
Hình minh họa: Internet
Cứ nghe giọng nói thì khó biết được ông là người miền nào. Một phần Huế, một phần Quảng, một phần Lục tỉnh. Ông ta đến, rụt rè, nhỏ nhẹ, xin xóm làng làm một kẻ ngụ cư, sống với nghề rừng. Trại nhỏ rồi trại lớn, những đống cây tạp trước nhà dân dần thu hẹp lại, nhường chỗ cho những khối súc, vuông có, tròn có, chất ngang chất dọc. Ông ta không còn tự tay cầm rìu búa mà bạn thợ đông đảo, kẻ mua người bán hàng ngày. Xe trâu kéo gỗ ra bến sông, gỗ đóng bè xuôi dòng. Ông ta cỡi ngựa thắng kiều da, cầm roi vấn, sai bảo. Dân làng không gọi ông là Thợ Súc mà đổi ra Thầy Súc, ban đầu chỉ vui đùa, sau thành quen luôn. Ông ta cũng thật tự nhiên chấp nhận, mặc dù chẳng ai hiểu tiếng “thầy” gọi ông là loại “thầy” nào.
Một lần, tưởng đâu tai họa giáng xuống đầu ông ta, khuynh gia bại sản. Ấy là cái hôm họ kéo tới cả đoàn. Quan Kiểm lâm người Pháp, đội Kiểm lâm người Nam, Phó tổng vệ lâm, Hương lâm*, thêm mấy người lính lệ. Họ đo súc, đánh dấu. Họ lập tờ cung khai. Họ ra lệnh tịch thu. Họ định dẫn giải ông ta. Nhưng rồi tất cả được xóa bỏ, họ vui vẻ ra đi, chẳng có việc gì xảy ra. Là nhờ một chai rượu.
Một lần, tưởng đâu tai họa giáng xuống đầu ông ta, khuynh gia bại sản. Ấy là cái hôm họ kéo tới cả đoàn. Quan Kiểm lâm người Pháp, đội Kiểm lâm người Nam, Phó tổng vệ lâm, Hương lâm*, thêm mấy người lính lệ. Họ đo súc, đánh dấu. Họ lập tờ cung khai. Họ ra lệnh tịch thu. Họ định dẫn giải ông ta. Nhưng rồi tất cả được xóa bỏ, họ vui vẻ ra đi, chẳng có việc gì xảy ra. Là nhờ một chai rượu.
Theo lời thuật của người làm thì, dẫu sắp là tội nhân ông ta vẫn phải có một bữa mâm cỗ đầy đủ mời mọc. Riêng với quan Tây, may mắn quá, ông có chai rượu, không biết nhãn hiệu gì, không biết giá trị ra sao, bởi thấy cái chai đẹp ông đổi với một người buôn, đặt trên bàn thờ, không nghĩ chuyện khui ra.
Quan Kiểm lâm sáng mắt lên, cầm lấy chai rượu, nhìn ngắm, xem xét hồi lâu, nói một câu dài, líu lo, vui vẻ. Người thông ngôn dịch lại rằng đây là loại rượu đặc biệt, sản xuất đã lâu năm, Pa-Ri chính hiệu.
Nghe thế, ông ta lanh trí bịa ra câu chuyện: Năm kia có một quan Tây qua đây, kết tình thầy trò, biếu ông ta chai rượu. Biết là rượu quý ông ta không dám uống, cũng không thể đem mời ai. Thật là hạnh phúc, hôm nay được gặp người của mẫu quốc. Đó là cái vui lớn trong đời ông ta. Tuy rằng chút nữa đây sẽ lâm cảnh tù tội, ông ta cũng không buồn, vì chai rượu quý của quan Tây trước đã gặp môi tri kỷ của quan Tây này.
Cảm kích vì cái ý nghĩ tốt đẹp ấy người quan Tây hỏi về cây gỗ, rừng núi, hỏi đến đâu, hỏi câu nào ông ta đều trả lời trôi chảy, rành rọt. Người quan Tây bảo ông đưa đi xem một vài nơi, trở lại kết luận rằng ông ta là một người tốt, sở dĩ vi phạm luật lệ Nhà nước vì không hiểu rõ, không được những người có trách nhiệm vệ lâm chỉ bảo, hướng dẫn, đáng được tha thứ.
