Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
Tháng Tư đi qua như một lưỡi dao.
 
Mùa hè năm 1975, trong công viên có nhiều cây cao bóng mát trướcDinh Độc Lập về phía nhà thờ Đức Bà, tôi gặp một người đàn ông áo quần rách rưới, ngồi trên băng ghế đá. Vì chung quanh không còn chỗ nào, tôi ngồi ghé vào một đầu băng ghế. Cả hai làm thinh. Lắng nghe trên ngọn cây tiếng ve kêu ran lần cuối. Bốn giờ chiều, thế gian trống rỗng, vàng vọt, vô nghĩa. Nhiều năm sau, khi nhớ lại, tôi tin chắc đó là Bùi Giáng. Lúc ấy tôi không kịp biết thế. Chúng ta không biết sự kết thúc. Lẽ ra chúng ta phải biết trước kết thúc ấy, nhưng chúng ta không biết. Không ai, từ bất kỳ phía nào của chiến tranh, bên thắng và bên thua, biết trước sự kết thúc ấy. Khi mọi sự đã xong, thì tha hồ nói.
 
Không có một trò chơi nào của tạo hóa mà chúng ta biết sự kết thúc.
 
Tháng Tư, lái xe băng qua sông Mississipi về Alabama, buổi trưa dừng lại một thị trấn nhỏ, đang tìm tiệm ăn thì thấy cái bảng đề chữ Việt, tấp vào. Quán nhỏ, tươm tất. Nhìn quanh không có ai, phía sau bàn tính tiền treo lá cờ vàng ba sọc đỏ khá lớn. Tôi đứng nghiêm trước lá cờ, im lặng. Một người đàn ông đậm người, da đen sạm, từ sau lưng tôi bước tới. Anh quê Bạc Liêu, quê bún cá bát ngát phù sa, là người tị nạn đến đây từ năm Một Chín Tám Mốt, bốn mươi năm không dời nhà đi đâu cả. Bây giờ con cái đã lớn, không đứa nào theo nghề ba mẹ, hai anh chị định làm thêm vài năm nữa rồi nghỉ. Đi cho hết cuộc đời, người đàn ông nói, cười nửa miệng.
 
bong gay trannguyendan
 
Tháng Tư tôi đi vào rừng, nghe tiếng cuốc kêu trong bụi, màu lá khô và màu lá non quét ngang vai như sự thăm dò của cái chết của sự sinh nở. 
 
Tháng Tư, miền Nam vẫn chưa đi hết cuộc đời mình.
 
Nhưng tháng Tư, dân tộc đã kiệt sức. Những người đẹp nhất từ hai phía đã chết. Còn lại, bọn tầm thường chúng ta. Khi dòng sông khô cạn, bầu trời thăm thẳm không gợn mây, cỏ cháy khô từ ngọn đến gốc, nhiều ngày không mưa, khi một xác chết nằm vắt qua đường ray xe lửa khô đi dưới nắng hạn chuyển màu đen nhưng không thối rữa, lẽ ra chúng ta phải biết mọi chuyện sắp kết thúc. Chúng ta yêu hoà bình nhưng chúng ta lao vào chiến tranh. Tháng Tư ở miền Trung trời đã nóng lắm. Mới tháng Ba hôm trước còn mưa bụi, sáng rét ngọt mà giờ đây thoắt cái trời đã xanh lên, mặt trời đổ lửa, người đi đường không thấy bóng, mãi cho đến bốn giờ chiều mới có gió Nồm thổi qua bụi chuối Tiêu sau nhà, đất trắng ra, sạch bóng, chim Chìa Vôi kêu inh ỏi. Năm ấy tôi mười mấy tuổi, cuộc đời mở ra mênh mông như khói sóng, xanh như liễu, có sợi tơ trời nào bay ngang mặt như người về từ nắng ấm. Tôi đã đọc xong gần hết các tập thơ trên giấy hoa tiên của Nguyễn Bính, Bích Khê, đã nghe Ngậm Ngùi của Lệ Thu lúc đang mặc quần xà lỏn ướt nhem sau khi lội qua sông đứng dựa cột điện gần Ty Thông Tin- Chiêu Hồi, đã đọc xong một nửa Tự Lực Văn Đoàn, trốn ba tôi ngồi đọc Anh Hùng Xạ Điêu trong bụi chuối. Tôi nghe nói ở miền Bắc buổi ấy còn rét, mà khi trời rét tóc người ta thơm, giọng nói cũng ngọt, da mịn màng, con gái đẹp thì phải biết, ba tôi nói thế, nhưng đất nước chia cắt tôi chưa biết miền Bắc là gì. Lá non vẫn còn lơ thơ trên hàng cây Bàng nhưng Phượng đã trổ hoa, Vông Đồng rụng trái đầu tiên, giàn trầu của mẹ tôi bên giếng ra xanh mướt soi bóng xuống cơi trầu của đám cưới muộn. Gia phong rồi sẽ bị chế nhạo, văn hiến rồi sẽ bị làm nhục.
 
