Hôm nay tôi lại rề rề bước chân dọc đại lộ Lê Lợi, chẳng phải để đi đâu cho có việc, mà để moi lại một khúc chuyện xưa cứ nằm hoài trong bụng, thỉnh thoảng lại cựa mình đòi kể. Người ta đi trên Nguyễn Huệ, Hàm Nghi, Lê Lợi bây giờ, mấy ai còn nhớ rằng hơn hai trăm năm trước, chỗ mình đương đứng đây từng là mặt nước, thuyền bè lững lờ trôi vào tận phố chợ quanh chân thành Quy. Đất này, hóa ra, đã sống qua không biết bao nhiêu kiếp. Kiếp sông nước, kiếp kinh đào, kiếp đại lộ thực dân, kiếp phố xá của những cuộc tình, rồi tới kiếp công trường bê tông ngổn ngang vì metro. Tôi ngồi biên lại, cũng coi như thắp một nén nhang cho cái quá khứ đang lặng lẽ nằm dưới từng viên gạch mình dẫm lên.
Từ Dòng Kinh Lấp Thành Đại Lộ
Năm 1859, khi quân Pháp nổ súng đánh thành Gia Định, vùng đất thấp ngoài tường thành còn nguyên sơ với ba dòng nước nhỏ đổ ra sông Bến Nghé, rạch Cầu Sấu, kinh Chợ Vải, kinh Cây Cám. Đánh chiếm xong Sài Gòn chưa được bao lâu, ký xong Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862, người Pháp đã tính chuyện dựng một đô thị kiểu Âu ngay trên đất này. Đô đốc Bonard giao cho đại tá công binh Coffyn vẽ ra một bản đồ tham vọng, một thành phố chứa nổi năm trăm ngàn dân. Nghe thì to tát, nhưng đất Sài Gòn lúc ấy còn hoang vắng, đường sá vừa vạch ra chưa kịp rải đá, nên cái kế hoạch lớn lao kia đành gác lại phần nhiều, chỉ còn sót lại vài chuyện thiết thực. Quy định lô đất, bề rộng đường, chuyện trồng cây, đặt máy nước, làm cống rãnh.
Ban đầu, người ta còn thấy kinh rạch cũ có ích cho thuyền bè qua lại nên cho nạo vét, đắp bờ. Nhưng đến khoảng năm 1863, đại tá Coffyn cho đào một dòng kinh mới, nối liền phần ngọn của ba con rạch cũ, chia làm hai đoạn. Đoạn thứ nhất chạy song song đường Isabelle II (nay là Lê Thánh Tôn), chính đoạn này về sau thành đại lộ Lê Lợi, được thiếu tá Bovet đặt tên là “Kinh Gallimard”, theo tên viên đại úy từng dự trận đánh thành Gia Định; cụ Trương Vĩnh Ký thì quen miệng gọi là “Kinh Coffine”, theo tên người chỉ huy đào nó. Đoạn thứ nhì đổ ra rạch Bến Nghé, sau này lấp đi thành một phần đường Pasteur.
Kinh Gallimard được đào hoàn toàn bằng sức người, cuốc xẻng chứ chưa có máy móc gì, đất đào lên dùng đắp nền cho các dinh thự tương lai. Hai bên bờ kinh, đường đi tạm mang tên “Số 13”, mãi đến năm 1865 mới đổi thành “Bonard”. Nếu ngồi thuyền dạo trên dòng kinh ấy thời đó, hai bên bờ chỉ toàn cảnh hoang vu của một thị trấn vừa khai sinh. Nó gổm trại lính, kho hàng công binh, dinh thất quan viên, bót cảnh sát. Nhà buôn thì còn thưa thớt lắm, phần đông tụ về phía sông Sài Gòn hay kinh Chợ Vải cho gần bến cảng. Năm chiếc cầu gỗ bắc ngang, với thêm hai cầu nối chỗ giao cắt kinh Chợ Vải, ngày nay chính là ngã tư Lê Lợi – Nguyễn Huệ.
