đêm. Rồi đó, để giết thì giờ y mon men qua Sóc Xu, gạ gẫm một cô gái Miên và hứa cưới thị ta làm vợ bé. Người vợ ở xa chưa đến chòi hoang thăm y lần nào. Sự sống thiếu thốn xúi y nghĩ tới món ngon, rượu và gái. Suốt ngày y hì hục cuốc mấy vồng khoai để tự túc, và nghe cơ thể của mình thiếu chất đường. Có cả buổi trưa, y qua bên kia chân vườn xuyên qua một cánh đồng nắng chang chang để kiếm mua mía. Sau đó y rút trong túi vải một tube thuốc ký ninh để đổi một chén đường. Tới bây giờ y không hề quên thứ đường sền sệt màu nâu đỏ còn giữ nguyên vẹn mùi mật mía do dân vùng đó chế hóa bằng phương pháp thô sơ. Rồi đó, cuộc đi điều trị bịnh ở Sóc Xu của y khởi đầu sự dan díu giữa cặp Miên-Việt. Hai tháng sau, người vợ ở Cầu Kè thuộc tỉnh Vĩnh Long hay tin được làm rùm lên, và hăm he đốt chòi để “rô ti cái con điếm lậu” đã làm cho thị mất ngủ mấy đêm.

Hai Thạch mỉm cười trong bóng tối, y có cảm tưởng mình lúc nào cũng độc diễn một màn hài hước lố lăng trên tấm phông ảm đạm của cuộc đời. Mộng tưởng vu vơ đã đưa y làm những việc rối ren, vô tích sự. Y vụt xòe bàn tay rồi tìm đến ngọn đèn chong. Đường trí đạo của y quá dài chìm khuất gò thái âm. Đó là dấu hiệu của kẻ có đầu óc bị chìm đắm trong thế giới mộng tưởng quàng xiêng.

Tiếng nước vẫn đều đều chảy xiết dưới chân sàn. Một cơn gió bất chợt lướt qua các ngọn dương ở cuối sân đình bên kia sông rồi vọng lại. Gần sáng rồi. Ngày mai y sẽ ngồi lại sạp vải giữa tiếng huyên náo của khu chợ. Cuộc sống nhỏ nhoi, âm thầm như một loài nấm mốc trong bóng tối.

Người vợ trăn trở, càu nhàu. Miệng thị mím lại có vẻ khắc nghiệt và trong bóng mờ của ngọn đèn chong, gương mặt thị sưng lên như sau lúc khóc lóc giận dỗi. Người vợ này đã sống với bà Tám suốt khoảng thời gian y như kháng chiến. Thị có tánh bươn chải, đi nhảy dù (tức là đi bờ lờ, buôn lậu) trong các vùng kháng chiến. Thị mua thuốc ký ninh bỏ vào trong các thùng đựng đậu xanh, các loại thuốc tiêm trị rét trong những lọ mắm để qua mặt các lính Partisan ở đồn bót. Rồi đó, thị mua vải xồ đóng dưới lườn ghe để đi bán cho nông dân các vùng Phong Điền – Long Mỹ. Nhờ vậy, trong khoảng thời gian ở Hóc Hỏa, Hai Thạch có đủ thuốc hút hiệu Con Mèo, hiệu Lạc Đà, cùng bơ sữa, cà phê như một ông công chức ngoài thành và không còn làm nghề tiêm thuốc cho các dân chúng ở các vùng lân cận. Y thảnh thơi ngồi ở chòi đọc lại các quyển tiểu thuyết của Maxime Gorki, chứ không còn lặn lội qua các cánh đồng nắng chang chang để đi trị bệnh cho dân quê bằng một môn kinh nghiệm y học Thái Tây mà y học lóm trong các sách.

Cuộc thất trận của quân đội viễn chinh và hiệp định Genève chấm dứt cuộc sống ẩn dật của Hai Thạch. Y trở lại xóm Cầu Kè, âm thầm ngơ ngác, rồi nhận lấy nghề bán vải. Người vợ thỉnh thoảng thắc mắc trước sự xuề xòa dễ dãi cùng sự tự mãn của chồng. Y vui vẻ sớm đi tối về, thảnh thơi bơi lội giữa một quãng thời gian êm đềm. Không bao giờ y nhắc lại một thành tích gì ở cuộc đời vừa qua. Bây giờ y lại thích uống rượu, thích đọc tiểu thuyết kiếm hiệp vặt. Thỉnh thoảng y làm thơ rồi vứt bừa bãi ở kệ sách, không buồn xem lại. Người vợ vốn tò mò, muốn dò la tâm trạng của chồng. Thị thu nhặt những bài thơ đó rồi đọc lại cố tìm một dấu vết tình cảm nồng nhiệt của y về cuộc chống thực dân. Nhưng thất vọng thay, những bài thơ đó chỉ là những câu bỡn cợt tục tằn được diễn tả bằng vần điệu để trêu ghẹo các cô hàng vải ở các sạp kế cận của y. Hai Thạch cũng không buồn lấy hài cốt của ông Tám hiện đang chôn ở Hóc Hỏa về cải táng ở phần đất hương hỏa của y. Bà Tám thường nhắc nhở con về việc đó, nhưng y viện cớ là chưa đúng năm tốt, và chưa tìm được huyệt để sau này con cháu y sẽ phát tài.

