Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
muagiochuongtrongonqn
hình trong bài viết trong bài viết của Quang Nguyễn
 
Tháng Mười, nước từ dòng Mekong đổ về về như trút giận, biến cánh đồng nằm giữa Gò Bói và cái xóm nhỏ phía xa thành một biển nước mênh mông. Người ta gọi đó là xóm Đuôi Tôm, một dải đất cong cong, hẹp dài ngo ngoe giữa sóng nước, trông chẳng khác gì cái đuôi tôm đang búng giữa dòng. Khi những con nước lũ từ thượng nguồn đổ về, ranh giới giữa bờ và ruộng bị xóa nhòa. Gò Bói vốn nhộn nhịp tiếng người mua bán giờ bỗng trở nên xa xăm, mờ mịt. Chỉ cách nhau một cánh đồng, nhưng vào mùa này, khoảng cách ấy dài như mấy quãng sông.
 
​Ở xóm Đuôi Tôm, nước không chỉ nằm dưới chân, nước hiện diện trong từng hơi thở. Dù bị chia cắt, người dân Đuôi Tôm chẳng mấy khi thấy buồn phải đi đường xa. Khi con đường bộ duy nhất nối với Gò Bói biến mất, họ lại lôi ra chiếc xuồng độc mộc đã nằm im suốt mùa nắng.
 
​Trưa nay, bà Tư nhìn sang phía Gò Bói, nơi những rặng tre chỉ còn thấy cái ngọn lờ mờ. Bà chậc lưỡi:
 
- Nước lên vầy là ngăn sông cách chợ rồi, muốn ăn miếng trầu cũng phải chèo muốn rã tay.
 
​Nói là vậy, nhưng chỉ mươi phút sau, người ta đã thấy bà trên chiếc ghe nhỏ, tay chèo điêu luyện rẽ nước băng qua cánh đồng ngập trắng. Ở xóm Đuôi Tôm, người ta sống bằng cái tình chia ngọt xẻ bùi. Một mẻ dớn được nhiều cá linh, người đầu xóm í ới gọi người cuối xóm. Một hũ mắm chưng thơm nức mũi cũng được chuyền tay qua những căn nhà sát mặt nước. Mùa nước nổi đem đến sự cô lập, nhưng cũng mang về sự trù phú. Trong khi Gò Bói vẫn giữ vẻ kiêu kỳ của một xã sầm uất, thì xóm Đuôi Tôm lại chọn cho mình sự bình lặng, kiên cường. Những đứa trẻ trong xóm không còn chơi đá bóng trên đồng, chúng chuyển sang thi bơi, thi vớt súng hay câu cá ngay trên bậu cửa.
 
​Đêm tháng Mười của năm 1996, ánh đèn dầu từ xóm Đuôi Tôm hắt xuống mặt nước, lấp lánh như những vì sao rơi. Nhìn từ xa, cái xóm nhỏ ấy giống như một con thuyền khổng lồ đang thả neo giữa dòng thời gian, mặc cho con nước ngoài kia có dữ dội đến nhường nào.
 
​Khi mùa nước đi qua, phù sa sẽ ở lại, và xóm Đuôi Tôm sẽ lại nối liền với Gò Bói bằng những thảm lúa xanh rì. Nhưng có lẽ, chính trong những ngày chia cắt ấy, người ta mới thấy cái đuôi tôm này thật sự là một phần không thể tách rời của vùng đất hiền hòa. Trong bóng tối nhập nhẹm của buổi hoàng hôn tháng mười bắt đầu phủ kín mặt ruộng ngập nước, những ngôi nhà ở xóm Đuôi Tôm bắt đầu lên đèn. Nhưng đó không phải là thứ ánh sáng rực rỡ, nó là những quầng sáng vàng vọt, yếu ớt từ ngọn đèn dầu. khiến bóng người đổ lên vách liếp méo mó, chập chờn theo mỗi cơn gió lùa qua khe cửa. Giữa cái tĩnh lặng đáng sợ của mùa lũ, âm thanh duy nhất kết nối họ với thế giới bên ngoài là chiếc radio chạy pin cũ kỹ. Tiếng rè rè lúc bổng lúc trầm do sóng yếu giữa vùng nước mênh mông. Xen lẫn là những điệu dân ca, những bài cải lương nghe sao mà thê thiết. Trong không gian hẹp của căn nhà ngập nước, tiếng radio nghe ảo não như tiếng rên rỉ của một người viễn xứ, cứ lặp đi lặp lại một giai điệu buồn bã, len lỏi vào từng ngóc ngách tâm hồn. Gò Bói ở ngay kia thôi, nhưng trong ánh đèn dầu leo lắt và tiếng radio buồn bã, nó xa xôi tựa như một vùng đất ở phía bên kia đại dương. ​Xóm Đuôi Tôm mùa lũ năm ấy, buồn đến mức người ta chỉ biết tựa lưng vào cột, nghe tiếng nước chảy dưới sàn nhà mà thấy lòng mình cũng mênh mông, trắng xóa như cánh đồng trước mặt.
 
Ở gò Ô Môi năm ấy, cái hun hút không chỉ nằm ở khoảng cách địa lý mà còn ở cảm giác bị bỏ rơi. Từ đây nhìn vào xóm chính đã xa, nhìn sang Gò Bói lại càng thăm thẳm. Không còn tiếng chó sủa, không còn tiếng gà gáy. Chỉ có tiếng gió lùa qua những tán cây nghe như tiếng hú, và tiếng sóng vỗ bộp bộp vào những cây trụ nhà sàn. Con đường mòn dẫn vào gò vốn dĩ đã nhỏ hẹp, nay mất hút dưới độ sâu của nước. Muốn ra vào, người ta chỉ có cách duy nhất là chèo chiếc xuồng ba lá mỏng manh, luồn lách qua những lùm cây rậm rạp mà nếu không quen thuộc địa hình, rất dễ bị gai tre cào xước da thịt. Trong căn nhà vách đất vẹo vọ trên đỉnh gò, ánh đèn dầu lạc lõng giữa màn đêm mênh mông của cánh đồng mùa nước nổi. Nhìn từ xa, ánh sáng ấy nhỏ nhoi như một con đom đóm đậu trên mặt nước lững lờ.
 