Ngày 9 tháng 4, 1865, sau cuộc nội chiến kéo dài, tướng Robert Lee đầu hàng tướng Ulyses Grant. Hiệp ước ghi rõ quân thua trận được giữ lại lừa ngựa và tự do về nhà, các sĩ quan được quyền giữ lại gươm và súng ngắn như biểu tượng danh dự của người thua cuộc.
 
Tháng Tư tôi đi vào rừng, nghe tiếng cuốc kêu trong bụi, màu lá khô và màu lá non quét ngang vai như sự thăm dò của cái chết của sự sinh nở. Chạy dọc biển, bây giờ buổi sáng cát và sỏi kêu lạo xạo dưới chân, trong đám cỏ lau chiếc lều của người đi rừng, màu sặc sỡ. Sau mùa đông tuyết giá Bắc Mỹ, sự sống trở lại. Cuộc chiến tranh lùi xa mang người chết trở lại, cuộc hôn nhân tan vỡ mang cô dâu tới trước cửa nhà chồng, lần nữa. Sau những năm dài bạo động, nhân loại có hòa bình, và đã bạo động trở lại. Sau cơn bệnh kéo dài, các vết thương tha thứ cho chúng ta, và con người trở lại với nhầm lẫn cũ, và sự độc quyền chân lý cũ. Sự lừa dối lại dẫn đường, tóc em bây giờ đã rụng, những sợi mai còn lại hôm nào.  Người may mắn và người thất bại, chúng ta chờ nhau đã lâu. Ngày đã tàn đêm mùa hè hãy còn lạnh trong ngôi nhà gần mặt nước của tôi, nhưng trong một ngôi nhà khác nơi tôi sinh ra, mặt đất về đêm vẫn nóng như lửa, như vầng trán của đứa bé lên cơn sốt mà bàn tay người mẹ rời đi. Tháng Tư là công chúa của những tháng: nó đầy mặt trời, đất xanh hơn, tinh thần của bạn sảng khoái, khuôn mặt của bạn được một người nào nhớ lại rõ ràng hơn, chữ ký của bạn phóng khoáng hơn. Sự trang nhã của tháng Tư là sự trang nhã của mặt một người, không phải vì đẹp, mà vì được nhớ lại. Yêu nhau trong mùa hè là trang điểm đẹp nhất của người đàn bà. Hãy mỉm cười, như một liệu pháp. Tôi đã gặp một người không cười.
 
Tháng Tư, tháng của thơ ca. Của Chiều Trên Phá Tam Giang, Tô Thùy Yên, trong Nam:
 
Chiều trên phá Tam giang rộn ràng tiếng chiến trận
Chiều trên phá Tam giang anh sực nhớ em nhớ bất tận
Giờ này thương xá sắp đóng cửa
Người lao công quét dọn hành lang
Giờ này thành phố chợt bùng lên
Để rồi tắt nghỉ sớm
 
Và của Lửa Đèn, Phạm Tiến Duật, ngoài Bắc:
 
Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Nơi tắt lửa đêm đêm khiến đất trời rộng quá
Không nhìn thấy gì đâu
Bóng tối che rồi
Cây trúc làm duyên phải nhờ gió thổi
Cô gái làm duyên phải dùng giọng nói
 