… Đêm khuya yên lặng, như một bàn tay bóc hết những phiền toái vặt vãnh hằng ngày để lôi những cặn bã của ký ức ra ngoài. Cuộc sống là thế nào? Hai Thạch chua chát, muốn ứa nước mắt khi ngẫm nghĩ đến mình bị lừa phỉnh không phải chỉ bởi lịch sử mà chính tại mình. Bây giờ những biến động nhỏ nhặt êm đềm lẩn khuất vào cuộc sống hằng ngày của y, một cuộc sống trôi đi một cách mù quáng.

*

Hai Thạch vừa về. Trời tối, đèn vừa mới đốt. Y đi đánh bài tận Cái Sơn Lớn từ xế tới bây giờ. Chắc có lẽ y “đứt chến” sớm, nên gương mặt của y nguội ngắt. Vợ Hai Thạch nguýt chồng một cái, rồi bước ra mỉa mai, nhái theo giọng Đắc Kỷ trong Gươm Lục Yểm.

– “Muôn tâu bệ hạ, vừa trông thấy bệ hạ nhập thành thì lòng thiếp vui mừng khôn xiết kể. Chẳng hay trận tiền đối chiến với Châu Binh thẳng bại lẽ nào vậy a bệ hạ?”

Mặt Hai Thạch xụ xuống:

– ĐM… Ai chơi bài bạc gì đâu mà trở giọng mắc mỏ?

Chị vợ trề môi rồi đi vào bếp, bưng mâm cơm ra. Lại một buổi chiều! Bà Tám lại chơi vơi vào trong ý nghĩ chết chóc. Người vợ lặng lẽ nhìn chồng. Hai Thạch ngáp lơ đãng, lắc đầu như xua đuổi một ám ảnh nào đó. Con mèo sà vào lòng y, rên ấm ứ, nhõng nhẽo. Bà Tám ngồi vào bàn bới cơm và hài lòng nhìn tô canh rau, rồi bảo con:

– Vợ chồng ăn ở với nhau, cốt sao giữ cho đề huề, hiệp ý. Lý đâu cỏn vừa nói mắc mỏ; thì mầy chửi thề. Tao chẳng còn sống bao lâu, chỉ muốn thấy chút cháu nội cho vững bụng. Nghe cô Hai nói người chị bà con của cô lấy chồng được tám năm mà chẳng có bầu. Chị ta đi đốc tưa chữa trị sao đó mà bây giờ sòn sòn đẻ mỗi năm một đứa, mà đứa nào đứa nấy mập tốt ghê… Vậy, đâu mầy dắt vợ mầy đi tìm ông đốc tưa ấy coi ra sao?

Vợ Hai Thạch cay đắng:

– Thôi, đi làm chi! Tiền bạc đâu mà đua đòi con cái. Má cứ để thiên hạ xiên xỏ tui, nói rằng cây độc không trái, gái độc không con…

Mặt thị lạnh và như sưng lên. Hai Thạch e dè nhìn vợ. Người vợ được trớn kể lể:

– Anh bài bạc, lêu lỏng hoài, lấy tiền đâu mà nuôi con? Má còn ham cháu nội làm chi? Nếu tui có đẻ chắc là mẹ con bà cháu ôm nhau chết đói..,

Hai Thạch chỉ tay lên trời:

– Tui mà có đi đánh bài cho trời đánh tui đi, chút nữa tui sẽ nói cho mình nghe… Người ta lo muốn chết đây nè.

Bà Tám can:

– Thôi! chồng con nó thề như vậy con phải tin. Năn nỉ ỉ ôi cho mát lòng mát dạ thiên hạ thì khó, chớ cà khịa làm bực mình người khác thì dễ ợt hè.

Bóng đèn đêm vàng vọt. Bà Tám uống xong tô trà huế rồi sửa soạn đốt nhang, rót nước cúng Phật. Sự giao động trong gia đình chỉ gợn cho vợ Hai Thạch đôi chút bực dọc phù du. Cái tẻ ngắt lại quen thuộc bao phủ mọi người. Hai Thạch than trời hôm nay nực, đi tắm, rồi chỉ mặc cái chăn choàng tắm. Người vợ len lén nhìn về phía người chồng. Bụng của ảnh bắt đầu bự rồi. Ảnh sắp già rồi! Cuộc đời biếng nhác trôi qua ghi lại một biến động thô tục nơi đó, nụ cười ngao ngán của thị như treo lơ lửng sau một cái ngáp dài. Hai Thạch nhìn vợ, lao đao rơi trong cơn nghi hoặc lấn một mặc cảm khó hiểu vừa bốc lên đầu.