Ấy vậy mà cái phận kinh đào cũng ngắn ngủi chẳng khác chi phận người. Dân cư đông lên, kinh rạch giữa phố không ai buồn nạo vét, hóa ra ao tù chứa rác, ổ dịch bệnh. Năm 1867, chính Bovet, lúc này làm ủy viên hội đồng thành phố phải lên tiếng đề nghị lấp quách đi cho rồi. Không ai biết chính xác kinh Gallimard bị lấp năm nào, chỉ biết đến năm 1878 thì nó đã biến mất khỏi bản đồ. Tính ra, dòng kinh ấy chỉ sống được chưa tới mười lăm năm, ngắn ngủi như một cơn mưa rào giữa Sài Gòn, đến rồi đi, để lại phù sa là cả một đại lộ cho hậu thế.
Đại Lộ Bonard Giữa Buổi Đầu Khai Sinh Phố Thị
Kinh lấp rồi, một dải đất phẳng phiu dài chừng tám trăm mét, từ đường Đồn Đất đến Nguyễn Trung Trực, hóa thành đại lộ Bonard rộng gần sáu mươi mét vì gồm cả hai bờ kinh cũ gộp lại. Giữa đường trải thảm cỏ xanh, bốn hàng cây đứng thẳng tắp hai bên, người đi ngang cứ ngỡ mình lạc vào công viên. Năm 1887, đúng ngày Quốc khánh Pháp, người ta dựng tượng Francis Garnier ngay giữa đại lộ, khúc này từ đó mang tên công trường Francis Garnier, chính là công viên Lam Sơn sau này. Tượng bị phá năm 1945, hai chục năm sau, 1967, tượng hai người lính thủy quân lục chiến lại được dựng lên thế chỗ.

Bùng binh và đại lộ Bonard vào thời Pháp thuộc. Author: Indochine française. Aéronautique militaire
Đại lộ Bonard thuở đó tuy rộng nhưng ít người lai vãng buôn bán, vì gần phân nửa mặt tiền thuộc cơ quan công quyền. Cuối thế kỷ 19, đường bị thu ngắn lại khi khu phía Bắc đường Hai Bà Trưng được chỉnh trang, một nhà máy điện mọc lên chắn ngang. Năm 1900, nhà hát mới được xây giữa đại lộ, chính là Nhà hát thành phố bây giờ, công trình của ba kiến trúc sư Félix Olivier, Ernest Guichard, Eugène Ferret, khởi công 1898, xong năm 1900, thay cho những nơi diễn tạm bợ trước đó. Còn đầu phía Nam, suốt mấy chục năm bị án ngữ bởi bức tường kho vật liệu thành phố, mãi đến những năm 1910, khi khu này dọn dẹp để xây chợ Bến Thành, đại lộ mới được khai thông tới tận công trường Cuniac, nay là công trường Quách Thị Trang. Từ đó, Bonard trở thành đường huyết mạch, có cả xe điện chạy từ Bến Thành, vòng qua Catinat, tới tận Đa Kao, nối trung tâm Sài Gòn với những chợ ngoại thành xa lắc như Bà Chiểu, Hóc Môn, Gò Vấp.
Năm 1955, cái tên Bonard, vốn là tên một phó đề đốc hải quân Pháp từng làm thống đốc Nam Kỳ bị hạ xuống, thay vào đó là Lê Lợi, vị vua đánh giặc giữ nước. Ấy cũng là năm hàng loạt tên đường mang dáng dấp thực dân trong thành phố đồng loạt được đổi để vinh danh anh hùng, danh nhân đất Việt. Học giả Vương Hồng Sển, trong Sài Gòn năm xưa, có nhắc rằng những con đường như Bonard, Charner, de la Somme, Pellerin ngày trước đều vốn là kinh rạch lấp đi, thời ấy đi đâu cũng gặp nước là nước. Ông cũng kể lại chỗ ngã tư Bồn Kèn, nơi giao giữa Lê Lợi và Nguyễn Huệ ngày nay, từng có một bệ nước hình bát giác, chiều thứ Bảy nào lính Pháp cũng ra thổi nhạc cho dân chúng nghe. Nghĩ cũng lạ, một khúc sông từng chở thuyền bè, vài chục năm sau lại chở nhạc Tây, rồi mấy chục năm nữa lại chở bước chân của bao lứa học trò, bao đôi tình nhân. Đất không biết nói, nhưng nếu biết nói, chắc nó cũng ngán ngẩm mà cười cho cái vòng xoay dâu bể của phận người.
