User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
benmylangconlanhbenmylang
 
I. Bến Là Nơi Xuất Phát Và Bến Cũng Là Chốn Quay Về
 
Bến là gì? Bến là nơi dừng. Bến là nơi đậu. Bến là nơi xuất phát và bến cũng là chốn quay về.
 
Đưa người đi, người ta cũng ra bến. Đón người về, người ta cũng cứ bến mà ra. Thành thử, mới có bến tàu, bến sông, bến phà, bến xe, bến chờ, bến đợi.
 
Ngày còn bé, tôi chỉ mê bến Bạch Đằng. Cứ nghe được cho ra bến Bạch Đằng chơi là sướng rên mé đìu hiu. Bến sông mát rượi, rồi những con tàu khổng lồ, dập dìu sóng nước, giữa một vùng trời mây bát ngát, tươi trong.
 
Còn trẻ, thì người ta thường ví mình như cánh buồm, như con thuyền, rẽ sóng ra khơi. Chân mỏi rồi, trong người nghe mệt rồi, thì người ta lại chỉ cần thú ngao du, cũng sông nước đó, nhưng không đi nữa, mà ngừng lại, mà dừng lại.
 
Không cần thuyền to, không cần gió mạnh, sóng dữ, cá kình, biển khơi, chỉ như thế này thôi cũng đủ: ao thu lạnh lẽo nước trong veo / một chiếc thuyền câu bé tẻo teo / sóng biếc theo làn hơi gợn tí / lá vàng trước gió sẽ đưa vèo / tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt / ngõ trúc quanh co khách vắng teo / tựa gối ôm cần lâu chẳng được / cá đâu đớp động dưới chân bèo (Thu Điếu - Nguyễn Khuyến).
 
Dù chỉ là ao thu, dù chỉ là chiếc thuyền câu bé chút xíu, dù chỉ là làn sóng biếc, dù chỉ dăm chiếc lá vàng nhè nhẹ bay bay, nhưng ít ra, người “câu cá mùa thu” vẫn đẫm chất lãng mạn - tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt / ngõ trúc quanh co khách vắng teo. Thú tiêu khiển tuy mộc mạc, nhà quê nhưng lại tao nhã, thảnh thơi, thơ thới vô cùng - tựa gối ôm cần lâu chẳng được. Và niềm vui tuy đơn sơ, nhưng nhàn nhã, ung dung - cá đâu đớp động dưới chân bèo.
 
******
II. Bài Thơ Bến My Lăng Của Yến Lan
 
Thời thế nào cũng chất ngất nỗi niềm. Thế kỷ thứ mười chín của Nguyễn Khuyến thì đi tìm chốn tạm dung cho mình bằng cần câu, con cá, vũng ao. Sang đến thế kỷ hai mươi, Yến Lan, chỉ mới mười sáu, mười bảy tuổi thôi, đã hóa mình thành ông lái đò với bao niềm tâm sự. Là tôi hôm nay, muốn nhắc đến bài thơ mang mang phong vị cổ, Bến My Lăng của Yến Lan.
 
Bến My Lăng
 
Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn để gió lén mơn râu
 
Ông không muốn run người ra tiếng địch
Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao
Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao
 
Trôi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh
Tơ vương trời, nhưng chỉ giải trăng trăng
Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh
Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng
 
Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi
 
Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng
 
Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
 
******
II.1. Bến My Lăng Nằm Không, Thuyền Đợi Khách
 
Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách
Ông lái buồn để gió lén mơn râu
 
Bến My Lăng nằm không, hiu quạnh, và trên chiếc thuyền, người lái đò đang một mình, cô đơn đợi khách, giữa dòng sông mênh mông, trống trải.
 
Chỉ với hai câu thơ đầu tiên trong khổ thơ thứ nhứt thôi, Yến Lan đã mô tả rất rõ sự trống rỗng, vô vị, nhạt nhẽo, buồn bã và chán nản của cả người lẫn vật, của cả người lẫn cảnh, rượu hết rồi và ông lái đò cũng chẳng tha thiết buông câu.
 
Trăng thì đầy, và đang rơi vàng trên mặt sách. Là trăng rơi, hay màu trăng rơi? Là trăng vỡ, hay màu trăng vỡ. Không dưng tôi lại nhớ quá chừng đến bốn câu tuyệt phẩm của Hàn Mặc Tử: hôm nay có một nửa trăng thôi / một nửa trăng ai cắn vỡ rồi / ta nhớ mình xa thương đứt ruột / trời làm nên tội buổi chia phôi (Ta Nhớ Mình Xa - Một Nửa Trăng).
 
