
Ảnh: Pixabay
Người Việt Nam gọi chúng tôi là Thuốc Lá. Tổ tiên chúng tôi gốc ở Bolivia, vùng Nam Mỹ và Mexico vùng Trung Mỹ.
Về ngoại hình dòng họ chúng tôi cao đến 2m; thân bộng ruột, lá to, dày và hơi nhám. Hoa màu trắng-xanh nhạt, phớt hồng hay hồng đậm, có 5 cánh; trái tròn, nhỏ và có nhiều hột.
Ông Christopher Columbus là người Âu Châu đầu tiên đến quần đảo Hispaniola (1) năm 1492 và được người bản địa giới thiệu với ông về Thuốc Lá.
Năm 1560 Jean Nicot de Villemain (1530 - 1604), một học giả và đại sứ Pháp ở Bồ Ɖào Nha đem lá và hột Thuốc Lá về Pháp dưới triều vua Charles IX (1550 - 1574, Vua: 1560 - 1574). Chất nicotine trong Thuốc Lá và dòng Nicotiana trong tên khoa học đặt theo tên Jean Nicot của ông.
Tên khoa học của cây Thuốc Lá là Nicotiana tabacum, gia đình Solanaceae của cà chua, cà tím.

Cây Thuốc Lá (Ảnh: strictlymedicinalseeds.com)
Tên gọi thông thường:

Cây Thuốc Lá mọc hoang và đã được thổ dân ở Trung Mỹ và Nam Mỹ sử dụng 6.000 năm trước Tây Lịch. Dưới thời văn hóa Maya (250 - 900 sau Tây Lịch) và Aztec (thế kỷ XV - XVI) thổ dân dùng Thuốc Lá như thuốc đắp, thuốc hít hơn là thuốc hút. Thuốc Lá được hút như một phương cách chữa bịnh suyễn của thổ dân Trung Mỹ và Nam Mỹ thời xưa.

Hoa Thuốc Lá (Ảnh: terrepromise.ca)
Cây Thuốc Lá gắn liền với các thủy thủ Tây Ban Nha và Bồ Ɖào Nha, hai quốc gia sớm phát triển hàng hải và khám phá tân thổ ngoài lục địa Âu Châu. Mấy anh chàng này làm cho Thuốc Lá chúng tôi sống dậy để thoát khỏi thời hoang dại tự tìm thức ăn, thức uống và chiến đấu chống bọn sâu rầy gây bịnh tật và sự tử vong. Nhưng họ cũng gặp phải nhiều cảnh lao đao trong quá trình sống trên thế gian uẩn khúc này. Anh chàng Rodrigo de Jerez là người Tây Ban Nha đầu tiên hút Thuốc Lá trên đảo Cuba. Anh đem thói quen hút Thuốc Lá và hít Thuốc Lá về xứ và bị Tòa Án Dị Giáo (Holy Inquisition) bắt nhốt và xử 7 năm về tội quảng bá văn hóa Aztec về Tây Ban Nha.

Hạt Thuốc Lá (Ảnh: ebay.com & weberseeds.nl)
Người Bồ Ɖào Nha có ảnh hưởng ở Brazil, Nam Mỹ. Họ trồng Thuốc Lá ở các cảng có thuyền bè của người bồ Ɖào Nha đậu. Không bao lâu Thuốc Lá được bán ra thị trường Âu Châu từ Brazil vào cuối thế kỷ XVI. Thuốc Lá được đề cao công khai khi có sách cho biết nó có thể chữa nhiều thứ bịnh của loài người!
Tiền nhân dòng Nicotiana được một người Anh tên John Rolfe (1585 - 1622) định cư ở Jamestown, Virginia, trồng thành đồn điền để bán lá thuốc (1612). Các ngài Nicotiana thích hợp với những vùng đất có ánh sáng mặt trời và khí hậu bán nhiệt đới. Dòng họ Nicotiana được trồng nhiều ở North Carolina, Kentucky, Tennessee. Tiền nhân chúng tôi thăm viếng Âu Châu vì người Tây Ban Nha và Bồ Ɖào Nha là những người đã khám phá ra Bắc Mỹ, Trung Mỹ và Nam Mỹ nên sớm biết cây Thuốc Lá.