​Tiếng radio từ trong nhà phát ra, bị gió bạt đi, nghe lúc có lúc không, càng làm tăng thêm cái vẻ ảo não, hiu quạnh của một vùng đất bị nước vây khốn. Ở gò Ô Môi lúc này, thời gian như ngừng trôi. Người ta sống chậm lại, thu mình trong sự tĩnh lặng của cây cỏ và nước lũ, nhẫn nại chờ đợi ngày nước rút để được nhìn thấy lại hình hài của đất. Giữa cái mênh mông trắng xóa của mùa lũ năm ấy, gò Ô Môi hiện ra như một hòn đảo hoang phế, tối sầm và im lìm. Những gốc cây đời lâu năm cao vút, đen thẫm in trên nền trời xám xịt, cành lá rũ rượi như những bóng ma trơi. Thế nhưng, giữa cái màn đêm đặc quánh và cái lạnh thấu xương của gió đồng tháng mười, vẫn có hai đốm sáng nhỏ nhoi, yếu ớt đang lửng lơ trên mặt nước. ​Đó là hai ngọn đèn dầu được đặt trên hai chiếc xuồng ba lá, đang nép mình dưới tán một cây xoài ngả ngốn sát mặt lụt. Hai đốm lửa vàng vọt, bé xíu như hai con đom đóm đậu cạnh nhau, là minh chứng cho một tình yêu đã bám rễ sâu nặng từ những ngày xóm Đuôi Tôm còn xanh mướt cỏ may. Hai Ánh và Ba Huyền đã thương nhau lâu dữ lắm rồi. Từ cái thời còn dắt tay nhau đi mót lúa trên đồng Gò Bói, đến khi Ba Huyền trổ mã phổng phao, đôi mắt đen láy làm ngẩn ngơ đám trai trong xóm nhỏ, còn Hai Ánh người chịu cực vất vả quanh năm với ruộng đồng, tôm cá. Ở cái gò biệt lập này, tình yêu của họ không có hoa hồng hay quà cáp sang trọng. Nó được bồi đắp bằng những mùa trăng ngồi bên nhau trên bờ đê, chia nhau củ khoai nướng sực nức mùi thơm. Những mùa nước nổi Hai Ánh chèo xuồng đi giăng câu, bao giờ cũng chừa lại những con cá to nhất, tươi nhất, để treo lén vào phía sau cột nhà Ba Huyền.
 
Mùa lũ năm ấy, cái Đuôi Tôm đã hẻo lánh lại càng thêm ngột ngạt khi có sự xuất hiện của Hậu Công Tử. Gã là giám sát công trình cho con đường lộ đang xây dựng phía lên Gò Bói. Gã giạt về xóm Đuôi Tôm sống tạm để chỉ đạo thi công. Sự xuất hiện của Hậu làm đảo lộn cái tĩnh lặng nghèo nàn của gò Ô Môi. Gã ngoài ba mươi, phong thái lịch lãm, nước da trắng trẻo lạ lùng so với những gương mặt sạm nắng, đóng phèn của dân xóm đây. Gã luôn diện chiếc sơ mi phẳng phiu, tay đeo đồng hồ hiệu rực rỡ dưới ánh đèn sáng lóa. Túi áo lúc nào cũng rủng rỉnh tiền và thuốc lá hạng xịn. Gã mang theo mùi nước hoa nồng nồng, lấn át cả mùi bùn đất đặc trưng của gò. Trước khi Hậu Công Tử đến, gò Ô Môi là thiên đường của Hai Ánh và Ba Huyền. Những đêm trăng mờ tháng Mười, khi tivi một vài nhà trên đường lớn vừa tắt, Hai Ánh lại chèo xuồng lén lút cập sát vách lá sau lưng nhà Huyền.
 
​Họ yêu nhau trong im lặng. Ba Huyền, cô gái có đôi mắt đen lay láy và mái tóc thơm, thường ngồi tựa lưng vào cây cột sàn nước, nghe Hai Ánh kể chuyện giăng câu, thả lưới. Hứa hẹn của họ đơn giản như hạt lúa, củ khoai:
 
- Đợi nước rút, lúa mùa này trúng, anh qua thưa chuyện với ba má em.
 
Nhưng từ khi Hậu về gò, đôi mắt gã cứ dính chặt lấy Ba Huyền. Nhất là cái mông căng tràn của cô gái ở độ tuổi hai mươi hai, nó ngúng nguẩy gọi mời theo mỗi nhịp bước. Những lúc Ba Huyền từ dưới nước lên bờ, chiếc quần ướt sũng dán chặt vào mông. Gã nhìn mà chỉ muốn đi tù ngay lập tức. Gã có cái máy mở băng xịn, âm thanh rõ mồn một chứ không rè rè như cái radio chỉ nghe được đài của thằng ông nội Hai Ánh. Mỗi chiều, Hậu lại ngồi trước lán công trình, mở băng nghe nhạc vàng, phì phèo khói thuốc và mời gọi.
 
- Huyền đem cá tới bán cho anh em tụi tôi đấy à? Kêu thằng Quân nó lấy rồi trả tiền. Xong rồi lại đây nghe nhạc cho vui. Sao lại đi trời tối thui thế này. Về cái gò đó sớm chi cho buồn hiu.
 
- Thôi! Em phải về. Tại anh nói tối hãy đem qua kia mà. - Huyền nói rồi khẽ cười nhìn Hậu.
 
​Hai Ánh đứng bên này, tay siết chặt, lòng đau như cắt. Ánh biết mình chỉ có cái xuồng rách, còn Hậu có tiền, có vị thế của một người thành phố về làm công trình. Ánh nhìn nước lũ vây quanh gò, cảm giác như chính nó đang chia cắt anh và Ba Huyền, còn Hậu thì như một con sóng dữ chực chờ cuốn đi báu vật duy nhất của anh. Hơn một tháng Hậu Công Tử cứ ve vãn Ba Huyền bất cứ lúc nào gã gặp.
 
​Giữa bóng đêm tháng Mười ảo não, ánh đèn từ phía nhà Hậu sáng hơn, tiếng radio nghe sang sảng hơn, làm cho bóng tối nơi Hai Ánh đứng càng thêm hun hút, mịt mùng. Gã kêu Huyền đem cá vào ban đêm là có ý đồ. Gã cũng biết Ba Huyền và Hai Ánh đã thương nhau từ lâu. Khuya ấy, trời gầm gừ những tiếng sấm xa xăm, báo hiệu một đợt nước đổ nữa lại về. Gò Ô Môi chìm trong một màu đen đặc quánh, chỉ còn ánh đèn sáng rực từ phía lán của Hậu Công Tử phát ra, xé toạc màn sương nước.
 
Hậu ngồi đó, gác chân lên chiếc ghế gỗ, chiếc radio đặt trên bàn đang phát một bản nhạc vàng buồn não nuột. Tiếng ca sĩ tỉ tê về những cuộc tình thành phố xa hoa, nghe lạc lõng giữa tiếng ếch nhái kêu ran khắp cánh đồng nước. Ba Huyền bước ra khỏi nhà định đi mua chai mười hai ngọn gió vì cha già bị đau bụng. Nhưng ngay chỗ rẽ vào bờ tre để lên lộ, Hậu đã đứng đó từ bao giờ. Gã chặn đường, nụ cười trên môi trắng nhởn dưới ánh đèn pin của Huyền.
 