Một bài thơ hay có thể an ủi một người bị tổn thương, nhưng cùng lúc cũng có thể làm tổn thương một người cần được an ủi. Thơ trò chuyện cùng chúng ta qua nhiều thế kỷ. Những nhà thơ tài năng đều đứng thấp hơn bài thơ của họ. Sự vui thú của thơ bắt đầu là sự vui thú của chữ. Thơ chính là kinh nghiệm, chính nó. Những đứa trẻ hát đồng dao vì vui thú, câu đồng dao không có nghĩa gì cả. Trăng sao sáng là vì vui, chứ bộ chúng sáng vì con người sao? Thơ giúp bạn nhận ra bạn là ai, suy nghĩ gì. Thơ giúp chúng ta trở nên khiêm tốn, kính trọng người khác, cái khác, biết rằng tình yêu của Phạm Tiến Duật và tình yêu của Tô Thùy Yên là khác nhau, nhưng chúng đều là tình yêu. Những bài thơ bắt đầu ở một ngôn ngữ được đánh thức bởi mối liên kết giữa ngôn ngữ và các tình huống, giữa cảm xúc và bi kịch. Trong mỗi bài thơ có một cánh cửa, đó là giây phút mà nhận thức mở ra thế giới, sự tập trung chú ý tạo nên niềm vui cực điểm. Một câu thơ dẫn bạn đi qua thời gian, vì chúng ta đọc trong thời gian.
 
Em nhớ anh đến quay quắt trong lòng. Một người một ngày đã nói như thế. Em, những dòng chữ anh viết đây không phải là hoài niệm, mặc dù chúng có vẻ như là hoài niệm. Từ tháng Sáu 2006, tôi bắt đầu loạt bài phỏng vấn Thơ đến từ đâu trên Talawas. Tháng Tư 2007, tôi về Sài Gòn, gặp bạn hữu. Sau đó ra Hà Nội, hỏi chuyện các nhà thơ khác. Chương trình làm việc bận đến nỗi mỗi ngày tôi chỉ ngủ ba giờ đồng hồ. Thật là những ngày vui đáo để. Rủ nhau lên Kinh Bắc, cùng đi có Hoàng Ngọc Hiến, Dương Tường, Nguyễn Thụy Kha, Phạm Xuân Nguyên, Du Tử Lê, Nguyễn Đặng Mừng, Nguyễn Trọng Tạo. Tháng Tư dương lịch là tháng Ba âm lịch, ngoài Bắc trời chưa nóng lắm, buổi sáng còn hơi rét, mà chim hót vang lừng nhánh cây ngọn cỏ, buổi trưa nắng huyền ảo. Dọc đường từ Hà Nội lên Bắc Ninh, tôi nhìn thấy cây cối lạ mắt ít gặp ở miền Trung, những người con gái môi đỏ như son, hoa xoan phủ trắng một vùng quê. Kinh Bắc là vùng có nền văn hiến lâu đời, nhiều di tích, là trung tâm của châu thổ sông Hồng, cái nôi của văn minh lúa nước. Tôi dự những lễ hội dân gian, ngồi nghe làn điệu dân ca Quan Họ. Được ngồi chung xe ngựa dong ruổi cùng nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến, người bảo tôi: có dịp về Kinh Bắc thế này, anh hạnh phúc lắm em ạ. Mọi người dừng lại ở Đình Bảng nổi tiếng trong thơ Hoàng Cầm, tôi còn được đi dọc bờ sông Đuống, viếng lăng mộ Kinh Dương Vương.
 
Em ơi buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lì
 
Tôi đọc bài thơ của Hoàng Cầm năm lên mười sáu tuổi, trong phần đọc thêm của Trung Học Đệ Nhị Cấp, chương trình giáo dục Việt Nam Cộng Hòa. Những bạn học của tôi từng mơ ước một lần ra Bắc nghe câu Quan Họ, những bạn ấy giờ tan tác nơi đâu? Tôi ngồi trên chiếu, nghe các nghệ sĩ liền anh liền chị xinh đẹp hát câu quan họ. Tôi đứng trước ngôi chùa mái ngói xanh nâu, trước hồ bán nguyệt lung linh, khi ra về giai điệu vẫn còn vang vọng. Trong giờ phút chia tay ở Lim, người con gái Kinh Bắc bất ngờ tháo dải lụa thắt lưng hồng đào của mình mà tặng cho tôi. Trên đường về, Nguyễn Trọng Tạo cười bảo: chú nhớ cất kỹ.
 