Một Vòng Dạo Phố Lê Lợi Những Năm Bảy Mươi
Giờ thử ngồi thuyền tưởng tượng ngược dòng thời gian, dạo một vòng Lê Lợi vào những năm 1970 xem sao. Xuất phát từ công viên Lam Sơn, nơi Nhà hát Tây cũ lúc này đã thành trụ sở Hạ Nghị Viện, bậc thềm cao nhìn xuống là cả dòng người xe tấp nập, hàng cây dầu cao vút, bệ tượng hai người lính đứng sừng sững. Ngay góc đường Tự Do là quán cà phê Givral, nơi giới văn nghệ sĩ, ký giả, chính khách hay ngồi nhâm nhi tách cà phê mà bàn chuyện thời sự. Givral từng là nền cũ của quán Grand Café de la Musique hồi đầu thế kỷ, rồi qua tay vài đời nhà thuốc tây mới thành quán cà phê danh tiếng ấy. Kế bên là hành lang Eden sang trọng, có rạp chiếu bóng Eden chuyên chiếu phim Âu Mỹ mới toanh, có cả vũ trường Queen Bee trên lầu.
Bước qua Nguyễn Huệ là cao ốc Rex, khai trương năm 1962 với bộ phim Ben-Hur, có Sở Thông Tin Hoa Kỳ, thư viện Abraham Lincoln nằm chung. Đi thêm chút nữa gặp nhà may De Fouquières may đồ thượng hạng từ những năm 1930, rồi nhà hàng Phạm Thị Trước với món bò kho trứ danh, tiệm kem Tuyết Lan, tiệm kem Mai Hương. Qua khỏi đường Pasteur là nhà hàng Kim Hoa, nhà sách Sài Gòn, rạp Casino Sài Gòn, nơi từ đầu thế kỷ ông Bernard đã dựng lên để chiếu phim, diễn kịch, làm ảo thuật. Dọc đường còn cơ man nào là nhà sách Văn Hữu, Nguyễn Trung, Việt Hương, Thanh Tuân, Dân Trí, và đặc biệt nhà sách Khai Trí của ông Nguyễn Hùng Trương, nơi có thể ngồi lì cả buổi giở từng trang sách mà chẳng ai đuổi.

Bồn Kèn tại giao lộ Lê Lợi – Nguyễn Huệ năm 1968. Ảnh tư liệu, via Người Đô Thị

Trái: Cao ốc REX. – Thư viện Abraham Lincoln. (Khoảng 1970). Nguồn: Nam Kỳ Lục Tỉnh. Đoạn đường bán sách cũ gần nhà thương Sài Gòn trên đường Lê Lợi. Ảnh tư liệu, via Người Đô Thị
Tới ngã năm Công Lý – Nguyễn Trung Trực thì có nhà hàng ca nhạc Quốc Tế chứa nổi bốn trăm thực khách, có nhà hàng Kim Sơn, nhà hàng Thanh Thế, chỗ văn nghệ sĩ, ký giả hay tụ tập uống cà phê vỉa hè bàn chuyện văn chương thời sự. Rồi nhà hàng ca nhạc Bồng Lai trên sân thượng, trang trí như vườn treo, muốn lên phải đi thang máy. Còn phía bên số chẵn, từ công viên Lam Sơn, có Thương xá Tax sầm uất, tiền thân là tòa nhà Grands Magasins Charner khánh thành năm 1924, công trình ba tầng mang dáng nửa Âu nửa Á, đỉnh có tháp đồng hồ mái cong kiểu chùa.