- Huyền đi đâu giờ này? Nước lên cao lắm, chèo xuồng không quen dễ lật như chơi. - Một câu nói quá dư thừa. Bởi Ba Huyền là gái quê, đã quen với việc chèo xuồng.
 
- Tui lại nhà thím Cẩm mua cho tía chai mười hai ngọn gió. - Ba Huyền lí nhí đáp.
 
- Bác hai bệnh ra sao vậy Huyền?. - Gã cau mày hỏi, nhưng một sự quan tâm thật lòng.
 
- Tía bị đau bụng. - Huyền đáp.
 
Hậu Công Tử nghe xong cũng tỏ ra cái mặt ủ rũ đau buồn cho đúng với thủ tục thăm hỏi bệnh, dù chỉ là bệnh lặt vặt thông thường, nhưng gã vẫn cố làm cho ghê gớm ra.
 
- Đau bụng! Vậy thì nguy hiểm lắm. Huyền về đưa bác hai ra đây rồi tôi chở đi trạm xá.
 
- Không có sao. Tía tôi chỉ đau bụng thôi. Có lẽ lúc chiều ăn mắm cá linh nên khó tiêu.
 
- Thì cũng phải đi khám chứ. Huyền yên tâm, tiền viện phí tôi lo. Thấy bác hai vậy tôi không cầm lòng được.
 
- Cảm ơn anh. Không sao đâu. Thôi tôi đi còn về. À! Anh Hậu giúp em việc này nha?.
 
- Việc gì cô Huyền cứ nói.
 
- Em nghe đồn công trình của anh đang rất cần người làm. Anh có thể nhận anh hai của em vào làm không? Là anh Hai Hùng đó. Nếu được thì thêm anh Hai Ánh nữa. Vì tháng nước này mấy ảnh không có gì làm ngoài kiếm cá ra?
 
- Để tôi suy nghĩ đã. - Nói rồi gã giả vờ đưa tay xoa trán như một điều gì đó rất khó xử. Mặc dù công trình của Hậu đang thiếu người trầm trọng, trễ tiến độ. Vì những người phụ đã rời đi, họ chê xa, lại bất tiện về sinh hoạt khi mùa nước nổi nên có bốn người đã thôi việc. Mãi một lát sau Hậu Công Tử nhìn Ba Huyền rồi gật đầu.
 
- Thôi được rồi! Công trình đã đủ người, nhưng vì cô Huyền nên tôi sẽ nhận cả hai. Nói với hai người họ mai tới đây nhận việc.
 
- Dạ! Cảm ơn anh Hậu rất nhiều.
 
Nói rồi Ba Huyền lủi thủi đi ngay. Cái tên Hậu Công Tử không phải tự nhiên mà đám thanh niên trong xóm đặt cho có. Sở dĩ gã ăn chơi đúng chất một tay công tử thành phố lạc bước giữa cái xóm nghèo. Trong khi dân xóm Đuôi Tôm còn mải lo kê chân tủ chống lụt, chạy từng lon gạo mốc, thì Hậu vẫn thong dong như đi nghỉ dưỡng. Gã vung tiền không gớm tay, Gã uống bia sang, loại bia 333 đựng trong chai thủy tinh lấp lánh mà dân nhậu trong gò chỉ thấy rồi thèm. Gã khui thuốc lá thơm liên tục, mùi khói nồng nàn bay xa tít tắp, quyện vào mùi hoa súng, hoa sen khiến đám thanh niên trong xóm vừa ghét vừa thèm. Hậu Công Tử đã kết Ba Huyền kể từ khi tới đây. Hai Hùng vào làm việc thì có nhiều cơ hội cho gã hơn. Gã có thể đến nhà chơi, tiếp cận thường xuyên với Ba Huyền. Hai Ánh thì sẽ không có nhiều thời gian, vì đi làm công trình, rồi tối phải đi gỡ lưới cá. Đúng là “thiên thời địa lợi nhân hòa”, vừa có người làm cho mình dù lương bị cắt xén, lại vừa được ghi nhận lòng thành vì ban phát ân huệ, lại được lòng người đẹp.
 
Đúng như vậy kể từ khi Ánh và Hùng làm việc cho Hậu. Gã thường tới nhà chơi và gần gũi với Ba Huyền hơn lúc trước, đương nhiên Hai Ánh cũng ít gặp Huyền, vì xong việc công trình còn phải đi gỡ cá, đến gần khuya anh mới về nhà. Những lần Hậu sang nhà Hai Hùng nhậu nhẹt, gã say khướt, những lời tán tỉnh đầy ong mật với Ba Huyền, nhưng trong nhà chẳng ai dám phản đối vì sợ phật lòng ông chủ. Nhưng càng không nói, Hậu lại tưởng trong nhà đã đồng ý gả Ba Huyền cho gã. Có một người ghét Hậu ra mặt, đó là Út Mén. Út Mén là em ruột của Hai Hùng và Ba Huyền. Cô nàng năm nay mười bảy tuổi. Gã nói xấu tới ai cô cũng im lặng, nhưng nói tới Hai Ánh, người anh rể tương lai là Mén phản ứng rất gay gắt. Vì Út Mén rất thương Hai Ánh, tính tình thật thà, vất vả quanh năm, Ánh là người ra sao cô biết rất rõ, đơn giản vì từ thuở nhỏ cô đã gần gũi thân thiết với anh.
 
Qua mấy ngày sau! Trong cái đêm tháng Mười định mệnh ấy, sự chịu chơi của Hậu Công Tử đã đẩy kịch tính lên đến đỉnh điểm. Giữa cái gò Ô Môi quạnh quẽ, gã không chỉ dùng lời nói mà dùng chính cái đẳng cấp đầy mùi tiền để đánh gục lòng người. Thấy tình hình căng thẳng, Út Mén ngay lập tức lấy xuồng chèo về phía nhà Hai Ánh để báo tin, Ánh theo Mén để tới nhà mình. Vừa tới bờ tre đã thấy Hậu Công Tử đang ngồi trước cửa với Ba Huyền.
 
- Cái gò này nhỏ quá Huyền ơi, nước lụt lên là hết chỗ chạy. Theo tui, tui sắm cho Huyền dây chuyền vàng, cho Huyền đi xe hơi chứ không phải ngồi cái xuồng mục của thằng Ánh đâu. Tiền tui không thiếu, chỉ thiếu người xài chung thôi.
 