Sự việc nếu chỉ có thế thì cũng đơn giản. Hai tháng sau khuyết chức Chánh tổng, ông ta được chỉ định thay thế, vượt qua hết mấy tay sừng sỏ: Phó tổng đương nhiệm và các Lý trưởng thâm niên. Không cần họp hương chức trong tổng “bỏ tiêm” ** Hôm ông ta khao mừng quan Tây Kiểm lâm có về dự, bắt tay, vỗ vai ông ta, tiếng đồn khắp cả huyện. Bây giờ sau lưng người ta gọi ông ta là “Chánh Súc”, còn trước mặt chắp tay thưa “Thầy Chánh”.
Làng xóm lần lần có những giải thích về trường hợp Chánh Súc. Người thì bảo rằng, ông Đội Kiểm lâm cho biết, lão Tây này là Tây Cọt ***, Tây nhà quê. Cả đời chưa biết hương vị Pa-Ri, gặp được chai rượu quý là mừng hết lớn, đứng ra che chở cho Chánh Súc. Người thì bảo, qua lời ông Phó tổng vệ lâm, chuyện chai rượu là bày trò che mắt, lão Tây đã thông đồng với Chánh Súc, lúc dẫn đi xem cảnh là lúc Chánh Súc trao túi vàng. Người thì bảo, ông Hương lâm nói, có túi vàng như vậy mà mua cái Chánh tổng uổng quá, mua luôn cái Tri huyện mới ngon.
Người thì bảo, chính Thông ngôn nói ra, tuy là dân đảo, ông Tây Kiểm lâm có bằng cấp cao, hiểu biết nhiều, chỉ vì yếu thế không được trọng dụng. Tây họ cũng phân biệt lắm. Hôm ấy, ngoài chai rượu quý, Chánh Súc còn có chai rượu bọt ngâm trái giấy. Không biết trái giấy tiếng Pháp là gì, người thông ngôn dịch: “rượu ngâm thứ trái cây rừng làm ra văn chương sách vở”. Ông Tây Kiểm lâm uống thấy là lạ, vừa chua, vừa ngọt, vừa nồng… vốn tính mơ mộng, ưa thích thơ ca, suy diễn rằng bên trong con người sống ở miền núi này hẳn ẩn chứa bao triết lý Đông Phương sâu sắc, mới hỏi han nhiều chuyện và hóa thành tâm đắc.
Trong số người giúp việc cho Chánh Súc, Hai Rựa là kẻ lanh lợi siêng năng nhất. Làng Hai Rựa chuyên làm nông, ở ven sông, tục danh là xứ Đồng Sâu, cách nơi Chánh Súc non buổi xuôi bè. Gọi là Hai Rựa, vì tuy là ở đồng bằng, anh ta không có lấy một tấc đất, túp lều che bên bờ mương, hai cây rựa làm thuê nuôi mẹ già. Một cây rựa dày mép hơn dùng chặt tre đốn gỗ, cây rựa kia mỏng mép, bén ngọt, dùng khi chẻ lạt, khi vót nan, khi trau, khi chuốt. Người mẹ già qua đời tháng trước thì tháng sau Hai Rựa bỏ làng ra đi và dừng chân lại trại gỗ Chánh Súc. Chánh Súc thích sự tháo vát của Hai Rựa, song không ưa tánh ngang bướng, hay cãi lại. Ghét Hai Rựa nhất là Sáu Chờ, giữ nhiệm vụ như là trợ lý cho Chánh Súc. Sáu Chờ thấy Hai Rựa tự cao tự đại, ỷ y rằng ta đây là dân dưới đồng. Càng nguy hiểm hơn, có lẽ Hai Rựa muốn giành lấy địa vị của Sáu Chờ và giành cả người con gái của Chánh Súc, Sáu Chờ đang ngấp nghé.
Một hôm Chánh Súc lên huyện về, thấy Hai Rựa đang ôm gọn cô Tư trong lòng, cười cợt với nhau trước cửa nhà lẫm. Tối ấy, Chánh Súc quất cho con gái mười roi thẳng cánh và thở ra mừng rỡ khi cô ta vừa khóc nức nở vừa thề không có chuyện gì cả. Chánh Súc gọi ngay Hai Rựa đến tra vấn. Hai Rựa nói thẳng là thương cô Tư, thành thật muốn kết duyên nợ trăm năm. Chánh Súc cười, đồng ý với điều kiện:
– Rể tao phải là Lý trưởng. Khi nào mày làm Lý trưởng thì được cưới con gái tao, chớ không phải mày cưới con gái tao để được làm Lý trưởng.