Đoạn cuối, gần chợ Bến Thành, có cả một chợ sách nằm dọc bờ tường Bộ Công Chánh, mái tôn cột gỗ hoặc che bạt ni-lông, sách báo cũ mới đủ thứ tiếng, giá rẻ hơn bên kia đường nên lúc nào cũng đông người chen chúc. Đi hết một vòng như vậy, tôi mới thấm cái câu người ta hay ví Lê Lợi là “đường sách” của Sài Gòn từ nhà sách sang trọng cho tới cái sạp lá tạm bợ ven đường, ai cũng có chỗ đứng, ai cũng góp một phần hồn cho con phố.
Đại Lộ Của Tình Yêu Và Tuổi Trẻ
Nhưng Lê Lợi đâu chỉ là phố buôn bán, nó còn là đại lộ tình yêu của biết bao thế hệ học trò, sinh viên Sài Gòn. Một bà cụ năm nay đã ngoài bảy mươi lăm, người Hà Nội di cư vào Nam năm 1954 kể lại, cuối tuần thời con gái, bà cùng bạn bè hay lên Lê Lợi, Nguyễn Huệ dạo chơi, mua sách, ăn kem, xem phim, và cả… ngóng đợi tín hiệu tình yêu đôi lứa. “Nữ sinh ngày đó thường thong thả đi xe đạp, mặc áo dài trắng trông rất dịu dàng dưới tán xanh cổ thụ.” Thời ấy chưa có kem Bạch Đằng, chỉ có tiệm Lan Phương hay Phương Lan gì đó, nữ sinh vào ăn, các chàng sinh viên cũng lân la theo vào.
Đại lộ này còn gắn với thú chụp hình lưu giữ thời xuân sắc. Từ năm 1921, tại số 54 Bonard đã có tiệm Khánh Ký của ông Nguyễn Đình Khánh, người quê Lai Xá, Hà Tây, từng thân với các chí sĩ yêu nước như cụ Phan Chu Trinh và chính ông là người chụp lại đám tang cụ Phan năm 1926 với hai vạn đồng bào đưa tiễn. Sau này còn có Mỹ Lai ảnh viện ở số 48, chủ nhân cũng người Lai Xá, ông giải thích cái tên nghe dễ hiểu lầm ấy rằng: Mỹ là mỹ thuật, Lai là Lai Xá, nghệ thuật của quê hương mình, chẳng dính dáng gì tới chuyện khác. Liền kề đó là tiệm uốn tóc Xuân Ngàn Hồng, các cô làm tóc xong bước một bước là qua tiệm chụp hình, khéo léo phối hợp làm ăn không biết có bà con gì với nhau không.
Những tấm hình ấy, bà cụ bảo, nhiều khi mang ý nghĩa đặc biệt lắm, bởi các chàng trai nay còn mai đã ra chiến trường, có khi không về nữa. Đại lộ Lê Lợi vì thế còn là chứng nhân cho những mối tình lãng mạn mà mong manh giữa thời đạn bom. “Những Thanh, những Tuấn, Kiệt, Thành mới vừa hóng mát sông Sài Gòn… thế mà thời gian vụt vèo ngắn ngủi sau đã chỉ còn trong ký ức”. Năm 1963, ngay công trường Diên Hồng cuối đường, nữ sinh Quách Thị Trang mới mười lăm tuổi bị bắn chết trong cuộc biểu tình đòi tự do dân chủ, cái chết ấy rúng động cả thành phố, công trường sau đổi tên theo tên cô để tưởng nhớ. Tôi chợt lặng người, thì ra con đường của kem ngọt, áo dài trắng, ảnh cưới hồng cũng chính là con đường từng thấm máu của một cô gái mười lăm tuổi. Đại lộ tình yêu, suy cho cùng, đâu chỉ có tình yêu đôi lứa, mà còn có cả tình yêu nước non, và cái giá phải trả cho nó.