Bao giờ về bên kia sông Đuống
Anh lại tìm em
Em mặc yếm thắm
Em thắt lụa hồng
 
Vậy là, sau cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm, dân tộc phải chờ thêm bốn mươi năm nữa mới được tự do thắt dây lụa hồng như lời hứa. Tháng Tư là tháng của lời hứa, không giữ được. Của tình yêu nồng nàn như lửa, làm kẻ ở nơi xa phần tử bao năm còn ngoái lại. Cuộc lữ khiến cho người ngồi ăn tô hủ tiếu ở Hán Thành nghĩ tới ga xe Lam miền Đông, uống tách cà phê ở Montreal mà nhớ mùi thuốc lá Cẩm Lệ của người lái đò lao đi trong sương sớm. Đất nước đẹp thế mà sao con người lao vào chém giết nhau lâu thế, anh em tị hiềm nhau bần tiện đến thế, thì tôi không thể biết. Những ngày tháng Tư này nghe nói ở miền Bắc và miền Nam có nhiều hội hè, trăng hoa kết lại, nhưng ở miền Trung của tôi, cuộc sống kham khổ hơn, chỉ có mùa lễ Phật Đản, rước kiệu, sinh hoạt của nhà thờ và các gia đình Phật tử là rộn ràng, vào những năm chưa chiến tranh, khi tôi còn bé, các đội văn nghệ của đoàn Bình Định Nông Thôn từ Huế về biểu diễn trên cỏ gần bờ sông, tôi ngồi dưới bầu trời đầy sao tưởng giấc mơ thanh bình trở lại. Em ơi, anh vẫn nhớ, có bao giờ chúng mình cùng trở lại, coi lễ rước kiệu ngày Phật Đản, dắt tay nhau mà đi qua cái cầu tre bắc ngang sông Thạch Hãn, rồi ra về trong đêm trong tiếng cuốc gọi hè?
 
Lễ Phục Sinh năm 1972, Bắc quân vượt vĩ tuyến 17. Đây là lần đầu tiên có một cuộc tấn công của quân chủ lực ở mức phối hợp chiến trường, nhằm phá hoại kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh bước đầu có kết quả. Một tháng sau, tháng Tư, dân Quảng Trị chạy về phía Nam, trúng đạn pháo kích chết nhiều dọc đường số một. Trường Nguyễn Hoàng và các trường học đóng cửa, học sinh và công chức chuẩn bị di tản, ba mẹ tôi cho anh tôi và tôi vào Huế, khi thì ở trong nhà chị tôi ở thành nội gần trường Hàm Nghi, khi thì ở nhà dì tôi gần Bến Ngự có bóng cây nhãn mát rượi. Anh tôi chuẩn bị thi Tú Tài nên tập trung vào việc học, tôi học lớp dưới, chưa đến tuổi đi lính, nên tà tà vui chơi đây đó. Tâm trạng của mọi người là lo âu nhưng hy vọng, chắc chắn cũng như những lần trước, sau khi Bắc quân tràn qua thì Nam quân phản công tái chiếm, và mọi người trở về sinh hoạt như cũ. Tôi vào Huế, chỉ mang theo vài bộ áo quần, không nghĩ ở lâu, quên cả tạm biệt con chó vàng và con mèo đen. Gần một tháng ở Huế, không bị nhắc nhở, tôi tha hồ rong ruổi. Huế thật đẹp, tôi đi qua khu vực Tòa Sứ, khách sạn Morin, nhà dây thép, dinh Công Sứ, trường Quốc Học và Đồng Khánh, trường Pellerin, Luật Khoa Đại Học đường, Tòa Tổng Giám Mục, viện Đại Học Huế là nơi chị tôi làm việc. Khu vực này có một kiến trúc rất đặc biệt, kiểu Pháp, sang trọng, thanh nhã, các bức tường dày và kiên cố, các dinh thự xây khá xa bờ sông Hương, không làm ảnh hưởng đến cảnh thiên nhiên, những hàng cây được quét vôi trắng. Tôi mê đài Chiến Sĩ Trận Vong, một trong những công trình kiến trúc tuyệt đẹp, tôi đứng ngẩn ngơ trên cầu Tràng Tiền nhìn sông Hương lam ngọc. Thời bé tôi mê môn Địa Lý và Lịch Sử, tôi thuộc tên tất cả các dòng sông, tôi chưa đến sông Hồng, sông Cửu Long, sông Danube, sông Mississippi, tôi biết chúng vĩ đại, nhưng trong mắt tôi sông Hương đẹp như một giấc mơ. Tôi nằm lim dim suốt ngày trên ghế đá trong vườn hoa Nguyễn Hoàng. Nhìn trời nhìn đất. Tôi nhận ra kiến trúc hai bờ sông Hương, bên tả ngạn theo lối xưa, bên hữu ngạn theo lối châu Âu, khác nhau mà vẫn hòa hợp và cân đối. Hòa hợp là đặc tính của người Việt Nam, cân đối là đặc tính thẩm mỹ của người Pháp. Văn hóa Việt và văn minh Pháp là một kết hợp đẹp. Một dân tộc tìm cách phá vỡ hòa hợp và cân đối sẽ như chim lao vào lửa, từ tro tàn không có Phượng Hoàng nào bay ra cả. Trên dốc Nam Giao tôi đến viếng một tiệm cho thuê truyện, đếm đi đếm lại những tờ bạc lẻ trong túi. Người chủ có một đứa con gái chừng tuổi tôi, đứng ghi sổ giúp mẹ, nó hay nhìn tôi cười làm tôi đỏ cả mặt. Khi người ta biết rằng họ sắp chết trong vài ngày tới, thế giới này không có nghĩa gì, danh vọng, tiền bạc, sự nghiệp đều không còn ý nghĩa. Khi người ta biết rằng xã hội mà họ vui chơi, không khí tự do mà họ đang thở, cuốn truyện mà họ đọc, tất cả sẽ biến mất trong thời gian ngắn, một người sẽ tìm cách ghi nhớ. Và mục đích của đời sống của tôi là kể lại. Tôi không có một bổn phận nào khác, tôi đã quyết định như vậy từ mùa hè năm ấy.
 