Ba Huyền nhìn xuống đôi bàn chân mình, vốn đã quen bấm vào bùn đất, nay lại run rẩy trước những lời đường mật. Cô liếc nhìn về phía bóng tối – nơi Hai Ánh và Mén đang khuất trong bờ tre. Ở đó, anh chỉ có một trái tim nóng và đôi bàn tay trắng. Ánh lấy gì để ngăn cản một người có thể biến đêm đen thành ngày sáng, biến cái nghèo thành sự xa hoa chỉ bằng một xấp tiền. Hai Ánh ngồi đó, cảm thấy nước lũ tháng Mười dường như lạnh hơn bao giờ hết. Anh nghe rõ tiếng nhịp tim mình đập loạn xạ. Ba Huyền lặng im trước sức mạnh của đồng tiền và sự hào nhoáng bóng bẩy của Hậu Công Tử.
 
- Sao anh không làm gì đi mà lại im lặng. Anh Hai sắp mất người yêu rồi đó. - Mén nói với Hai Ánh.
 
- Tui biết phải làm gì bây giờ? Chọn lựa là do chị của cô Út kia mà.
 
Ba Huyền không phải kẻ tham tiền, nhưng cái nghèo ở xóm Đuôi Tôm năm 96 nó tàn nhẫn quá. Nhìn cảnh nhà dột cột xiêu, nhìn đôi vai gầy của ba mẹ run lên vì những cơn hen suyễn mỗi khi trái gió trở trời, trái tim cô như bị bóp nghẹt.
 
- Anh Hai phải vào đối diện với chị Ba. Buộc phải chọn lựa. Đi, theo em vào.
 
- Khoan đã cô Út. Hãy để họ nói chuyện thêm lát đã. Để xem Huyền trả lời ra sao. - Hai Ánh nói.
 
- Huyền ơi, cô nhìn thằng Hai Ánh mà coi. Nó chỉ có cái xuồng với đôi tay chai ngắt. Theo nó thì đời Huyền cũng chỉ quẩn quanh cái xứ này, hết mùa lụt này đến mùa khô. Theo tôi, tôi cho em cuộc sống êm ấm đủ đầy. - Hậu Công Tử nói.
 
Hai Ánh ngồi trên xuồng ngoài bóng tối, đôi bàn tay bám chặt vào thân cây tre gai đổ máu, cảm thấy sự nhục nhã của kẻ nghèo đang cào xé tâm can. Anh nhìn vào Hậu, nơi đó có tiền, có sự chịu chơi, có cái đẳng cấp mà một gã trai xóm Đuôi Tôm cả đời cũng không chạm tới được.
 
Hậu Công Tử cười nhạt, gã rút ra một xấp tiền mới ứng từ chủ nhà thầu, rồi đưa cho Ba Huyền, với ánh mắt đắc thắng. Gã biết, không chỉ đang tán tỉnh Huyền, mà gã đang dùng tiền để sỉ nhục cái nghèo của vùng đất này.
 
- Tiền của anh nhiều thiệt, nhưng nó không mua được cái giấc ngủ yên bụng ở cái gò này đâu. Anh là dân công trình, được thời gian anh đi mất tiêu, còn tụi tui thì vẫn ở lại với sình lầy.
 
Ba Huyền rút tay lại từ chối nhận tiền của Hậu Công Tử. Cô quay lưng đi vô buồng. Hậu Công Tử đứng lặng, nụ cười trên gương mặt trắng trẻo tắt ngấm lủi thủi ra về. Hai Ánh vui mừng nắm lấy tay Út Mén.
 
- Cô Út thấy chưa? Tiền bạc chưa chắc mua được tình yêu.
 
Hai Ánh thì cười nói vui vẻ, nhưng cô em vợ tương lai thì lại im lặng. Nỗi buồn của Út Mén không phải là cái đau nhói như vết dao cứa, mà là một thứ nỗi buồn miên man, lầm lũi và kiên nhẫn như con nước lớn tràn đồng xóm Đuôi Tôm. Nó không ồn ào, nhưng cứ âm thầm dâng lên, lấn át từng tấc lòng, nhấn chìm mọi ngóc ngách tâm hồn cô gái mười bảy tuổi.
 
Đêm hôm sau, ánh đèn của Hậu Công Tử vẫn rực sáng, tiếng radio phát ra những bản bolero nghe ảo não, vương giả một cách lạc quẻ. Nhưng ở góc tối này, Ba Huyền và Hai Ánh trên chiếc xuồng đang đi gỡ cá. Tiếng sóng vỗ vào mạn xuồng nghe bập bùng, hòa cùng tiếng thở dài của đêm lũ.
 
- Ánh nè, ông Hậu Công Tử đó cứ đưa tiền, đưa kẹp, đưa lụa ra dụ dỗ... nhưng tui nói với ổng rồi. Gò Ô Môi này tối thui thiệt, nhưng tui chỉ thấy sáng khi nhìn vô ngọn đèn dầu trên xuồng của anh thôi.
 
​Hai Ánh nghe mà lòng thắt lại, vừa thương vừa tự trọng:
 
- Huyền ơi, anh chỉ sợ em khổ. Đời anh gắn với cái xóm Đuôi Tôm này, quanh năm chân lấm tay bùn, mùa lũ về là trắng tay…
 
​Ba Huyền không đợi anh nói hết câu, cô đưa bàn tay nhỏ nhắn nắm lấy tay anh:
 
- Thương là thương cái nết, cái tình. Nước lên thì xuồng lên, mình cứ dựa vào nhau mà sống. Em không cần cái trắng trẻo, cái tiền bạc của người ta. Em cần cái hơi ấm của anh giữa đêm lụt này nè.
 
Hai đốm sáng ngọn đèn dầu trên mặt nước như hòa làm một. Xung quanh họ, những gốc ô môi cổ thụ lặng lẽ đứng nhìn, che chở cho đôi lứa khỏi những ánh mắt soi mói của kẻ lạ. Tiếng radio của Hậu Công Tử dù có vang dội đến đâu, dù có ảo não đến mức nào, cũng không thể xuyên thấu vào thế giới riêng biệt của Ánh và Huyền.
 
​Ở gò Ô Môi năm 1996 ấy, có một thứ đẳng cấp khác mà tiền bạc không mua được: đó là sự thủy chung son sắt giữa những con người cùng sinh ra từ bùn lầy, cùng chịu đựng những cơn thịnh nộ của dòng nước tháng Mười. Mọi chuyện ở cái gò Ô Môi này bỗng trở nên rắc rối và não nề hơn cả tiếng radio của Hậu Công Tử. Hóa ra, dưới rặng ô môi già nua ấy, không chỉ có một mà là hai trái tim cùng thổn thức vì Hai Ánh. Trong khi Ba Huyền và Hai Ánh đang ngồi bên hai ngọn đèn dầu trên xuồng, thì ở một góc tối mịt ngay sau gốc bạch đàn thụt sâu ngoài đồng, có một chiếc xuồng nhỏ khác nằm im lìm. Đó là Út Mén. Út Mén năm nay mới mười bảy tuổi. Cái tuổi như bông súng mới trồi lên mặt nước, trong trẻo nhưng cũng đầy bão giông. Út Mén thương thầm anh rể tương lai của mình bằng một tình yêu câm lặng. Cô thương cái tính cách thật thà, thương cả cái giọng nói trầm đục sặc mùi phèn của anh. Mỗi đêm tháng Mười, khi Ba Huyền lén lút ra hẹn hò, Út Mén lại lặng lẽ bơi xuồng theo sau. Cô không phá đám, chỉ đứng từ xa, nhìn hai đốm sáng ngọn đèn dầu chập chờn trên mặt nước mà lòng đau như cắt.
 