Thì phải rồi. Tôi không dưng đang viết về Yến Lan mà nhớ đến Hàn Mặc Tử là phải rồi. Vì cái hồi năm nẳm đó, 1936, Yến Lan, Quách Tấn, Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên, từng lập ra nhóm Bàn Thành Tứ Hữu, và họ hoạt động sôi nổi suốt trong chín năm trời (1936-1945). Họ sáng tác theo trường phái Thơ Loạn, Thơ Điên. Trong thơ họ tràn ngập những hình ảnh của trăng, của máu, của xương và cả những hồn ma.
 
Ông lái đò đắm chìm trong nỗi buồn cô quạnh, chẳng còn quan tâm gì nữa đến chung quanh, ngay cả khi, đó là màu vàng trăng rất đẹp, một màu vàng của trăng lung linh, huyền ảo, đang rơi rụng đầy trên trang sách mở nằm cạnh ông, ngay cả khi, đám gió, chúng len lén lùa vào râu tóc ông mà nghịch ngợm, mà mơn trớn, mà ghẹo trêu, ông cũng kệ, chẳng bận lòng xua đuổi.
 
******
II.2. Chở Mãi Hồn Lên Tắm Bến Trăng Cao
 
Ông không muốn run người ra tiếng địch
Chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao
Vì đìu hiu, đìu hiu, trời tĩnh mịch
Trời võ vàng, trời thiếu những vì sao
 
Địch nghĩa là sáo. Người thổi sáo thì thường phải lấy hơi nhiều, nếu để ý, ta sẽ thấy những lúc ấy, đôi bờ vai họ, khẽ run. Nghĩa của toàn câu là, đêm nay, ông lái đò không muốn thổi sáo, như bao đêm, ông từng thổi. Ông không muốn cho ai hiểu lầm, việc ông run người lấy hơi, là biểu hiện của run sợ, của hãi sợ. Ông không muốn người khác nhìn vào, mà hiểu lầm, ông đang yếu đuối trước kẻ thù, kẻ thù xâm lược quê hương, đất nước của ông.
 
Ông không muốn thổi sáo, vì muốn giữ vững tinh thần mình, vì không muốn những chiến sĩ khác, đêm nay qua sông, bị ảnh hưởng bởi tiếng sáo sầu thương, bi lụy của mình. Đêm nay, ông cần đối mặt. Đêm nay, ông cần phải đợi chờ để đưa họ qua sông.
 
Bến trăng cao, là hình ảnh của hiền hòa, thanh tịnh. Bến trăng cao, là nơi mà con người ta có thể thoát khỏi những muộn phiền và lo toan của cuộc sống. Và ông, người lái đò, tình nguyện chở hồn người lên mà thỏa thuê tắm gội dưới ánh trăng.
 
Nhưng đêm nay thì khác. Đêm nay, ông lái đò nhìn ra, bến trăng cao ấy, mới đìu hiu, tĩnh mịch và ảm đạm làm sao. Nó lạnh lẽo, nó tàn úa, nó thiếu sự ấm áp, vỗ về của thường ngày.
 
Trăng đêm nay bỗng u huyền, võ vàng, nhạt nhòa, tiều tụy.
 
Không gian và thời gian như đứng lại, cả bến sông, cả trăng trên bến sông, bàng bạc tàn phai, trong ảo ảnh, trong chập chờn, không hy vọng.
 
******
II.3. Để Đêm Buồn Vây Phủ Bến My Lăng
 
Trôi quanh thuyền, những lá vàng quá lạnh
Tơ vương trời, nhưng chỉ giải trăng trăng
Chiều ngui ngút dài trôi về nẻo quạnh
Để đêm buồn vây phủ bến My Lăng
 
Những chiếc lá vàng, trôi quanh thuyền bao giờ rồi, bao ngày rồi, bao đêm rồi, mà rã rời, mà như muốn tan ra, vì quá lạnh. Mùa thu sắp hết rồi ư, mùa đông sắp đến rồi ư, mà sao lá vàng trút rơi nhiều đến thế.
 
Những chiếc lá vàng vô định, không bến, không bờ, cứ lững lờ, xoay tròn, xô giạt, như đời người, chẳng biết phải về đâu, như quê hương, đất nước, rồi chẳng biết ra sao.
 