Tôi được gặp Tướng Lê Minh Đảo hai lần khi ông đến thăm Canada, được dịp hỏi chuyện vị Tướng này, người cầm quân trong trận Xuân Lộc, và bại trận. Trận Xuân Lộc từ ngày 9 tháng 4 đến ngày 20 tháng 4 năm 1975, là cuộc đối đầu đầu tiên của đội quân chủ lực giữa Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và quân Giải phóng miền Nam. Trận đánh này không có sự tham dự của lính Mỹ. Ông bảo Xuân Lộc là khu vực quan trọng phòng thủ cửa ngõ phía Đông Sài Gòn. Dưới tay ông có Sư Đoàn 18 Bộ Binh, một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân, các đơn vị Địa Phương Quân và Nghĩa Quân, một Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 5, Lữ Đoàn Thiết Giáp, Lữ Đoàn Dù, Tiểu Đoàn Pháo Binh Dù, hai Sư Đoàn Không Quân, tổng số 14 ngàn binh sĩ. Lực lượng tấn công của quân Giải phóng có Quân Đoàn 4, thêm một Sư Đoàn Bộ Binh từ Quân Khu 7, một Trung Đoàn xe tăng, một Trung Đoàn pháo binh, do Thiếu Tướng Hoàng Cầm làm Tư Lệnh. Sau trận này, miền Bắc thương vong khoảng hai ngàn người, miền Nam thương vong cũng chừng đó, theo báo cáo chính thức. Trận Xuân Lộc vỡ, Sài Gòn để trống sườn phía Đông, là một trong những nguyên nhân quân sự khiến Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức và ra đi.
 