Sự hiện diện của Hậu Công Tử như một liều thuốc độc tưới vào nỗi đau của Út Mén. Hậu rất tinh quái, gã sớm nhận ra ánh mắt khác lạ của Mén dành cho Hai Ánh. Gã không chỉ nhắm vào Ba Huyền, mà còn dùng Út Mén như một quân cờ để phá nát cái mối tình nghèo kia.
 
- Út nhìn đi, anh Ánh của em chỉ thấy mỗi mình chị Huyền thôi. Em có hy vọng cả đời, người ta cũng coi em là con nít. Theo tôi, tôi cho em quần áo đẹp, cho em son phấn, để khi em trở về, thằng Ánh phải nhìn em bằng con mắt khác.
 
- Anh bị có điên không? Anh rể của tôi mà tôi không hy vọng chẳng lẽ hy vọng một người xa lạ như anh. Tôi là con gái nhà quê, tối ngày lặn hụp dưới nước thì lấy son phấn để làm gì. Đâu có mơ ước được làm nàng tiên cá? - Nói rồi Út Mén quay lưng bỏ đi.
 
Nước lũ ngoài kia vẫn dâng cao, nhấn chìm những bờ bãi, và dường như nó cũng đang nhấn chìm cả sự bình yên của hai chị em Ba Huyền dưới rặng tre già cỗi. Mưa dầm thấm lâu, xóm Đuôi Tôm đã chứng kiến một cơn sóng lòng còn dữ dội hơn cả con nước lũ đổ về từ thượng nguồn. Những tưởng hai đốm sáng đèn dầu trên chiếc xuồng sẽ cháy mãi, nhưng cuối cùng, ánh đèn đèn điện rực rỡ và mùi tiền bạc của Hậu Công Tử đã làm lóa mắt người con gái vốn dĩ mộc mạc như Ba Huyền. Đêm ấy, tiếng radio của Hậu Công Tử không còn ảo não nữa, mà gã cho phát những bản nhạc rộn ràng, như một khúc khải hoàn ca. Ba Huyền bước lên hiên lán của Hậu, đôi bàn chân vốn quen bấm bùn nay xỏ vào đôi dép nhựa cao gót lấp lánh mà gã vừa mua tặng mấy ngày qua. Sau nhiều đêm suy nghĩ cô cảm thấy tình yêu nó quan trọng, nhưng cuộc sống càng quan trọng hơn.
 
​Cô không nhìn về phía bóng tối, nơi Hai Ánh đang chết lặng bên chiếc xuồng ba lá chông chênh. Cô nhìn vào những gì Hậu có, nhìn vào nước da trắng trẻo của gã và viễn cảnh một cuộc sống không còn mùi bùn đất vất vả quanh năm.
 
- Anh Ánh. Tui sợ cái nghèo, sợ cái cảnh năm nào cũng phải kê bàn ghế chạy lụt tới mặt. Ông Hậu hứa cho tui lên phố, cho tui một đời sung sướng... Anh đừng đợi tui nữa.
 
Lời nói của Ba Huyền lạnh lùng, dứt khoát như nhát dao chém vào mặt nước lũ. Hai Ánh đứng đó, tay vẫn cầm chiếc đèn dầu leo lét, nhìn người con gái mình thương bấy lâu nay bước hẳn vào quầng sáng rực rỡ của Hậu Công Tử.
 
Trong góc tối, Út Mén chứng kiến tất cả. Trái tim mười bảy tuổi của cô thắt lại, vừa đau cho anh Ánh, vừa giận chị mình. Cô nhìn thấy Hai Ánh gục đầu bên mạn xuồng, ngọn đèn dầu trên tay anh run rẩy rồi vụt tắt dưới một cơn gió bấc. Thế giới của Hai Ánh lúc này tối thui, hệt như cái gò Ô Môi bị cô lập.
 
Út Mén không kiềm lòng được, cô chèo chiếc xuồng của mình lại gần. Giữa màn đêm lạnh lẽo, cô thầm thì:
 
- Anh Ánh... chị ba đã thay lòng rồi! Anh đừng buồn nữa, Ở ngoài kia vẫn có người thương anh, không cần tiền, cũng không cần lên phố.
 
Hai Ánh ngẩng lên, đôi mắt đỏ ngầu nhìn về phía cái lán sáng trưng nơi Ba Huyền đang ngồi bên Hậu Công Tử. Anh không nghe thấy lời Út Mén, hay có lẽ không muốn nghe. Anh vung tay chèo, chiếc xuồng lao vút ra giữa cánh đồng nước xa tắp, bỏ lại sau lưng cả sự phản bội của người chị và tình yêu thầm kín của người em.
 
​Trên gò Ô Môi đêm đó, có một người con gái vừa bước chân vào nhung lụa nhưng đánh mất tâm hồn, một người đàn ông tan nát niềm tin, và một cô gái mười bảy tuổi ôm mối tình đơn phương tuyệt vọng giữa tiếng radio vẫn vang lên những giai điệu mỉa mai của sự hào nhoáng. Cuộc ra đi của Hai Ánh vào một buổi sớm tháng Mười năm 1996 lặng lẽ và buồn bã như chính cái tên của xóm Đuôi Tôm những ngày nước ngập. Nước lũ vẫn chưa rút, nhưng trong lòng Hai Ánh, phù sa của niềm tin đã khô cạn hẳn. Anh không đợi đến lúc nắng lên, cũng không đợi đến khi con đường lộ của Hậu Công Tử hoàn thành để nhìn thấy Ba Huyền bước lên xe hoa về phố. Anh quyết định đi vào lúc tảng sáng, khi sương mù còn giăng kín cánh đồng Gò Bói. Hai Ánh thu dọn hành lý trong một chiếc túi vải cũ mèm. Tài sản chẳng có gì ngoài mấy bộ đồ sờn vai và một trái tim vụn vỡ. Anh nhìn lại chiếc xuồng ba lá, người bạn trung thành nhất của mình, giờ đang buộc lạnh lẽo dưới gốc cây gáo. Anh hiểu nó chở nặng quá nhiều kỷ niệm về những đêm đèn dầu cùng Ba Huyền. ​Anh quyết định quá giang một chiếc ghe lồ ô đang chuẩn bị rời sông để về hướng Long An, rồi từ đó bắt xe đò lên Sài Gòn. Khi chiếc ghe nổ máy vang động cả mặt nước tĩnh mịch, Hai Ánh đứng ở phía lái, mắt đăm đăm nhìn về phía gò Ô Môi. Nơi đó, ánh đèn điện của Hậu Công Tử đã tắt, chỉ còn mái lá nhà Ba Huyền xám xịt dưới con nước. Anh đi để không phải thấy cảnh người ta dắt tay nhau qua những hố công trình, đi để tiếng radio ảo não kia không còn rót vào tai những lời mỉa mai cho phận nghèo. Giữa lúc chiếc ghe rời bến, một bóng dáng nhỏ bé chạy tức tốc ra sát mép nước ngập! Là Út Mén. Đôi chân trần lội dưới bùn lạnh, chiếc áo bà ba dính bết vào người vì sương sớm.
 