Người Tây Ban Nha đưa hột giống cây Thuốc Lá sang đế quốc Ottoman trên liên lục địa Á-Âu-Phi Châu. Bulgaria, Hy Lạp, Macedonia là những quốc gia Ɖông Âu đầu tiên trồng cây Thuốc Lá.
Tây Ban Nha biến quần đảo Phi Luật Tân thành thuộc địa của họ từ năm 1570. Năm 1592 họ đưa hột giống Thuốc Lá trồng trong thung lũng Cagayan, đông bắc đảo Luzon. Ngay từ năm 1530 các giáo sĩ Tây Ban Nha giảng đạo trong địa phận tỉnh Thái Bình. Có phải chăng hột giống cây Thuốc Lá đến miền Bắc Việt Nam vào thời kỳ này (thế kỷ XVI).
Có phải chăng cây Thuốc Lá xuất hiện ở phía Nam vĩ tuyến 18 là do ảnh hưởng của người Bồ Ɖào Nha mà ra?

Thu hoạch Thuốc Lá trong một đồn điền thời Pháp thuộc ở Bắc Kỳ (Ảnh: entreprises-coloniales.fr)
Các nhà truyền giáo Bồ Ɖào Nha thuộc dòng Jesuit đến cửa Hàn, Ɖà Nẵng thuộc Ɖàng Trong vào năm 1615. Năm 1617 giáo sĩ Francisco de Pina đến Thanh Chiêm, xã Ɖiện Phương, huyện Ɖiện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Vị giáo sĩ này giảng đạo Thiên Chúa bằng tiếng Việt. Chính ông là người La Tinh hóa tiếng Việt, nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt và viết cuốn Tự Ɖiển Việt-Bồ-La Tinh đầu tiên. Giáo sĩ Francisco de Pina thực sự là cha đẻ của chữ Quốc Ngữ. Giáo sĩ Alexander de Rhodes học tiếng Việt và đầu tư vào việc nghiên cứu chữ Quốc Ngữ vì chịu ảnh hưởng của vị giáo sĩ này.
Vào thế kỷ XVI người Bồ Ɖào Nha là người Âu Châu đầu tiên đến Ấn Ɖộ, Mã Lai và Indonesia. Quốc gia được vương triều Bồ Ɖào Nha lưu tâm hàng đầu là Trung Hoa.
Năm 1542 Nhật Bản biết đến cây Thuốc Lá qua các thủy thủ Bồ Ɖào Nha. Người Bồ Ɖào Nha chiếm Ma Cao của Trung Hoa năm 1557. Các giáo sĩ Bồ Ɖào Nha dòng Jesuit giảng đạo Thiên Chúa ở Kagoshima, miền Nam nước Nhật, năm 1542.
Con cháu dòng Nicotiana từ Mỹ Châu được chở bằng đường biển đi khắp thế giới. Ɖi đến đâu họ cũng bị dư luận chống đối dữ dội. Những người chủ trương trồng và dùng Thuốc Lá không dễ dàng đầu hàng trước những người chống đối việc nhai, hít và hút thuốc lá. Những người chống đối Thuốc Lá không tin nhai, hít và hút Thuốc Lá có thể chữa được nhiều loại bịnh.
Cây Thuốc Lá trở thành cây kỹ nghệ và thương mại mang nhiều lợi nhuận nhanh chóng cho người trồng. Cây trồng bằng hột. Theo kinh nghiệm trồng Thuốc Lá của người Việt Nam, dòng họ Nicotiana được bón phân bánh Ɖậu Phộng tán nhuyễn. Việc hái lá thuốc được tiến hành sau 100 - 130 ngày trồng. Lá Thuốc Lá được xắt nhuyễn, trải mỏng trên liếp tre rồi dùng chân giẫm và đem phơi khô. Dòng họ Nicotiana được sắp xếp thành những gộp thuốc với những bánh thuốc mỏng, kích thước trung bình khoảng 1 x 40 x 50cm.