Tháng Tư là tháng của Anh Đào. Của thay đổi. Một điều gì được giữ lại, một điều gì đang tới, một điều gì mở ra trong tâm hồn. Tôi cất những đôi giày đi tuyết vào Garage, thay bánh xe mùa đông chạy tuyết bằng bánh xe mùa hè, trên bánh xe mùa hè tôi nhìn thấy một bông Cúc màu trắng đã khô từ mùa xuân trước, vẫn còn đó. Khi tôi nhìn lại những người bạn, thấy mất đi một người. Một đời sống có thể vô nghĩa mà cũng có thể cao quý nhường nào. Một lần tôi mở những hộc tủ hộc bàn trong căn nhà cũ, tôi mở chúng khó khăn vì nhiều năm không ai dùng tới. Tình cờ tìm thấy một chiếc cúc áo làm bằng vải. Ngày xưa người ta dùng các sợi vải cột thắt lại để làm cúc áo trên những chiếc áo dài của phụ nữ và đàn ông. Tôi cầm nó lên, nghĩ rằng nó phải có tuổi đời mấy mươi năm. Nó nặng và buồn rầu, nó ấm dần lên như ngọn lửa. Bạn nói với đời sống bạn muốn điều gì và đời sống nói với bạn làm cách nào để có điều ấy. Khi bạn tìm một điều gì lớn hơn, bạn không thể trò chuyện với một điều gì nhỏ hơn, khi bạn hướng tới sự cao thượng, bạn không thể dừng lại ở sự tầm thường, khi bạn đánh giá cao lòng tự trọng, bạn không thể khinh mạn kẻ thù, như có người chỉ chờ cơ hội là làm điều ấy. Một người có nhiều tiềm năng bất tận, bạn không thể biết bạn có thể làm được nhiều việc đến thế, chính xác đến thế, đầy sự thương xót đối với người khác đến thế, bạn có thể đẹp đến thế, nếu bạn hoàn toàn tự do. Nhiều người nghĩ rằng họ có tất cả, nhưng thực ra họ chưa bao giờ có tự do tự mình giành lấy. Bạn không nghĩ nó cần thiết đến thế. Bạn chưa từng bị thử thách, chưa làm việc trong nhà máy mà dây chuyền cắt đứt một ngón tay của gã đứng trước, người Mễ Tây Cơ, chưa từng chia sẻ áo cơm một ngày với người tị nạn Việt Nam bị đánh đập ở trại giam ngay giữa thủ đô Thái Lan. Bạn chưa nghĩ đến quyền của người khác.
 
Tháng Tư góa bụa.
 
Tôi về, đứng bên sông Thạch Hãn. Một xác chết tấp vào bờ. Xác người đàn bà, tóc dài quấn ngang gáy, sấp mặt xuống. Chị nằm im như ngủ, nước ban trưa liếm gót chân của chị rồi rút xuống, như nước thủy triều. Tôi đứng đó, nhìn dòng sông, chờ chuyến đò ngang không bao giờ tới. Tôi cởi áo quần, quyết định bơi qua sông, về nhà. Mọi người đều tìm cách về nhà. Trong những ngõ hẻm của thành phố, trên những ngả đường quanh co đổ dốc như khi một người rơi vào cơn sốt hầm hập, mọi người chạy ngược con đường di tản của mấy tuần lễ trước. Một dân tộc về nhà. Lẽ ra phải vui. Đã hết chiến tranh. Huế thất thủ. Đà Nẵng. Rồi Nha Trang. Chỉ còn Sài Gòn, những ngày cuối. Tôi bơi qua sông, leo lên ghềnh đá. Mọi người Việt đều yêu hòa bình. Nhưng hòa bình không phải là chấm dứt chiến tranh. Rêu mọc lấm tấm trên cỏ, tôi dùng cuốc và xẻng bứng đi những cây chết, trồng những cây mới. Một con Groundhog chạy vụt ra. Tôi đã nhìn thấy sự chết và sự sống, biến mất và hồi phục trong thời gian ngắn ngủi. Tôi đi dọc hàng rào, cắt dây leo tím dại. Khu vườn nhỏ bắt đầu làm tôi thong thả sau một ngày bận rộn, dịu lại sau một cơn giận, làm cho những vết thương cũ lành đi, cái tê dại của những đầu ngón tay biến mất. Tôi tìm thấy ở đó sự cân bằng, an ủi, tiếng hát ngày xa vắng. Tôi lắng nghe, không thể khác, từ đám cỏ cao tiếng hát cao vút của một người mà rồi đây tôi sẽ gặp, sẽ nhớ lại. Dân tộc Việt Nam là một dân tộc hậu chấn thương.
 