​Cô không dám gọi to, chỉ đứng đó, hai tay bấu chặt vào một thân cây tràm. Nước mắt Út Mén hòa cùng nước lũ, mặn chát. Cô biết, anh Ánh đi là đi thật xa, đi để trốn tránh cái bóng của chị mình, và cũng là vô tình bỏ lại cả tấm chân tình chưa kịp nói của cô.
 
​- Anh Ánh ơi... anh đi rồi, cái gò này tối thui như ngọn đèn hết dầu… - Út Mén thì thào trong gió, tiếng nói bị tiếng máy nổ của ghe buôn nuốt chửng.
 
Chiếc ghe lướt đi, chia cắt mặt nước đỏ ngầu thành hai dải sóng bạc. Hai Ánh quay mặt về phía trước, nơi chân trời mờ mịt phía Sài Gòn. Anh chưa biết mình sẽ làm gì giữa phố thị phồn hoa, nhưng anh biết chắc một điều: ở đó không có mùa nước nổi, không có xóm Đuôi Tôm, và không có người con gái tên Huyền đã vì giàu mà thay lòng đổi dạ. ​Anh đi, mang theo cái nghèo của dân xóm lụt làm hành trang, và để lại sau lưng một Út Mén mười bảy tuổi đang lớn lên trong nỗi buồn đầu đời, cùng một gò Ô Môi đang bị xâu xé bởi những khối bê tông và những tham vọng của kẻ giàu sang. Khi con nước lớn bắt đầu nhảy bờ, chẳng ai hay biết. Nó nhẹ nhàng lướt qua những đám cỏ xanh, rồi từ từ bò vào chân cột nhà. Nỗi buồn của Mén cũng vậy. Nó bắt đầu từ lúc ánh đèn dầu trên xuồng của Hai Ánh và Ba Huyền chập chờn trong bóng tối. Mỗi nhịp sóng vỗ vào mạn xuồng như một nhịp đập của nỗi cô đơn trong lòng cô. Cô nhìn anh thương chị mình, nỗi buồn ấy dâng lên, đầy ắp, không có chỗ để thoát ra, cứ thế mà quẩn quanh, tù túng. Giữa cái gò Ô Môi biệt lập, nhìn đâu cũng thấy nước. Nỗi buồn của Mén loang ra, mênh mông đến mức cô cảm thấy mình nhỏ bé và đơn độc như một nhánh lục bình bị kẹt giữa dòng chảy xiết. Nó trắng xóa một màu tuyệt vọng, khiến cô chẳng thể nhìn thấy đâu là bờ bến cho tình cảm của chính mình! Có lẽ ngay bây giờ tâm trạng của cô cũng giống hệt anh, một sự bỏ rơi từ chính người mình thương. Con nước lớn tràn vào mang theo cái lạnh lạnh và mùi sình bùn nồng nặc. Nỗi buồn của Mén mang theo sức nặng của sự câm nín.
 
​Cô thương anh Ánh bằng một tình yêu không tiếng. Thương đến thắt lòng nhưng chẳng thể nói, vì người anh nắm tay là chị ruột của mình. Cái nỗi buồn ấy cứ âm ỉ dâng lên đến tận cổ họng, khiến cô nhiều lúc thấy ngạt thở như người đang lội giữa dòng nước sâu mà không chạm được đáy. ​Vào những đêm gió bấc về, nghe tiếng radio của Hậu Công Tử vang lên từ xa, Mén lại thấy nỗi buồn của mình cuộn sóng. Cô buồn cho phận mình, buồn cho cái nghèo của anh Ánh, và buồn cả cho sự đổi thay của chị Ba. Giống như con nước lớn mang theo phù sa bồi đắp cho ruộng đồng Đuôi Tôm và Gò Bói, nỗi buồn miên man của Út Mén không làm cô gục ngã. Nó khiến cô già dặn hơn cái tuổi mười bảy, khiến tâm hồn cô trở nên bao dung và kiên định. Nỗi buồn ấy cứ lớn dần, trở thành một phần máu thịt của cô. Cho đến ngày Hai Ánh bỏ xứ mà đi, con nước lớn trong lòng Mén như vỡ òa, nhưng thay vì chảy xiết để phá nát tất cả, nó chọn cách lặn sâu xuống, chờ đợi ròng rã để hóa thành lòng thủy chung son sắt về sau này.
 
Mười năm. Một khoảng thời gian đủ dài để con lộ của Hậu Công Tử năm xưa trở thành con đường nhựa phẳng phiu, và cũng đủ dài để xóm Đuôi Tôm thay da đổi thịt. Nhưng với người đi xa, mười năm chỉ là một cái chớp mắt đau đớn khi nhớ về rặng ô môi. ​Hai Ánh trở về vào một ngày cuối đông, nắng hanh vàng trải dài trên những cánh đồng Gò Bói đang vào mùa gặt hái. Không còn chiếc ghe buôn lồ ô cũ kỹ năm nào, anh trở về trên một chuyến xe khách đời mới, dừng lại ở đầu con lộ lớn. Người đàn ông bước xuống xe không còn là gã trai nghèo đen nhẻm, sực mùi bùn đất năm 1996. Hai Ánh giờ đã ngoài ba mươi, dáng người đậm đà, vững chãi. Anh không về để khoe khoang, anh về vì cái mùi gió chướng khô khan cuối năm cứ nhắc anh rằng: ở xóm Đuôi Tôm, có một người mà anh đã nợ một lời từ biệt. Hai Ánh lững thững đi bộ về phía gò Ô Môi. Nhà của Ba Huyền năm xưa giờ đã khang trang hơn, nhưng nghe đâu Hậu Công Tử sau khi làm xong công trình thì thời gian sau đã bốc hơi cùng một người đàn bà khác, để lại Ba Huyền với đứa con và những năm tháng xuân sắc lỡ làng. Nhưng người Hai Ánh tìm không phải Ba Huyền. Dưới gốc ô môi già nơi hai chiếc xuồng năm xưa từng cột chặt. Bây giờ đã là một tiệm may nhỏ. Anh thấy một bóng dáng quen thuộc đang ngồi cặm cụi may mắt nhìn vào những đường chỉ. Đó là Út Mén! Cô giờ đã là thợ may hai mươi bảy tuổi, nét trẻ con mười bảy năm nào đã thay bằng vẻ đằm thắm, đôi mắt vẫn đen láy nhưng mang một nỗi buồn sâu thẳm. Út Mén vẫn chưa lấy chồng. Bao nhiêu trai ở Gò Bói qua đây cô đều lắc đầu, lòng cô vẫn kẹt lại ở cái mùa nước năm 1996 ấy. Khi Hai Ánh tiến lại lại sát, Út Mén vẫn đang may không nhìn ra. Anh khẽ gọi:
 