Thuốc rê, thuốc xỉa ở Việt Nam (Ảnh internet)
Có khi họ bị se nhuyễn ra và cho vào đó chút mật đường cho có hương vị hấp dẫn. Dòng Nicotiana được dùng làm thuốc xỉa để các phụ nữ Việt Nam ăn Trầu. Họ là thuốc nhai, thuốc xỉa, thuốc hít và thuốc hút. Thuốc Lá được các shaman (pháp sư, thầy cúng) dùng để chữa bịnh. Nó cũng được dùng trong nghi thức tôn giáo thời văn hóa Aztec hay Maya ở Mỹ Châu.
Rời khỏi Mỹ Châu, cây Thuốc Lá trở thành thuốc hút. Cây Thuốc Lá sống âm thầm trong các đồn điền ở Bắc Mỹ, Ɖông Âu, Trung Ɖông, Nam Á và Ɖông Nam Á. Ɖó là loại cây “kỹ nghệ” và thương mại mang lợi nhuận cho chủ đồn điền trong vòng 3 - 4 tháng sau khi trồng. Khởi thủy người ta vấn thuốc lá xắt nhuyễn bằng giấy rồi bật lửa lên đốt điếu thuốc để hút. Trong đệ nhị thế chiến người nông thôn Việt Nam vấn thuốc với giấy “nhựt trình” (báo hàng ngày), lá Chuối khô hay lá Cò Ke khô (2). Vấn thuốc bằng giấy quyến và dùng diêm quẹt hay bật lửa là một tiến bộ lớn trong thuật hút Thuốc Lá. Người Tây phương và một số thị dân giàu có ở phương đông hút thuốc bằng ống điếu (pipe).
Giới trung lưu thành phố hút thuốc điếu (cigarette), thuốc xì-gà (cigar). Thuốc xì-gà rất nặng vì điếu thuốc được vấn chặt lại thuần bằng nhiều lá thuốc. Hàm lượng nicotine trong điếu xì-gà rất cao. Cuba là quốc gia nổi tiếng với thuốc xì-gà Havana. Thủ tướng Winston Churchill (1874 - 1965), nhà chánh trị lỗi lạc của Anh, là người thích hút thuốc xì-gà. Ông hút Thuốc Lá liên hồi nhưng vẫn thọ đến 91 tuổi.
Ở Bắc Bộ có Thuốc Lào Vĩnh Bảo, Hải Dương rất nổi tiếng. Có thuyết cho rằng Thuốc Lào hay cỏ tương tư đến Ɖàng Ngoài từ Lào dưới triều vua Lê Thần Tôn (1607 - 1662, vua: 1619 - 1643). Thuốc Lào mang tên khoa học Nicotiana rustica, một loại Thuốc Lá gốc ở Mexico. Người Anh gọi Thuốc Lào là Aztec tobacco (Thuốc Lá của người Aztec). Người miền Bắc Việt Nam thích hút Thuốc Lào. Thuốc Lào có tỷ lệ nicotine C10H14N2 rất cao (9%).

Cây, lá và hoa Thuốc Lào (Ảnh internet)
Thuốc Lào được ca ngợi trong một bài thơ khuyết danh như sau:
Nhớ ai như nhớ Thuốc Lào
Ɖã chôn điếu xuống lại đào điếu lên
Ɖã chôn điếu xuống lại đào điếu lên
Sau năm 1975 nhiều người miền Nam học tập cải tạo tập hút Thuốc Lào để dùng khói thuốc làm tạm tan biến ưu phiền đến không nghĩ đến sự tác hại của nicotine đối với phổi, tim, cuống họng và đường ruột.
Trầu Cau và Thuốc Lá trở thành vật xã giao trong xã hội Việt Nam thời xưa. Răng và móng tay người hút thuốc bị nhuộm vàng vì nhựa thuốc dồi dào nicotine. Thuốc lá ngon là thuốc lá có nhiều nicotine, có nhựa thơm và vị cay nồng. Từ đó có câu:
Nhất gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu.
Thuốc Lá bị chê là Thuốc Lá trồng trên đất phèn.