Tôi cũng thích thành thị, nhưng không hiểu sao mỗi khi đất trời chuyển giao, tôi lại nghĩ về làng cũ, con sông hiền hòa đầy máu và nước mắt, cánh đồng xanh mạ non, cá giếc nhảy trên đường làng, chiếc gàu đạp nước ngất ngưởng có hai vợ chồng ngồi trên bậc cao, chim én ríu rít, nước chè xanh đậm ở Gio Linh uống cả đọi, bánh canh Mỹ Chánh rắc nhiều tiêu, bún bò cay xé ở Đập Đá, và đi trong đất trời mù khói nghe tiếng chuông chùa và tuổi mới lớn nhìn nước chảy qua cầu Tràng Tiền, ngày tháng trôi đi như mơ như thực, hạnh phúc như có như không. Người ta nói rằng mùa xuân, các thiên thần trở lại thăm trần gian, tờ mờ sáng. Tôi đứng đó, trong vườn, không nhìn thấy thiên thần nào cả nhưng bắt được một con bướm vừa lột xác. Đêm có tiếng người gõ cửa. Tiếng đại bác vọng về từ rừng xa. Cuộc chiến tranh đã gần kề mà tôi không biết. Khi những bông Mãn Đình Hồng nở rộ, người đàn bà làm vườn vác cuốc đi qua dừng lại. Chị có một người chồng tập kết ra Bắc, không bao giờ trở về, chị ở vậy với người mẹ chồng già nua khó tính, đó là thời gian của sự dừng lại. Tôi đứng từ phía xa nhìn thấy cái lưng của chị, mái tóc dài xuống tận thắt lưng đen nhánh, giữa những bông Mãn Đình Hồng màu hồng nhạt, tươi tắn. Mọi sự sẽ thay đổi, thời gian cũng vậy. Nếu đời sống thật khắc nghiệt thì bạn cần phải nhẹ nhàng. Năm nào ba tôi cũng dặn mẹ tôi: đến ngày Rằm tháng Giêng thì thôi mình nhé, không cho người ta đánh bạc nữa. Cũng có những cuộc sát phạt lớn, nhưng không ở nhà tôi. Nhà tôi có những cuộc vui nho nhỏ kéo dài suốt tháng Giêng, tháng Hai âm lịch, trong khi giò Phong Lan treo lủng lẳng ngoài sân nở hoa vàng và con chim Sáo trong lồng đầu hè bắt đầu lột lưỡi biết nói, chúng tôi mới đành lòng từ giã ngày Tết.
 
Tôi gặp một phụ nữ Hà Nội mới qua định cư ở Canada, hai mẹ con, con trai của chị đi học Cao Học, chị kể chuyện về món ăn quê hương. Tôi biết chị có một cuộc sống khá giả trong nước. Tôi hỏi tại sao chị đi. Chị cười, ở đây buồn hơn, nhưng mình được là mình. Tôi chưa nghe một giọng Hà Nội nào hay như vậy. Nhiều người nghĩ rằng: hoài niệm của người lưu vong là bảo thủ, với những ký ức chấn thương. Không phải chỉ có thế, đó còn là một chọn lựa phẩm hạnh. Nghĩ về lẽ hưng vong, không gì bằng mấy câu trong bài thơ chữ Hán “Quan Hải” của Nguyễn Trãi, tương truyền viết trên sông Bạch Đằng, nói về sự sụp đổ của Hồ Quý Ly:
 
Lật thuyền mới biết dân như nước
Phúc chu thủy tín dân do thủy
 
Câu chuyện trong văn chương không phải là sự thật ở ngoài đời, nhưng nó lớn hơn tổng số các sự kiện có thật. Tiểu thuyết và tùy bút có thật hơn cả lịch sử, là trong ý nghĩa đó. Tôi viết về quá khứ, không phải chỉ vì sự tiếc nuối. Tôi muốn đi tìm ý nghĩa của chúng. Tôi muốn trở lại quá khứ để học hỏi một điều gì mà dân tộc đã tìm cách dạy tôi, nhưng tôi không thuộc. Sự thật mà tôi tìm kiếm trong văn học là một sự thật khác, chưa bao giờ hiện hữu trên trần gian nhưng thực ra vẫn hiện hữu, tựa như một tình yêu chưa bao giờ được nói ra, nhưng thâm tâm bạn biết là tình yêu ấy có thật. Tôi lắng nghe tiếng nói của nó, giờ đây, giữa những người lưu vong, và hiểu rằng họ mang đi những phẩm chất ngàn vàng của dân tộc. Nhiệm vụ của họ là giữ lấy chúng, không để mất thêm nữa, vì chúng ta đã mất quá nhiều.
 