- Cô Út… may đồ Tết cho người ta hả?
 
Út Mén nhìn lên giật mình. Giữa cái nắng giáp Tết hanh hao, nước mắt cô trào ra, lăn dài trên đôi gò má đã sớm hằn dấu vết thời gian. Cô nhìn anh thật lâu rồi khẽ nói.
 
- Anh Hai... anh đi đâu mà biệt tăm biệt tích, bỏ cái gò này tối thui suốt bao nhiêu năm trời vậy! Vào đây, để em kêu cho anh ly nước mía…?
 
Hai Ánh vào ngồi cùng Út Mén bên chiếc ghế nhựa trong một tiệm may. Anh nghe cô kể về chị Ba Huyền giờ sống lặng lẽ một mình nuôi con, kể về cái xóm Đuôi Tôm bây giờ đã có điện lưới, không còn phải thắp đèn dầu mỗi đêm.
 
- Anh về lần này không đi nữa. Sài Gòn phồn hoa thiệt nhưng không có mùi đất của mình. Anh có chút vốn, định làm thầu xây dựng ở đây. Em... còn đợi anh không?
 
Một câu hỏi khiến Út Mén phải thẫn thờ rồi từ chối. Lời từ chối của cô như một gáo nước lạnh tạt thẳng vào cái nắng hanh vàng ngày giáp Tết. Khi Hai Ánh đang định nắm lấy bàn tay cô, Út Mén khẽ rụt lại, ánh mắt cô nhìn vào đôi giày da láng bóng và chiếc đồng hồ trên tay anh rồi cụp xuống, đầy mặc cảm.
 
- Anh Hai nè, anh về thăm xóm, thăm em vậy là mừng rồi. Nhưng chuyện anh nói... cho em xin lại đi.
 
​Hai Ánh sững sờ:
 
- Sao vậy Mén? Chẳng lẽ em đã có người khác, hay em vẫn còn giận anh chuyện năm xưa đã đi không lời từ biệt?
 
​Út Mén lắc đầu, nụ cười héo hắt hiện lên trên gương mặt đằm thắm:
 
- Không phải vậy. Tại anh bây giờ khác quá. Anh là người thành phố, là ông chủ có tiền có bạc. Còn em... em vẫn là con Mén của xóm Đuôi Tôm, suốt ngày chỉ biết bùn đất, cá tôm. Ngày xưa anh đi vì chị Ba chê anh nghèo, giờ em không muốn người ta nói em theo anh vì anh giàu. Em không muốn mình thành một Ba Huyền thứ hai trong mắt anh.
 
​Cô quay mặt nhìn ra phía cánh đồng Gò Bói. Cái mặc cảm của người ở lại quá lớn. Cô đã dành mười năm để đợi một gã trai nghèo với chiếc xuồng ba lá vào mùa nước nổi, mùa khô thì quanh quẩn bên ruộng đồng chứ không phải một người đàn ông sang trọng trở về để ban phát sự đủ đầy. Với Út Mén, tình yêu của cô tinh khôi và cứng cỏi như bông súng dưới phèn, không thể để mùi tiền làm vẩn đục. Hai Ánh im lặng hồi lâu. Anh thản nhiên ngồi xuống bậu cửa, vén ống quần tây lên để lộ những vết sẹo cũ vì gai tre cào năm nào.
 
​- Mén nhìn xem, anh đi mười năm, làm đủ nghề từ bốc vác đến thợ mộc, rồi phụ hồ, tích cóp từng đồng cũng chỉ vì cái nỗi nhục bị người ta khinh nghèo. Nhưng anh thề với trời đất, anh làm lụng vất vả kiếm tiền không phải để đổi đời thành một Hậu Công Tử thứ hai. Anh cố gắng là để có thể tự tin trở về dắt tay người con gái đã không bỏ rơi lúc anh nghèo xác xơ.
 
​Anh nhìn thẳng vào mắt Út Mén, giọng run run:
 
- Cái đồng hồ có thể tháo ra, bộ đồ này có thể bỏ đi, nhưng cái nết của thằng Hai Ánh xóm này thì không bao giờ đổi! Em thừa biết kia mà.
 
Tiếng Tivi từ nhà hàng xóm lại vang lên một bản nhạc xuân, lần này là tiếng ca rộn ràng của niềm vui sum họp. Út Mén nhìn sâu vào đôi mắt chân thành của người đàn ông trước mặt. Cô thấy trong đó không có sự kiêu ngạo của tiền bạc, chỉ có sự mệt mỏi của một kẻ lữ hành vừa tìm thấy bến đỗ. ​Sự cứng cỏi trong lòng cô dần tan chảy như nước lũ rút đi để lại phù sa. Cô hiểu rằng, Hai Ánh có thể đã thay đổi diện mạo, nhưng trái tim anh vẫn mang hơi thở của cái xứ Đuôi Tôm nặng tình này.
 
​- Anh Hai thiệt tình... cứ dẻo miệng. - Út Mén lí nhí, đôi má ửng hồng trong gió lạnh.
 
- Đã hai mươi bảy tuổi mà Út chưa lấy chồng? Cái xóm này bị coi là ế đó. - Hai Ánh nói.
 
- Thì anh Hai cũng chưa có vợ đó thôi.
 
- Út Mén còn đợi ai hả? - Hai Ánh hả?
 
- Đợi ai anh Hai biết rõ hết mà. Nếu em muốn lấy chồng đã lấy lâu rồi. Thật ra, từ lúc anh Hai bỏ xứ đi, em cũng lên Gò Bói học may. Để sau này lấy chồng có thể tự kiếm tiền, đỡ đần với chồng, để chồng bớt vất vả. Em thấy anh Hai từ xưa đến giờ cực khổ nhiều quá.
 