Công ty sản xuất thuốc điếu lâu đời nổi tiếng trên thế giới là Công Ty Estanco de Tabaco en España ở Tây Ban Nha, ra đời vào năm 1636.
Các hiệu Thuốc Lá lâu đời nổi tiếng trên thế giới đều do các công ty Anh và Hoa Kỳ sản xuất vào thế kỷ XIX.
Hiệu Thuốc Lá lâu đời nhất là thuốc điếu Muratti ra đời năm 1821 ở Thổ Nhĩ Kỳ do Công Ty Anh và Ɖức đảm nhiệm.

Logo của hiệu thuốc điếu Philipp Morris từ năm 1885 - 1918 (Ảnh: logos-world.net)
Thuốc Philip Morris của Hoa Kỳ xuất hiện năm 1847. Ɖây là hiệu thuốc điếu nổi tiếng của Hoa Kỳ. Theo các sử gia ngoại quốc thì chủ tịch Hồ Chí Minh là người hút nhiều thuốc Philip Morris. Ngày nay lợi nhuận về thuốc điếu giảm chút ít. Dù vậy năm 2023 hiệu thuốc điếu Philip Morris mang về cho công ty 80,7 tỷ Mỹ kim. Công ty Philip Morris sản xuất thuốc điếu Marlboro bán nhiều nhất trên thế giới (40% tổng số thuốc điếu sản xuất trên thế giới).
Thuốc điếu State Express 555 mà người Việt quen gọi là thuốc Oanh Tạc Ba Số 5 xuất hiện ở Anh năm 1896.
Thuốc điếu Capstan Navy Cut xuất hiện năm 1894 ở Anh.
Thuốc điếu Lucky Strikes (Anh) ra đời năm 1871. Nhìn chung thuốc điếu của Anh đều được ưa chuộng vì có chất lượng cao.
Hai hiệu thuốc điếu của Pháp là Gitanes và Gauloises ra đời vào năm 1910.
Lá thuốc thu hoạch ở địa phương được chuyển đền công ty sản xuất thuốc điếu MIC - Manufactures indochinoises de Cigarettes - vào thời Pháp thuộc ở Việt Nam (Ảnh: entreprises-coloniales.fr)
Công ty sản xuất thuốc điếu của Pháp ở Việt Nam là MIC (Manufactures indochinoises de Cigarettes) nằm trên đường 11ème RIC (Régiment d’Infanterie Coloniale), sau này là đường Nguyễn Hoàng ở Chợ Lớn. Hãng MIC được thành lập vào năm 1929.Các hiệu thuốc điếu lâu đời ở Việt Nam là thuốc Jobs, Bastos, Mic, Melia, Cotab. Tất cả đều chưa có đầu lọc. Mãi đến thập niên 1950 số người hút thuốc vấn ở Việt Nam vẫn còn cao. Chỉ có thị dân hút thuốc điếu và uống nước máy tức nước “phông tên” (fontaine) như sự nhận xét của người Nam Bộ thời bấy giờ. Ấn dấu trưởng giả và hạnh phúc của thị dân Nam Bộ thời kháng chiến 9 năm là uống cà phê sữa và hút thuốc Cotab mỗi buổi sáng.

Mic, sản phẩm của Công Ty MIC, tiền thân của Công Ty Thuốc Lá Sài Gòn (Vinataba). (Ảnh internet)
Thuốc điếu bán ngoài thị trường trong đệ nhị thế chiến đều chưa có đầu lọc mặc đù thuốc điếu đầu lọc Parliament của Công Ty Philip Morris đã được giới thiệu từ năm 1931. Năm 1936 có thuốc đầu lọc Viceroy của Công Ty Thuốc Lá Anh-Hoa Kỳ.