Lá vàng lạnh, hay tâm hồn người lạnh. Tâm hồn người lạnh, hay cả đất trời đêm nay, cũng lạnh lẽo vàng rơi.
Tơ vương trời, hay hồn người đang vương trong hồn đất trời bao la, trong hồn trăng huyền ảo.
 
******
III.4. Sợ Trăng Vàng Rơi Khuất Lối Chưa Đi
 
Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã
Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly
Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả
Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi
 
Và sự chờ đợi, tưởng chừng như không thực ấy, đã bất ngờ xuất hiện: nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã / nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly.
 
Chàng kỵ mã, với bộ áo màu đá xanh, vừa mang tính hiện thực rõ ràng vừa lãng mạn bí ẩn, vừa trước mặt lồ lộ vừa như truyền thuyết xa xưa. Không gian trầm lặng bỗng trở nên xáo động.
 
Tiếng kêu của chàng kỵ sĩ, dường như gấp lắm rồi, dường như không thể gắng đợi, gắng chờ thêm một giây nào nữa rồi, để mà nhờ ông lão lái đò đưa qua sông. Chàng đành đi lối đường rừng, dẫu hiểm nguy đang ngàn cân treo sợi tóc. Chàng đi, mà chàng sợ, sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.
 
Hành trình chưa xong, mà ánh trăng đà tắt, biết phải làm sao. Thôi thì một liều, ba bảy cũng liều vậy, chấp nhận những rủi ro, phó thác cho số mệnh, chớ biết làm sao hơn.
 
My Lăng, My Lăng, có phải là nơi tìm đường lánh nạn của kiếm sĩ nhà Trần sau trận Thành Đồ Bàn bi thương thuở ấy? Nếu không phải là như thế, thì sao ông lái đò, lại phải mang một niềm ân hận hoài mãi. Chỉ vì, mải đọc sách, ngủ quên, để hồn lên tắm ánh trăng cao mà không nghe được tiếng gọi đò hối hả. Để tiếng kêu trong oan nghiệt và đầy oán trách ấy, cứ ám ảnh mãi ông, khiến ông, nhiều năm sau, và nhiều năm sau nữa, cứ phải tự trách mình, khiến ông, suốt bao trăng còn lại của đời mình, chỉ dành đợi khách.
 
******
II. 5. Gọi Đò Thôi Rung Rẩy Cả Ngành Trăng
 
Ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách
Để thuyền hồn bơi khỏi bến My Lăng
Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách
Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng
 
Ông lái đò ngủ quên, hay ông đang muốn lìa bỏ thực tại nhiều muộn phiền, sầu não này, mà về lại nơi thanh cao, thoát tục. Nơi chỉ có ánh trăng cao, thanh khiết, mơ màng. Nơi của tự do, và giải thoát.
 
Thanh khiết ư, chỉ là ảo mộng. Tự do và giải thoát ư, huyễn hoặc, xa xôi. Ông lái đò, giờ đây, choàng tỉnh dậy, trong sự bỏ lỡ, trong sự hối tiếc muộn màng. Ôi, chỉ tiếng gọi đò thôi, mà cũng run rẩy cả ngành trăng. Ôi, chỉ tiếng gọi đò thôi, mà làm ông lão lái đò, phải nuối tiếc đến muôn sau.
 
******
II.6. Ông Lái Buồn Đợi Khách Suốt Bao Trăng
 
Bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng
Ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
 
Ông lão lái đò, cứ thế, lặng lẽ chờ, lặng lẽ đợi, trong niềm tuyệt vọng, đã không biết bao nhiêu là mùa trăng qua.
 
Lưng ông ngày càng còng, mắt ông ngày càng mờ, tay ông ngày càng run, nhưng ông vẫn chờ, vẫn đợi.
 
Chờ đợi trong cô đơn. Chờ đợi trong buồn bã. Chờ đợi trong một niềm tự trách khôn nguôi.
 
Ba câu cuối bài được viết theo kiểu liên vận, tức chỉ một vần, vần bằng, tạo nên một cảm giác cô quạnh tuyệt đối, mang mang một nỗi tủi buồn, và chơi vơi, niềm lữ khách: gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng / bến My Lăng còn lạnh, bến My Lăng / ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
 
My Lăng ơi, bến cũ còn không? Còn giữ được không, hình ảnh ánh trăng cao. Còn giữ được không, hình ảnh ông lái đò trong nỗi chờ, nỗi đợi.
 