​Hai Ánh cười khà khà, nụ cười giòn tan mà hiền như đất, đã mười năm qua Sài Gòn chưa bao giờ nghe thấy. Anh biết mình đã thắng, không phải bằng tiền, mà bằng chính bản chất chân quê mà anh đã gìn giữ suốt bấy lâu. Mùa gió chướng trở ngọn ở xóm Đuôi Tôm không chỉ là sự thay đổi của thời tiết, mà là một thanh âm lay động cả tâm hồn những người dân nơi đây. Đó là thời khắc thiêng liêng khi đất trời chuyển mình, quét sạch cái âm u của mùa nước nổi để dọn chỗ cho sắc xuân tràn về. Với Hai Ánh, mùa gió chướng trở ngọn năm nay mang một ý nghĩa đặc biệt. Ngồi bên trong tiệm may cùng Út Mén, anh hít căng lồng ngực cái không khí khô ráo, thân thuộc này.
 
- Út Mén có nghe tiếng gió chướng không? Hồi ở trên Sài Gòn, mỗi lần nghe gió trở ngọn rít qua khe cửa sổ nhà trọ, anh lại thấy lòng mình như có ai cào. Gió chướng là gió của Tết, gió của ngày trở về.
 
Út Mén nhìn ra phía cánh đồng, đôi mắt long lanh:
 
- Hồi đó, mỗi lần gió chướng về là em lại ra bến ngồi. Em cứ nhìn về phía hạ nguồn, tự hỏi không biết ngọn gió này có thổi tới chỗ anh, có nhắc anh là xóm Đuôi Tôm đang vào mùa gặt không...
 
​Gió chướng thổi mạnh, làm bay mái tóc của Út Mén, thổi bay cả những mặc cảm, tự ti cuối cùng còn sót lại trong lòng cô. Dưới làn gió mạnh mẽ ấy, Hai Ánh nắm chặt tay người con gái đã đợi mình mười năm. Anh biết, mùa gió chướng này sẽ không còn mang anh đi xa nữa, mà nó sẽ thổi bùng lên ngọn lửa ấm áp trong căn nhà nhỏ trên gò Ô Môi, kết thúc một thập niên chia lìa, đau đớn.
 
Dưới ngọn gió chướng thổi mạnh, lùa qua những kẽ lá xào xạc, Ba Huyền đứng lặng bên song cửa sổ ngôi nhà gạch thành quả duy nhất còn sót lại từ những đồng tiền của Hậu Công Tử năm xưa. ​Mười năm trước, cô đã chọn ánh đèn điện để rời bỏ đèn dầu. Giờ đây, khi gió chướng trở ngọn mang theo cái lạnh sắt se của ngày giáp Tết, cô lại thấy mình là người cô độc nhất trên cái gò này. Ba Huyền nhìn sang cái tiệm may. Qua làn nắng hanh hao, cô thấy một người đàn ông phong trần nhưng lịch lãm đang ngồi bên Út Mén. Phải mất một lúc lâu, cô mới nhận ra đó là Hai Ánh. Trái tim cô nhảy dựng lên một nhịp rồi chìm xuống đáy vực. Hai Ánh trở về, không phải trong bộ dạng thảm hại của kẻ bại trận, mà với diện mạo của một người thành đạt, vững chãi. Định mệnh thật trớ trêu. Ngày xưa cô bỏ anh vì anh nghèo, cô chọn Hậu vì gã có đầy đủ vật chất. Nhưng giờ đây, Hậu Công Tử đã mang theo tất cả sự hào nhoáng đó đi biệt tích, để lại cô với một ngôi nhà trống trải và tiếng thở dài mỗi đêm cùng đứa con thơ. Trong khi đó, Hai Ánh lại trở về, mang theo chính những thứ mà cô từng khao khát, nhưng là để dành cho đứa em gái. Từ bên này, Hai Ánh vô tình ngước mắt lên. Mắt anh chạm vào gương mặt của Ba Huyền nơi khung cửa. Không có sự oán hận, không có sự trách móc, chỉ có một sự điềm nhiên lạnh lùng đến đáng sợ. Anh khẽ gật đầu như chào một người quen cũ, rồi quay lại, nắm lấy bàn tay thô ráp của Út Mén một cách đầy trân trọng.
 
​Ba Huyền vội vã khép cánh cửa sổ lại, nhưng tiếng tivi từ nhà hàng xóm vẫn lọt vào, oai oái một bản nhạc xuân về sự đoàn viên. Cô dựa lưng vào vách tường lạnh lẽo, nước mắt rỉ ra:
 
​- Gió chướng về rồi... sao lòng mình lại lạnh như mùa nước nổi năm 96 vậy cà?
 
Khác với sự dằn vặt của chị mình, Út Mén lúc này thấy lòng mình nhẹ tênh. Dưới ngọn gió chướng lồng lộng, cô cảm nhận được hơi ấm từ bàn tay Hai Ánh. Cô không còn nhìn về phía ngôi nhà của chị với sự ghen tị hay sợ hãi nữa.
 
​Hai Ánh dắt Út Mén đi trên con đường bờ đê phẳng lì, anh chỉ tay về phía cánh đồng Gò Bói:
 
- Mén nhìn kìa, gió chướng thổi mạnh vầy thì vài bữa nữa ô môi sẽ trổ bông hồng rực.
 
​Út Mén cười, nụ cười rạng rỡ như nắng mới. Gió chướng vẫn thổi, mang theo mùi của sự tái sinh. Trên gò Ô Môi, bi kịch cũ đã lùi xa, nhường chỗ cho một câu chuyện mới câu chuyện về những người đã đi qua giao nhau neo sự kiên định để giữ lại một chút tình chân thật dành cho nhau. Mười năm đó, mỗi lần gió chướng trở ngọn, người ta lại thấy Út Mén ngồi bên bến nước, mắt đăm đắm nhìn về phía hạ nguồn. Nỗi buồn của cô bây giờ không còn đục ngầu màu bùn đất, mà nó trong vắt, sâu thẳm, lặng lẽ đợi người xưa trở về dắt cô đi qua những nẻo đường của cuộc đời mai sau! Đuôi Tôm bây giờ đã không còn ngập mỗi khi mùa nước nổi tràn về vì con đê đã kiên cố bao quanh. Nó chỉ luẩn quẩn giữa cánh đồng rồi rút đi để lại lớp phù sa cho đất thêm tươi tốt. Cũng như tấm lòng của Hai Ánh luôn bao bọc cho Út Mén từ nay và về sau.
 
Quang Nguyễn
 
Nguồn: Fb Quang Nguyễn

Tìm các bài VĂN khác theo vần ABC . . .