Những Người In Dấu, Pháp – Việt Cùng Xây Dựng
Lần giở niên giám Đông Dương năm 1908, tôi thấy đại lộ Bonard thuở ấy đã quy tụ khối nhân vật đáng nhớ. Ở tòa nhà số 41 là gia đình Giáo Sư Marc-Ange Canavaggio, gốc đảo Corse, một trong số hiếm hoi có bằng Luật ở Sài Gòn thời đó; anh em ông còn làm ở Hội Đồng Quản Hạt, Phòng Canh Nông Nam Kỳ, thân thiết với các nhà báo Việt như Nguyễn Chánh Sắt, Lương Khắc Ninh, Trần Chánh Chiếu. Nhóm này đồng sáng lập những tờ báo quốc ngữ đầu tiên như Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn. Số 42bis là văn phòng công ty đồn điền cao su Suzannah, thành lập năm 1907 bởi ông Louis Cazeau, người sau này còn dựng nên khách sạn Continental sang trọng đầu tiên của Việt Nam, khởi công 1878, hoàn thành 1880, ngay góc Bonard – Catinat. Khách sạn ấy về sau còn mang tên Việt là Đại Lục Lữ Quán, từng đón nhà thơ Ấn Độ Tagore, văn hào Pháp André Malraux, văn hào Anh Graham Greene, người viết Người Mỹ trầm lặng và trong thời chiến còn là nơi tụ họp hằng ngày của ký giả quốc tế.
Nhưng đâu chỉ người Pháp làm nên danh tiếng đại lộ này. Tiệm may Công Tính Thành của một người Hà Nội ở số 80 Bonard được quảng cáo trên báo năm 1926 là “tiệm may lớn nhứt Sài Gòn, có trên 30 người thợ”. Kề bên là tiệm lụa của ông Nguyễn Khắc Trương hợp tác với huyện sĩ Lê Phát Vĩnh, con trai nhà giàu Lê Phát Đạt, người trong câu ví “Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Đạt”. Rồi tiệm giày An Thanh, tiệm xe đạp của những ông chủ người Việt khác. Và đặc biệt, ở số 68 Bonard có ông François Sự, tức Nguyễn Văn Sự, quê Bến Tre, chuyên buôn hột xoàn đá quý, hưởng ứng phong trào Minh Tân, làm ăn lớn tới mức giới buôn bên Paris cũng phải hợp tác. Ông từng viết thư kêu gọi đồng bào ủng hộ mình ứng cử vào Phòng Thương mại Sài Gòn, với những lời tha thiết về chuyện giữ vững thương mại An Nam trước sự cạnh tranh của ngoại bang. Đọc những dòng ấy, tôi bỗng thấy thương, giữa đất người, giữa bao nhiêu vốn liếng ngoại quốc, vẫn có những người Việt lặng lẽ chen chân, giữ lấy một góc phố cho riêng mình, cho đồng bào mình. Người Pháp rồi cũng phải ra đi, nhưng cái tinh thần ấy, tôi tin, mới chính là thứ còn đọng lại lâu bền nhất trên đại lộ này.
Năm Tháng Khó Khăn Và Khát Vọng Đổi Thay
Sau năm 1975, đại lộ Lê Lợi bước vào một kiếp khác, chẳng còn hoa lệ như xưa. Nhà sách Khai Trí không còn, đường sách thu hẹp dần vì người bán đông hơn người mua. Nhiều người phải bán sách để đổi lấy ký gạo, viên thuốc giữa thời hậu chiến khốn khó. Người từng làm chủ tiệm sách giờ trải bạt ra vỉa hè bán đủ thứ “lạc xoong”. Sách cũ, hộp quẹt gas, cây viết bic, đôi giày mòn vẹt. Cảnh dân chợ trời hò nhau chạy mỗi khi “phường quận” đi dẹp lòng lề đường đã thành ký ức khó quên của cả một thế hệ. Thương xá Tax sang trọng năm nào cũng đổi tên thành Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp, những hàng xe hơi bóng bẩy nhường chỗ cho xe đạp cũ kỹ, quán xá nổi tiếng phần lớn đóng cửa, người ta quay ra ăn vỉa hè với tô bún riêu, đĩa bột chiên, ổ bánh mì rẻ tiền.