Thuốc đầu lọc nhằm giảm bớt nicotine thực sự phổ biến mạnh mẽ ở Hoa Kỳ và Anh Quốc vào thập niên 1950. Thuốc điếu đầu lọc Salem do ITG Brands, chi nhánh của Công Ty Imperial Tobacco của Hoa Kỳ và Công Ty Japan Tobacco sản xuất năm 1956. Ɖó là một loại thuốc đầu lọc nhẹ có hương vị bạc hà được nhiều người mới hút thuốc, nhất là phụ nữ, ưa thích. Ngay trong năm đầu sản xuất có 4 tỷ điếu thuốc Salem được tiêu thụ. Ɖến năm thứ hai con số này tăng lên đến 11 tỷ điếu (mỗi gói thuốc có 20 điếu).
Gói thuốc điếu đầu lọc Salem trong thập niên 1970 ở phía Nam vĩ tuyến 17 (Ảnh internet)Quân sĩ Hoa Kỳ chiến đấu trên chiến trường phía nam vĩ tuyến 17 được phân phối các hiệu thuốc điếu Salem, Winston, Lucky Strikes, Parliament, Chesterfield, Pall Mall, Marlboro. Thuốc Salem được dân miền Nam biết nhiều hơn cả. Thuốc Salem gắn liền với câu ”OK Salem!” trên đầu môi trẻ em Việt Nam ở phía nam vĩ tuyến 17 thời chinh chiến. Lúc ấy các hiệu thuốc lá thường thấy ở Sài Gòn là thuốc lá Quân Tiếp Vụ, Capstan, Ruby, Cotab, Melia. Thuốc điếu Mỹ được tiêu thụ nhiều ngoài thị trường là Salem, Pall Mall, Winston.

Vài hiệu thuốc lá trong thời Việt Nam Cộng Hòa (Ảnh internet)
Sau năm 1975 các hiệu thuốc điếu thông dụng trong nước đại cương có Sài Gòn Giải Phóng, Ɖà Lạt, Phù Ɖổng, Vàm Cỏ, Hoa Mai, Thăng Long, Ɖiện Biên, Trường Sơn v.v.. Nhiều căn nhà trong vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Ɖịnh trở thành nơi sản xuất thuốc điếu bằng lá Thuốc Lá xắt nhuyễn trộn với lá Khoai Mì (Sắn) (3) thái nhuyễn phơi khô. Thuốc điếu ngoại quốc nhập lậu vào Việt Nam là thuốc Samit của Thái Lan và sang hơn là thuốc State Express 555, Craven A của Anh.

Vài hiệu thuốc lá ở Việt Nam sau 1975 trong thời bao cấp (Ảnh internet)
Hiện nay Việt Nam có Công Ty Thuốc Lá Vinataba và nhiều nhà máy sản xuất thuốc điếu ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Ɖà Nẵng, Khánh Hòa, TP Hồ Chí Minh, Ɖồng Nai (Biên Hòa cũ). Việt Nam theo gương Cuba sản xuất thuốc xì-gà. Thuốc điếu ở Việt Nam được xem là rẻ vì Thuốc Lá ở Việt Nam không bị đánh thuế cao.
Mặc dù thuốc hút gây ra nhiều bịnh tử vong do sự tàn phá của khói thuốc, chất nicotine ảnh hưởng vào phổi, tim, yết hầu, bao tử và ruột. Người không hút thuốc nhưng hít khói thuốc cũng bị bịnh như người hút thuốc. Số người chết vì Thuốc Lá trên thế giới lối 3 triệu người vào thập niên 20 của thế kỷ XXI. Người ta ước lượng số tử vong này sẽ lên đến 10 triệu trường hợp vào năm 2030.
Dẫu thiên nan vạn nan, Thuốc Lá vẫn tồn tại vững mạnh vì mang lại cho công ty thuốc điếu và quốc gia sản xuất một nguồn lợi to lớn hàng năm. Ngày xưa, thời nhà Minh và nhà Thanh ở Trung Hoa, có lịnh hành hình những người bán và dùng thuốc lá.
Ngày nay ở Hoa Kỳ, dân chúng không được hút thuốc lá trong văn phòng làm việc, nhà hàng, quán tiệm, vẫn biết rằng các công ty Thuốc Lá Hoa Kỳ như Philip Morris thu hàng tỷ Mỹ kim mỗi năm nhờ bán thuốc điếu đầu lọc trên 40 quốc gia trên thế giới.