Tháng Tư, tôi về nhà cũ. Nhà cũ không còn, những cột nhà cháy đen đứng trơ trọi giữa gạch đá, lau lách mọc đầy lối đi. Khu vườn của mẹ tôi hoàn toàn vỡ nát hoang vắng, chỉ còn cái giếng nước ngoài sân là nguyên vẹn. Tôi đứng tựa vào thành giếng, cúi mặt nhìn xuống. Thấy mây trời bay qua.
 
Tôi cúi sâu hơn nữa, nghe được tiếng người.
 
Dây hoa bìm bìm
Quấn lấy gàu bên giếng
Tôi đành đi xin nước nơi khác
 
Bài thơ haiku của Chiyo- ni. Chiyo- ni (1703- 1775) là một nhà thơ lớn của Nhật Bản. Bà theo học với các học trò của thi sĩ Basho, nổi tiếng với các bài thơ Renga và hội họa. Cái gàu nước bên giếng, nơi hoang vắng, dây leo phủ khắp mình, người lữ khách khát nước nhưng không muốn làm hại dây leo ấy, đành phải đi xin nước ở nơi khác. Lòng tử tế đối với người khác, cái khác, đối với thiên nhiên, chính mình: tất cả là một. Sự kết hợp hoàn hảo, chứ không phải mâu thuẫn giữa ta và địch, chúng ta và chúng nó, giữa người quan sát và sự vật, giữa dây leo và người uống nước. Không làm hại tới sinh linh là nguyên tắc của Phật Giáo. Do no harm, là nguyên tắc đầu tiên của Y học. Không có một cuộc cách mạng nào được quyền làm hại con người.
 
Thời tiết đứng lại trong không xòe đôi cánh của nó ra đập mãi một tình yêu cũ.
 
Tôi kể lại câu chuyện của tôi với bạn là để chúng ta cùng sống những ngày chưa kịp sống. Bạn cũng vậy, bạn có một câu chuyện để kể lại, một lời hứa phải suy nghĩ. Bạn thức dậy buổi sáng, lập tức nghĩ tới nó, lời hứa ấy, trước khi bắc nước lên bếp pha cà phê. Trên đời bao giờ cũng có những kẻ giả dối, những tên khốn kiếp. Bạn không thể xây dựng một vương quốc lý tưởng ở đó không có mặt chúng. Nếu trong đời, bạn nên tránh mặt chúng, thì trong tiểu thuyết, bạn đừng làm thế. Đời sống có những khoảnh khắc khủng khiếp và cũng có giờ vui bất tận. Ở vùng nhiệt đới, tắm sông là cái thú lạ lùng. Uống rượu dưới trăng với bạn nhân Tết Đoan Ngọ ở làng. Lái xe ba trăm dặm qua hai tiểu bang, chỉ để xin một cây chanh giấy về trồng nơi đất khách, ngắt lá tay còn thơm. Giêng Hai, ăn trái vú sữa nơi cửa biển nước ứa ra đầy miệng trước khi rời bỏ quê hương. Giữa sa mạc Nevada, ngồi dựa lưng vào tảng đá mát lạnh. Lớ ngớ giữa Sài gòn sau cuộc đổi đời, bỗng gặp một trung niên ngồi trên ghế đá, không biết ngồi chơi hay ngồi thiệt. Nghĩ như thế, thì những giây phút có được niềm vui ở đời không quá hiếm. Nghĩ thế thì anh lại bơn bớt đi cái bực bội với thói dung tục của đời, và trong một đêm xa nhà thức dậy, tưởng đến thuở trời đất hanh hao nhưng tình người đằm thắm, nhớ câu hát ru con bên vách của người chờ chồng đi chinh chiến, mà lòng anh dịu lại, hân hoan, như cơn mưa rắc lên mái nhà về sáng.
 
Nguyễn Đức Tùng
 
 

Tìm các bài LỜI HAY Ý ĐẸP khác theo vần ABC . . .