Tiếng đọc kinh của Bà Tám nổi lên đều đặn, kéo dài thẽo thợt. Các thế giới u trầm của bà sắp lấn vào các thế giới người đàn ông lớn tuổi đã từng làm lịch sử…, bây giờ mệt mỏi trở về sống mòn mỏi, lười biếng trong quãng thời bình. Hai Thạch rủ rê:

– Vào đây, anh nói cho em nghe.

Chị vợ phụng phịu, cầm ấm nước châm bình trà rồi ngâm những mảnh cau khô trong cái chén kiểu đựng nước nóng để chút nữa, khi bà Tư đọc kinh xong sẽ thẻ cau tươi mà ăn trầu.

Hai Thạch vào giường vừa nằm vừa hút thuốc. Chị vợ bước vào ngồi ở mép giường rồi hỏi:

– Chuyện gì?

Hai Thạch thong thả:

– Anh vừa gặp anh Bình Sơn, người bạn thân của anh hồi ở khu Chín. Anh ấy đã vào đảng từ năm 1950.

Chị vợ sợ sệt:

– Rồi sao?

– Ảnh không chịu đi tập kết. Ảnh rủ anh âm thầm hoạt động trở lại.

Mặt của vợ Hai Thạch tái đi. Chị im lặng suy nghĩ rồi hỏi:

– Anh nghĩ sao?

– Anh từ chối em à.

Vợ Hai Thạch nhìn vào cái bụng nhão nhẹt của chồng. Cuộc đời êm đềm hưởng thụ đã cắt đứt y và quá khứ rồi.

– Có được không anh? anh Bình Sơn nghĩ sao?

– Anh không biết… Nhưng anh có được vào đảng đâu? Em của anh làm gián điệp cho phòng nhì của quân đội viễn chinh bị giết chết. Ba của anh vì mắc vụ lôi thôi trong vụ buôn giấy bạc cụ Hồ bị quản thúc ở Hóc Hỏa rồi chết vì bệnh đau gan. Anh bị họ nghi kỵ đủ điều. Chuyện buồn đó đã qua rồi, anh mệt mỏi lắm em à.

– Anh nghĩ vậy rất hợp ý em. Chúng ta còn gì mà tham gia nữa chứ. Cái chuyện lý tưởng bây giờ mù mờ lắm. Mấy năm giặc giã bà già cực khổ lắm rồi. Anh cũng nên nghĩ lại thương má.

Người vợ lặn ngụp trong cơn lo lắng vu vơ.

– Anh từ chối, anh Bình Sơn có hăm he gì không?

– Không… nhưng anh khó đoán được ý của ảnh.

Người vợ ôm đầu nghĩ ngợi. Hút xong điếu thuốc, Hai Thạch lăn trở một lúc rồi ngủ, ngáy lãnh lót. Người vợ nhìn chồng. Hết thật rồi! Con người này không còn muốn dính líu với cuộc đời phiền toái nữa. Sự êm dịu, tẻ ngắt khỏa lấp lên nhiệt thành thời niên thiếu của hắn rồi.

Lịch sử đổi qua một bình diện khác. Người đàn bà bằng lòng lắm. Cuộc đời làm vợ một người đi theo kháng chiến cũng làm cho thị mệt chán rồi. Đối với thị các khuynh hướng chính trị đều mờ mịt vô nghĩa. Chồng chị đã tham gia kháng chiến. Thị ở lại hậu phương mỗi tháng đóng 10 đồng tiền nguyệt liễm cho bọn công tác thành, gọi là góp phần giúp đỡ phe kháng chiến. Cuộc đời đó chỉ đem lại cho thị sự chờ đợi, sống bằng hồi hộp khắc khoải.

Vợ Hai Thạch nhìn lại chồng. Y đã ngủ say. Kỳ lạ! Con người này sao mà trơn tru, hồn nhiên đến như vậy? Cái bụng chang bang của y trồi lên hụp xuống theo nhịp thở như đâm vào tâm trí thị một mũi dao lạnh ngắt.

Còn đâu là cái con người mà thị đã từng xao xuyến, ước ao? Con người đó, thuở yêu đương gắn bó đã khoác một dáng dấp hào hùng, bây giờ là thời thế lừa đảo đành buông xuôi theo sự hưởng thụ vô bổ. Thị thương hại, muốn khóc cho một cuộc đời tàn tạ tất cả ước vọng…

Đêm phủ êm đềm. Tiếng dép lệt sệt của bà Tám ở nhà ngoài chìm trong tiếng xay lúa ở nhà chín Hạc vọng qua. Từng đêm bình thản kế tiếp nhau, xóa nhòa từng cuộc đời…

Vợ Hai Thạch đưa tay sờ bụng, bắp thịt bụng của thị cũng nhão… cái già đã tới với thị một cách hỗn hào, xấc xược thế sao?

Thốt nhiên thị nghĩ tới một đứa con, chỉ có nó mới có thể đem lại cho thị một chút an ổn trong tâm hồn.

Hồ Trường An

(Bách Khoa số 223 ngày 15-4-1966 & 224 ngày 1-5-1966)
 
 
 

Tìm các bài VĂN khác theo vần ABC . . .