Mức sản xuất Thuốc Lá (tobacco) hàng năm trên thế giới lối 6 triệu tấn. Các quốc gia sản xuất nhiều Thuốc Lá gồm có:
1. Trung Quốc chiếm 30% tổng sản lượng Thuốc Lá hoàn cầu.
2. Ấn Ɖộ.
3. Brazil.
4. Indonesia.
5. Hoa Kỳ.
Anh Quốc không sản xuất nhiều Thuốc Lá nhưng quốc gia này có lợi nhuận trị giá 21 tỷ Mỹ kim nhờ bán thuốc điếu danh tiếng của họ như State Express 555, Craven A, Mayfair, Players, Rothmans, Windsor, Davidoff, West and Winston, Richmond, Carlton.
Hoa Kỳ thu 83 tỷ Mỹ kim nhờ bán thuốc điếu nổi tiếng như Philip Morris, Marlboro, Pall Mall, Salem v.v.. Sở thuế thu 10,3 tỷ Mỹ kim về thuốc hút. Ɖó là con số không thể bỏ qua được.
Sự tiêu thụ rượu, Trà, Cà Phê, Thuốc Lá phát xuất từ những hoàn cảnh buồn bã, lo âu không mấy lạc quan. Càng lo âu, càng buồn, càng tuyệt vọng, người ta càng dùng rượu, Trà, Cà Phê, Thuốc Lá để tiêu sầu hầu tạm quên đi cảnh buồn trước mặt. Tỷ lệ hút thuốc cao, thấp do lượng sự lo âu, phiền não của người dùng nó. Sau năm 1975 số người hút Thuốc Lá, uống rượu tăng cao ở phía nam vĩ tuyến 17 cho thấy số người rơi vào cảnh lo lắng, buồn rầu, tuyệt vọng tăng cao.
Nhận xét trên chỉ đúng 50%. Thực tế rượu, Trà, Thuốc Lá, Cà Phê luôn luôn có mặt trong những biến cố lớn trong đời người như quan, hôn, tang, tế. Từ thập niên 60 của thế kỷ XX cho đến cuối thế kỷ này, thuốc thơm đầu lọc và hộp quẹt Zippo vẫn còn là phương tiện xã giao lịch sự sơ đẳng trong xã hội miền Nam.
Hiện nay Việt Nam có trên 15 triệu người hút thuốc điếu. Trong số này có gần 1 triệu phụ nữ. Trước năm 1950 phụ nữ và trẻ em ở nông thôn từ 12 tuổi trở lên đã biết hút thuốc lá. Tỷ lệ người hút thuốc ở Việt Nam hiện nay lối 22% trên tổng số gần 102 triệu dân.
Dưới đây là tỷ lệ người hút thuốc ở vài quốc gia trên thế giới:

Dân hải đảo Nam Thái Bình Dương và các nước Ɖông Âu trên bán đảo Balkans có tỷ lệ người hút thuốc điếu cao trên thế giới. Ɖiều đó phản ảnh ít nhiều sự phát triển kinh tế, xã hội, giáo dục và y tế còn khiêm tốn ở các nước ấy.
Xưa kia người bản địa ở Mexico hay Nam Mỹ dùng lá Thuốc Lá làm thuốc đắp khi nhức đầu, khi có vết thương cần cầm máu, sắc nước uống để trục lãi, lóng đàm, gây buồn nôn. Ngày nay việc dùng Thuốc Lá trong trị liệu hầu như không còn nữa.
Cà Phê và Thuốc Lá luôn luôn đi đôi. Cả hai chúng tôi đều cùng chung hoàn cảnh: rời bỏ nơi chôn nhau cắt rún để sống muôn phương trên Ɖịa Cầu.
Anh chị Cà Phê thuộc văn hóa Hồi Giáo. (Xem Cà Phê tâm sự của cùng tác giả: https://caidinh.com/trangluu1/khoahockythuat/caphetamsu.html).
Thuốc Lá chúng tôi thuộc văn hóa Aztec và Maya.
Anh chị Cà Phê có caffeine.
