User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
keduaduong
 hình trên trang https://www.art2all.net/
 
Tập truyện “Kẻ Đưa Đường” của nhà văn Võ Kỳ Điền do Việt Publications ấn hành và xuất bản tại Toronto (Gia Nã Đại) vào mùa xuân 1986 đánh dấu giai đoạn sung mãn nhất của nền văn chương hải ngoại.
 
Trước đó Võ Kỳ Điền đã làm quen độc giả từ năm 1983 qua các tập san Dân Quyền, Lửa Việt, Sài Gòn Thời Báo, Văn, biểu dương một văn phong miền Nam thật đôn hậu, thật quyến rũ, một lối diễn tả thật lưu loát phơi phới như mưa rơi trên miền châu thổ phù sa. Mở đầu, qua bài tựa, tác giả xác định khuynh hướng văn chương của mình như sau: Tôi chưa phải là nhà văn. Tôi phải cố gắng bằng khả năng có được để trở thành nhà văn. Thật là thiếu khiêm tốn khi nói lên cái ý nghĩ này. Nhưng tôi phải nói vì quan niệm rằng đối với kẻ thù xấu xa bỉ ổi thì phải bằng mọi cách phải tự vệ và chống trả lại. Đó là lẽ thường tình. Tôi nghĩ rằng văn chương có nhiều loại nhưng thứ văn chương đích thực phải là tiếng nói của kẻ yếu đấu tranh chống độc tài áp bức, bạo lực bất công từ đâu đến. Nó phải chống bất cứ hình thức nô lệ nào, chống sự ngu xuẩn, hầu đưa con người vươn lên từ tối tăm đổ vỡ (trang 8).

Các bạn độc giả khi đọc tới đây, chắc biết rõ mồn một đường lối văn chương của tác giả ra sao rồi. Và ở truyện ngắn “Con Đường Phải Đi”, tác giả lặp lại lời tuyên ngôn về đường lối văn chương của mình qua miệng một nhân vật nữ khuyên chồng vốn là nhà báo, vừa thoát ly khỏi bức màn sắt đang định cư ở một xứ sở phương Tây, “Nhà văn phải có một tình thương thật bao la. Người nào nhìn cảnh biệt ly, tang tóc, đọa đày khổ đau mà không đau nhói con tim thì người đó đừng có viết văn làm thơ.” (trang 16)
 
Võ Kỳ Điền là một nhà văn chủ trương “văn dĩ tải đạo”. Chắc bạn độc giả cảm thấy khi nản khi biết “tẩy” của anh. Nhưng tôi xin thưa trước, cái “văn dĩ tải đạo” của anh không làm vẻ ta đây, không kênh kiệu như các nhà đạo đức cuồng tín hoặc như các nhà luân lý nửa mùa, những bà vãi non… Không đâu, cái chân tình, cái bản tính trung hậu, niềm thành khẩn thiết tha của anh làm 14 truyện trong 15 truyện ngắn của anh (tức là truyện ngắn “Con Đường Phải Đi”) sống động ở cách diễn tả tươi mát và nồng nàn. Tác giả bám chặt vào “tải đạo” mà không bỏ rơi nghệ thuật một giây một phút nào… Tác giả không phơi bày lộ liễu cái “tải đạo” của mình một cách trơ trẽn đâu. Anh cũng không chôn giấu nó trong mớ tình tiết rườm rà như một kẻ ăn vụng. Anh biết thắp sáng nó, đưa từng truyện ngắn nói riêng, đưa toàn thể tập truyện nói chung vào một nghệ thuật diễn tả lý thú, nồng mặn tình người.
 
Võ Kỳ Điền là nhà văn gốc miền Nam, nên anh áp dụng văn phong miền Nam triệt để. Đó là lối văn bộc trực, chân tình, gợi cảm, nhất là ở những câu đối thoại. Văn phong miền Nam thường dí dỏm, hoạt bát. Cái dí dỏm Võ Kỳ Điền rất chừng mực, cái cay cú của anh cũng rất mực thước, và cái hoạt bát thì là cả một không gian rộng lớn như những cánh đồng “cò bay thẳng cánh”.
 