Sáng ngày, Hai Rựa cầm chiếc rựa bén đến trước mặt Chánh Súc. Thấy Chánh Súc biến sắc, Hai Rựa nói:
– Tôi không dám làm điều gì quấy, thất lễ với thầy. Xin mời thầy ra sân tôi có chút chuyện thưa.
Chánh Súc đòi phải nói tại chỗ, Hai Rựa cứ nằng nặc xin mời ra sân. Chẳng có gì nguy hiểm, Chánh Súc nghĩ, nháy mắt cho Sáu Chờ. Ba người đứng dưới gốc mít tơ. Hai Rựa nói:
– Có anh Sáu làm chứng. Trước mặt thầy tôi thề sẽ làm Lý trưởng để được cưới em Tư. Người nào không giữ lời mạng sống sẽ thế này.
Hai Rựa chặt phập lưỡi rựa vào thân cây mít tơ ngập đến gần sống. Mủ mít trắng bạch ứa ra rồi chảy xuống. Anh ta lặng lẽ bỏ đi. Biệt tích.
Hai năm sau, Hai Rựa trở về Đồng Sâu, đội mũ nỉ, mặc đồ Tây, đi giày, nói giọng Sài Gòn, thỉnh thoảng xen vào vài ba tiếng Tây. Hai Rựa bỏ tiền mua đất, mua ruộng, cất nhà, cất trường học. Một năm sau nữa, Hai Rựa làm Lý trưởng, người đời gọi là Xã Rựa. Ở huyện trên Chánh Súc có nghe tin ấy. Chánh Súc cũng nghe, ở phủ dưới, Xã Rựa là tay cừ trong đám lý hương, dám nói tiếng Tây với quan Công sứ. Chánh Súc muốn bắn tin nhắn, song e ngại miệng thế gian chế giễu cho là chuyện cột đi tìm trâu. Chắc là Xã Rựa đã quên cô gái.
Chánh Súc nhận lời gả con cho Sáu Chờ hôm trước thì hôm sau Xã Rựa đến, với đầy đủ tư cách bề thế. Lưỡi rựa năm nào còn đó, cây mít lớn lên đưa nó lên cao hơn, vết thương lành, lấp sâu lưỡi rựa vào thân, chỗ ấy có một cục bướu, phía trên là nhánh cháng ba.
Sự kiêu căng thách thức giấu dưới cái vỏ lễ độ, Xã Rựa nói:
– Thầy cứ việc nhổ cái lưỡi rựa thề nguyền ấy ra là xong. Hồi đó thầy đòi tôi phải làm Lý trưởng chớ không nói thời hạn. Năm năm, bảy năm hay mười năm nữa cũng vậy thôi. Mà anh Sáu là người làm chứng.
Chánh Súc không cần nhổ lưỡi rựa ra, cũng không thấy khó khăn gì khi quyết định. Ông ta gọi Sáu Chờ lại, nói:
– Mày đã biết tao nói với Hai Rựa. Mày cũng biết tánh tao. Bây giờ lựa chọn thì dĩ nhiên tao chọn Xã Rựa. Mày cứ bắt chước nó, kiếm đâu ra chức Lý trưởng, thành Xã Chờ, còn đứa con gái út đó, tao cho nó làm bà Xã Chờ.
Việc hôn nhân giữa Xã Rựa và cô Tư tiến hành từng bước theo đúng nghi lễ. Chỉ có một việc nhỏ phải bàn là đón dâu. Chánh Súc muốn Xã Rựa đem một đoàn ngựa lên rước họ gái. Xã Rựa thưa rằng, cha con mình đã sống với núi rừng, với cây gỗ, với tre trúc, với những chiếc bè bồng bềnh trên sông nước, thì hay nhất là đi bè. Lạ đời hơn thiên hạ. Chánh Súc ban đầu thấy hơi sao sao, khó coi, sau Xã Rựa nói ngọt quá, cũng ngộ đấy, xuôi tai, đồng ý.