******
III. Tơ Vương Trời Nhưng Chỉ Giải Trăng Trăng
 
My Lăng, My Lăng, chỉ hai tiếng My Lăng thôi, mà đã đủ để tạo nên một hình ảnh hư hư thực thực, huyễn ảo, huyền bí, mơ hồ.
 
My Lăng, My Lăng, chỉ hai tiếng My Lăng thôi, mà như chứa ngàn muôn tâm sự, chẳng biết tên ai đặt mà lạ lùng, mà phong sương, mà phiêu bạt, mà đượm đầy chất thơ đến thế.
 
My Lăng, My Lăng, chỉ hai tiếng My Lăng thôi, mà tôi đã cảm ra như, bến cùng tôi, quen biết, thân thuộc tự thuở nao.
 
Thường, cứ nhắc đến bến, là gần như ngay lập tức, trong đầu người ta, nghĩ đến chuyện chia xa, biệt ly, người đi, kẻ ở. Cứ nhắc đến bến là gần như ngay lập tức, trong đầu người ta, hình dung ra những hàng lau lách trắng đìu hiu, cô liêu và mênh mông, trải dài theo dòng sông, lành lạnh, tĩnh êm, lặng lẽ, và dưới đáy sâu kia, biết đâu, cuồn cuộn những nguồn cơn.
 
Nhưng bến My Lăng thì khác, My Lăng chỉ toàn trăng và trăng, hai mươi hai câu, mà đã có đến tám câu chứa trăng ở trỏng: trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách / chở mãi hồn lên tắm bến trăng cao / tơ vương trời, nhưng chỉ giải trăng trăng / nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly / sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi / ông lão vẫn say trăng, đầu gối sách / gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng / ông lái buồn đợi khách suốt bao trăng.
 
Chỉ trăng và trăng thôi, và lòng người, và hồn người, với biết bao nỗi niềm, không làm sao mà tỏ bày hết được.
 
******
IV. Bến My Lăng Còn Lạnh, Bến My Lăng
 
My Lăng ơi là My Lăng, bến trăng cao My Lăng có thật hay không? Và ở nơi nào trên xứ sở của triền miên chiến tranh, binh đao, loạn lạc?
 
My Lăng ơi là My Lăng, bến trăng cao My Lăng có thật hay không? Và ở nơi nào trên xứ sở đầy ly biệt và ngóng trông?
 
My Lăng ơi là My Lăng, bến trăng cao ấy, nay còn không, núi sông, con đò, cây sáo, lá vàng, bầu rượu, cuốn sách, dòng sông?
 
Cả một đời thơ, đôi khi, chỉ cần một bài thơ, cũng đủ, như trường hợp Yến Lan. Nhắc đến Yến Lan là phải nhắc đến Bến My Lăng, và, ngược lại, cứ nói về bến trăng, cụ thể hơn, bến trăng cao, thì không thể không nhắc tới Bến My Lăng của Yến Lan.
 
Tôi thích cái chi tiết, vì rượu hết rồi nên ông lái đò mới không thức mà buông câu. Ông nằm chờ trên đò, đọc sách, đợi người kêu. Nào dè, gió mát quá, thêm ánh trăng rơi vàng màu mộng; mộng thực khó phân, thành thử, ông mới ngủ quên.
 
Bến My Lăng nằm không, thuyền đợi khách,
Rượu hết rồi, ông lái chẳng buông câu.
Trăng thì đầy rơi vàng trên mặt sách,
Ông lái buồn để gió lén mơn râu.
 
Giá như, bữa ấy, còn rượu.
 
Còn rượu, ông sẽ thức mà nhâm nhi. Giữa đêm trường vắng lặng, ông sẽ nghe rõ mồn một, tiếng gọi đò. Còn rượu, chắc ông sẽ không phải hoài ôm niềm ân hận, và buộc mình vào tâm thế, bên bến, chờ mãi tiếng gọi xưa.
 
Đời, có phải là luôn thế không? Nghĩa là, luôn hoài sống trong hối tiếc, luôn hoài buột trong vô thức, vô vọng, câu buồn trĩu: giá như.
 
Đời, có phải là luôn thế không, sự lỡ làng?
 
Thế nên, mới mãi hoài:
 
Bến My Lăng Còn Lạnh, Bến My Lăng!
Sài Gòn 20.06.2025
Phạm Hiền Mây
Nguồn: Fb Phạm Hiền Mây