Nhân vật chính của Võ Kỳ Điền là những người có tâm hồn chất phác, chuộng lẽ phải, thiện lương, ghét bạo tàn, dối láo, xảo trá, bất công. Ông thợ hớt tóc, ưa bàn sấm Trạng Trình, mong mỏi ngày Cộng Sản bại vong trong “Bác Năm Hớt Tóc”. Ông thợ rèn không thích cái kiểu rèn người của Cộng Sản và tỏ vẻ hờ hững, ghẻ lạnh với đứa con đi tập kết mới về trong “Ông Bảy Thợ Rèn”. Người thợ đóng giày nhận định Cộng Sản qua câu “cướp đêm là giặc cướp ngày là quan”, làm cho bà vợ hả dạ, vì bấy lâu bà tưởng chồng mình ăn nói kém cỏi, chẳng bằng ai (truyện ngắn Bên Kia Núi).
 
Người đàn ông bị vợ bỏ rơi, mụ cuồng tín với chủ nghĩa cách mạng nên bỏ chồng để đi theo đoàn thể Phụ Nữ Đoàn Kết trong truyện ngắn “Chú Bảy Cò”. Ông giáo về hưu non thương yêu thằng rể “ngụy” hơn đứa con trai đi tập kết về, không phải vì thằng rể đứng chung một chiến tuyến hay có chung một lý tưởng như ông, mà nó là tri kỷ ông, hiểu được ông (truyện ngắn Giọt Lệ Như Sương)… Đề tài đơn giản là thế, không hề có diễn biến ly kỳ, không có tâm tình lắt léo, phức tạp gì hết nhưng mà đọc qua, độc giả bị rơi vào cái hấp lực không thể cưỡng nổi, vì rằng sự diễn tả của tác giả rất sống động, rất xôn xao chân tình, óc quan sát của tác giả vô cùng bén nhạy.
 
Lại nữa, Võ Kỳ Điền còn vẽ được từng tấm chân dung nhân vật chất phác ngây thơ tin theo lời đường mật của Cộng Sản, chỉ ăn bánh vẽ hay chơi trò vọc nước giỡn trăng, mua trâu vẽ bóng như thằng bé học trò tên Quì trong truyện ngắn Đá Hoa Cương, ông thầy thuốc Nam trong “Nụ Hôn Đầu”, một bà già quê có chồng đi tập kết trở về trong “Kẻ Đưa Đường”. Qua những truyện này, độc giả mới thấy rõ cái chất phác của dân miền Nam là “miếng mồi ngon” để cho Cộng Sản lợi dụng. Vì chúng ta thừa biết, Cộng Sản chỉ lợi dụng được những tâm hồn đôn hậu, chuộng lẽ phải qua chiêu bài chống lại bất công, giai cấp, chống sự bóc lột… để rồi thực hiện những gì mà chúng chống đối.
 
Ngoài ra, trong tập truyện “Kẻ Đưa Đường”, truyện tình yêu không bị bỏ quên đâu. Truyện tình vốn là bất hủ, nhưng ở đây Võ Kỳ Điền pha trộn thêm một chút màu sắc thời đại nên có thêm bản sắc đậm đà quyến rũ hơn. Khung cảnh các cuộc tình đó ở các địa danh khác nhau: mối tình già trong viện dưỡng lão, ở một nước Tây phương (tác giả không chỉ rõ là nước nào nhưng bạn đọc có thể đoán là Gia Nã Đại) trong Bóng Nguyệt Lòng Sông, mối tình ông giáo và cô học trò ở ngôi trường Trung Học tại Ba Xuyên trong “Một Thời Để Yêu”, mối tình của cặp sinh viên Đại Học Văn Khoa từ bến xe đò, đến khu vườn có cây măng cụt, cây dâu, cây sầu riêng ở Cầu Ngang đến tiệm cầm đồ cũng ở Cầu Ngang trong “Cây Sầu Riêng Vườn Cũ”, mối tình của đôi lứa thiếu niên vượt biên khi tấp vào đảo dừa trong “Có Những Cơn Sóng”. Truyện tình của Võ Kỳ Điền do thời cuộc sau quốc nạn 30/4/75 chia rẽ, hoặc chuyện tình do quốc nạn đưa đẩy để cho chàng và nàng gặp nhau, là những cái cớ, cái động cơ để tác giả đem tâm tình cá nhân riêng rẽ và gắn chặt vào thời cuộc, chớ không phải là chuyện tình suông trơn. Dù bạn có thích hay không thích nhưng bạn phải nhìn nhận rằng những truyện tình dưới ngòi bút sắc sảo của Võ Kỳ Điền, truyện tình không rơi vào cái không khí ướt sũng của văn chương lãng mạn thời tiền chiến.
 