Ngày cưới, Xã Rựa cho đóng chiếc bè lớn, tre mỡ hoành hai gang tay, suôn đuột. Một mái vòm lợp tranh dành cho cô dâu. Đầu bè buộc chặt chiếc ghế gỗ quý, che lọng, dành cho cha vợ. Làng họ ngồi trên chồ, mỗi ông bà có đứa trẻ Xã Rựa thuê cầm dù che.
Từ huyện xuống phủ sông Lớn đã rộng lòng, hiền hòa, chỉ còn có mỗi một gành nhỏ nơi đầu làng Đồng Giữa, có những gộp đá, bầy nai thường ra uống nước, gọi là Gành Nai. Ghe sõng thì đi theo một con mương gọi là Mương Tránh. Bè không thể theo mương, bè phải vượt gành. Những người chống bè qua đây cẩn thận quá, đâm ra luống cuống, để lạc sào, chiếc bè tròng trành, nghiêng ngửa, lảo đảo, nhiều người trong các bà các cô ré lên. Chánh Súc đang ung dung ngắm nhìn trời mây, hốt hoảng níu lấy Xã Rựa đứng bên cạnh, cả hai loạng choạng ngã xuống sàn bè, ướt loi ngoi tất cả áo dài, khăn xếp.
Bực mình, Chánh Súc cởi áo, tháo khăn. Xã Rựa làm theo. Nhiều ông trong họ ướt áo cũng làm như thế. Trên bè thành ra toàn những người đàn ông ở trần, có ông mặc quần lưng vận, buộc bằng mảnh vải lớn, bỏ lòng thòng. Dân làng Đồng Giữa túa ra xem đám cưới, chỉ trỏ, reo cười ầm ĩ.
Không biết ai đó nhanh nhẩu ứng khẩu làm mấy câu vè cho trẻ con hò hát vang lên:
Tiếng đồn Xã Rựa Đồng Sâu
Cưới con Chánh Súc rước dâu bằng bè.
Rước thì đi sõng đi ghe
Lại đi bằng bè, sao khỏi Gành Nai.
Coi kìa… cởi áo vắt vai
Hai làng hai họ biết ai mà chào… *
Tháng 6 năm 1994, dòng dõi Xã Rựa có người là nghiên cứu sinh ở Paris. Chị đọc được từ một tạp chí Pháp, bài “Những chuyện cũ Đông Dương”. Tác giả trích một đoạn hồi ký của một người từng làm quan cai trị thời thuộc địa, nói về chuyện rước dâu bằng bè. Theo lời tác giả, người Pháp ấy là cha đỡ đầu của cô dâu, có đi họ gái trong đám cưới.
Chị tìm đến địa chỉ tác giả bài báo: số 9 Avenue Mac-Mahon thì ông Jacque Minerais đã lâu không còn ở đây nữa…
Trần Huiền Ân
(Trích từ tập truyện Gió Sang Ngày, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Yên – 2025)
(Trích từ tập truyện Gió Sang Ngày, Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Yên – 2025)
——–
* Thời Pháp thuộc tại vùng thôn quê miền núi Nam Trung Bộ mỗi tổng có chức Phó tổng vệ lâm, mỗi làng có chức Hương lâm, lo nhiệm vụ bảo vệ lâm phần.
** Bỏ tiêm: bỏ phiếu bầu cử. Theo quy định của Nam triều khi khuyết chức Chánh tổng thì Phó tổng được đôn lên thay thế hoặc chọn trong số các Lý trưởng thâm niên làm ứng viên đưa ra bầu cử, cử tri là toàn thế lý hương trong tổng.
*** Cọt: đảo Corse
* Thời Pháp thuộc tại vùng thôn quê miền núi Nam Trung Bộ mỗi tổng có chức Phó tổng vệ lâm, mỗi làng có chức Hương lâm, lo nhiệm vụ bảo vệ lâm phần.
** Bỏ tiêm: bỏ phiếu bầu cử. Theo quy định của Nam triều khi khuyết chức Chánh tổng thì Phó tổng được đôn lên thay thế hoặc chọn trong số các Lý trưởng thâm niên làm ứng viên đưa ra bầu cử, cử tri là toàn thế lý hương trong tổng.
*** Cọt: đảo Corse