Thuốc Lá chúng tôi có nicotine và nhiều alkaloids độc khác.
Xem chung, loài người không ngán caffeine và cũng không nể sợ nicotine. Các nhà nghiên cứu của loài người thuộc dạng trán cao kiếng dày không ngớt đưa ra những ý kiến bất lợi cho chúng tôi. Nhưng chúng tôi không chết vì trong cuộc sống nào cũng có sự đấu tranh giữa Tốt và Xấu, Hiền và Dữ.
Cái Tốt-Hiền luôn thụ động.
Trái lại cái Xấu-Dữ luôn năng động.
Nhận xét thông thường về tỷ lệ Tốt-Hiền và Xấu-Dữ trong xã hội loài người như sau:
Xấu-Dữ: 49%.
Tốt-Hiền: 51% bao gồm Tốt-Hiền + Trung Dung.
Năng Ɖộng thắng Thụ Ɖộng là chuyện thường xảy ra (Năng Ɖộng > Thụ Động). Phải mất một thời gian nào đó Thụ Ɖộng (Tốt-Hiền và Trung Dung) biến thành Hành Ɖộng mới mong thắng được Năng Ɖộng (Xấu-Dữ). Sự vật lộn giữa Tốt-Hiền và Xấu-Dữ không bao giờ dứt và không có kết quả chung cuộc. Thành phần Trung Dung quyết định sự Thắng-Thua bằng sự nhập cuộc (Thắng) hay sự bàng quan (Thua) của thành phần này. Vũ trụ tiến hóa trong vòng luẩn quẩn như thế trong thời gian vô định.
Vạn vật không thiếu cũng không thừa. Không có vật gì hiện diện trong vũ trụ mà không có chức năng và nhiệm vụ riêng. Từ xưa vẫn có câu: Lấy độc trị độc. Người hiền lành không thể thắng người dữ. Cây cải xà lách không có dược tính trị ác tật như ung thư, viêm gan, cổ trướng chẳng hạn. Chỉ có người dữ mới thắng người dữ mà thôi. Ɖó là lấy độc trị độc. Nhân loại há không dùng nọc rắn để làm thuốc?
Nicotine từng được làm thuốc diệt trừ sâu bọ, làm gia tăng testosterone, phục hồi trí nhớ cho bịnh Alzheimer (Alzheimer’s Disease), PD (Parkinson’s Disease), ảnh hưởng đến tuyến giáp trạng không sản xuất đủ kích thích tố (hypothyroidism).
Tôi, Lão Bà Thuốc Xỉa Gò Vấp, không biết nhiều về các vấn đề rộng lớn trên vũ trụ vì chỉ sống luẩn quẩn quanh vùng Gò Vấp, Hạnh Thông Tây và Bà Ɖiểm để lo việc Trầu, Cau và Thuốc Xỉa mà thôi. Tôi không nắm vững số người hút thuốc trên thế giới hiện nay tăng hay giảm. Cũng không biết số tiền bán Thuốc Lá nhiều hay ít trong thương mại kinh tế quốc gia.

Một vị quan lại đang hút Thuốc Lào (Ảnh: entreprises-coloniales.fr)
Tại quê hương tôi vui cũng có Rượu, Trà, Cà Phê, Thuốc Lá mà buồn cũng có đủ bốn “tên” ấy. Thuở hàn vi hút thuốc vấn bằng là Chuối khô, lá Cò Ke phơi khô mà đã có câu:
Gái một con
Thuốc ngon nửa điếu.
Thuốc ngon nửa điếu.
*
Nhớ ai như nhớ thuốc Lào.
*
Ɖiếu thuốc, miếng Trầu là đầu câu chuyện
Yêu nhau miếng Trầu,
Quí nhau điếu thuốc.
Quí nhau điếu thuốc.
*
Anh mời tôi điếu thuốc,
Tôi kể chuyện đắng cay.
Tôi kể chuyện đắng cay.
(Hoàng Thi Thơ)
Trong câu đầu của bài hát Một Chút Quà Cho Quê Hương, Việt Dzũng viết: Em gởi về cho anh dăm bao Thuốc Lá. Trong cảnh thiếu thốn đủ thứ mà Thuốc Lá vẫn là món quà hàng đầu của người viễn xứ gởi về cho người thân trong nước.