Xếp quyển sách “Kẻ Đưa Đường”, chắc hẳn tâm hồn độc giả còn vọng lại một chút dư âm ngọt ngào tình người và lý thú hơn tình người đôn hậu miền Nam. Bạn có thể chê rằng tác gỉả Võ Kỳ Điền không hề đưa ra một quan niệm sống mới mẻ, một hướng đi mới cho văn chương. Bạn cũng không thể tìm ở văn chương anh những điệu chơi chữ bay bướm và ngoạn mục, lối diễn tả tân kỳ, và nhất là cái ánh sáng trí thức phù ảo mà các nhà văn thời thuợng ưa dùng để đánh bóng cho tác phẩm vốn nghèo nàn và rỗng tuếch của mình.
 
Võ Kỳ Điền viết lách khiêm nhượng, làm văn chương từ tốn, diễn tả đơn giản, trong suốt mà không nguội lạnh. Từng dòng chữ, từng trang sách thoảng nhẹ lên chút men nồng ấm tình người. Cái đẹp của tác phẩm “Kẻ Đưa Đường” (trừ truyện Con Đường Phải Đi vốn là bản tuyên ngôn văn chương hóa một cách gượng ép) là cái đẹp của một hàm răng thật. Hàm răng thật dĩ nhiên là không trắng muốt và đều đặn như hàm răng giả, nhưng nó đậm đà ý nhị hơn, làm cho cái nụ cười duyên dáng hơn.
 
Vấn đề sau cùng là cái đẹp, văn chương căn cứ trên ba tiêu chuẩn then chốt là: nhân tính, nhân đạo và nhân bản. Đi sâu vào chi tiết triết học nhân bản không phải là đặc tính hoặc là sở trường hay dụng tâm của Võ Kỳ Điền. Anh chỉ thực hiện hai tiêu chuẩn còn lại, thế cũng đủ bảo đảm giá trị tác phẩm của anh rồi. Và một tác phẩm dù có tục tằn, trắng trợn, dâng đầy ngôn từ mất dạy tới đâu, bẩn thỉu tới đâu mà thấm đượm được lòng nhân đạo của người cầm bút thì tác phẩm đó vẫn chiếu rạng ngời thần trí sáng tạo của tác giả. Tác phẩm Kẻ Đưa Đường vốn thấm đậm lòng nhân đạo, lại được sự diễn tả chân thực, không thời thượng, không phô trương trí thức, không cay cú tình đời một cách sống sượng, cho nên đây là một tác phẩm thành công, dù cái thành công không ầm ỹ chăng nữa.
 
Trước ngày 30/4/75, những cây bút miền Nam sáng chói trên văn đàn là: Phi Vân, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nguyễn Thị Thụy Vũ. Sau đó 20 năm ở hải ngoại những cây bút miền Nam lỗi lạc phải kể: Nguyễn Văn Sâm, Kiệt Tấn, Võ Hoàng, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Ngọc Nhung và Võ Kỳ Điền vậy.
 
Hồ Trường An
 
Nguồn:

– Văn USA số 6 năm 1986
– Chiêu Dương, Úc Châu 1986