Bây giờ cuộc sống thăng hoa. Các hiệu thuốc điếu ngoại quốc nổi tiếng như Dunhill, Marlboro, Philip Morris, Craven A, Camel, State Express 555 v.v. đều có bán trong nước. Hút để quên đi thời hút thuốc điếu pha trộn Thuốc Lá với lá Khoai Mì phơi khô. Hút cho biết hương vị sang giàu của thuốc điếu đầu lọc ngoại quốc. Số người hút xì-gà và uống rượu nặng độ trong nước gia tăng. Họ thi đua thuật hút thuốc xì-gà với thủ tướng Churchill của Anh Quốc và người hùng Fidel Castro của Cuba. Hai nhà lãnh đạo này nổi tiếng hút nhiều thuốc xì-gà mỗi ngày. Một người sống đến 91 tuổi (Winston Churchill, 1874 - 1965) và một người sống đến 90 tuổi (Fidel Castro, 1926 - 2016). Ɖây là hai ngoại lệ về tuổi thọ của người hút nhiều Thuốc Lá. Ɖiều cần nhớ là cả hai vị này đều là những nhà lãnh đạo quốc gia được dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe đầy đủ mỗi ngày nên mới có tuổi thọ cao như vậy.
Quê hương tôi có 22% dân số hút thuốc điếu. 1% trong số đó là phụ nữ hút thuốc đầu lọc nhẹ. Hút thuốc bây giờ là hưởng thụ thuốc điếu thơm ngoại quốc, tàn thuốc và khói thuốc trắng, đầu lọc không gây vàng răng hay vàng móng tay cầm thuốc. Người âu sầu, lo lắng vì cuộc sống khó khăn vẫn hút thuốc vấn bằng giấy quyến mỏng, thuốc cháy đều và chậm, tàn thuốc màu trắng trông đẹp mắt hơn điếu thuốc vấn cách đó trên ba phần tư thế kỷ.
Lão Bà Thuốc Xỉa Nicotiana tabacum Gò Vấp, Gia Ɖịnh.
Phạm Ɖình Lân, F.A.B.I.
_______
Chú thích:
(1): Hispaniola là những đảo trong biển Caribbean, nơi Christopher Columbus đặt chân lên lần đầu tiên vào năm 1492. Hispaniola bao gồm các nước Haïti, Cộng Hòa Dominican ngày nay. Cạnh đó là đảo Cuba và Jamaica.
(2): Cây Cò Ke là thảo mộc miền nhiệt đới và bán nhiệt đới. Tên khoa học của cây Cò Ke là Grewia asiatica, gia đình Tiliaceae. Người Anh gọi là Falsa tree (gọi theo người Ấn Ɖộ); Ấn Ɖộ: Falsa; Pháp: Raisin d’Inde (Nho Ấn Ɖộ. Mặc dù trái Cò Ke ăn được nhưng không có hương vị gì rõ rệt). Vào thế kỷ XXI người ta phát hiện lá Cò Ke có khả năng trị ung thư vú (breast cancer) và ung thư gan.
(3): Người miền Nam gọi Sắn là Khoai Mì. Người Anh gọi là Cassava; Pháp: Manioc v.v.. Tên khoa học là Manihot dulcis, gia đình Euphorbiaceae. Khoai Mì có nhiều độc chất như thiocynate CNS, linamarin C10H17NO6, lotaustralin C11H19NO6, cyanogenic glycosides. Sau khi khử độc chất bằng cách nấu chín hay ngâm và xả nước nhiều lần, khi ủ Khoai thành bột, Khoai Mì trở thành nguồn thực phẩm to lớn đối với các dân tộc sống trong miền xích đới, nhiệt đới và bán nhiệt đới (Xem Khoai Mì (Sắn) tâm sự của cùng tác giả: https://caidinh.com/trangluu2/khoahocdoisong/khoaimitamsu.html).






