Ấy vậy mà giữa cái khó ấy, vẫn có người lanh lợi tìm được đường sống. Buôn bán chút đỉnh, đổi tiền đô do kiều bào gửi về, hay lận vào những thùng gỗ nhỏ xíu bán đủ thứ hàng hiếm mà thủy thủ tàu viễn dương lén đưa về. Rồi thành phố cũng từ từ hồi sinh. Cuối thập niên 1980, khi những thùng gỗ vỉa hè đầy lên, khách mua đông hơn, kể cả khách Tây du lịch, thì cái sinh khí đổi mới bắt đầu nhen nhóm. Kem Bạch Đằng bán ly ra đời, người ta được ngồi ghế nệm ăn kem thay vì mút cây kem đá dưới gốc cổ thụ như hồi trước.
Năm 1994, khách sạn New World mọc lên sừng sững ở đường Lê Lai nối dài, đón tiếp cả tổng thống Mỹ Bill Clinton, George H.W. Bush. Đại lộ từng in dấu giày lính viễn chinh, giờ lại in dấu bước chân nguyên thủ trong thời hợp tác, phát triển. Bốn năm sau, Caravelle hai mươi bốn tầng mọc bên tòa nhà cũ, rồi Saigon Center tiếp nối soi bóng xuống Lê Lợi. Nhưng biến động lớn nhất có lẽ là giữa thập niên 2010, khi đại dự án Metro Bến Thành – Suối Tiên buộc phải đốn hạ hàng chục cây cổ thụ, rào kín cả con đường suốt hơn bảy năm trời để đào ga ngầm. Bao nhiêu chủ tiệm, cửa hàng bên đường phải “tái khởi nghiệp” lần thứ hai sau thời gian dài tê liệt.
Rồi “lô cốt” cũng được gỡ bỏ, đường Lê Lợi hiện ra rộng rãi nhưng toàn một màu bê tông xám ngắt giữa cái nắng đổ lửa của Sài Gòn, khiến dư luận xôn xao chuyện nên trồng lại cây xanh hay làm mái che cho hợp lý. Người thì muốn cây xanh để lọc không khí, tạo bóng mát như xưa, người lại bảo phố nhiệt đới cần mái che cho khách du lịch, cho an toàn hạ tầng ga ngầm bên dưới. Tôi nnghĩ, dù chọn cách nào, thì cũng mong người ta nhớ rằng cái đại lộ này đã có một “cuộc đời” dài hơn một thế kỷ rưỡi, từ dòng kinh nước lợ, qua đại lộ thực dân, qua bom đạn chiến tranh, qua tem phiếu bao cấp, tới cả công trường ngổn ngang thời hiện đại, bất cứ sự tôn tạo nào cũng nên thuận với lòng dân, mới giữ được cái mà người xưa gọi là “long mạch” của thành phố.
Thương Xá TAX, Viên Kim Cương Lận Đận
Nói tới Lê Lợi mà không nhắc Thương xá Tax thì thiếu sót lắm. Công trình xây từ năm 1880 ngay góc Charner – Bonard, gần Tòa Thị Chính, năm 1914 công ty Société Coloniale des Grands Magasins mở tiệm bách hóa Grands Magasins Charner de Saigon, tới năm 1924 thì tái thiết theo phong cách Art Deco, đón khách thượng lưu của cả Liên bang Đông Dương. Lễ khai trương ngày 27 tháng 11 năm 1924 từng là sự kiện nhộn nhịp được báo chí loan tin rộn ràng. Năm 1925 tiệm còn gắn hệ thống còi điện báo tin mới từ chính quốc; năm 1942 xây thêm lầu bốn, phá tháp đồng hồ, thay bằng bảng chữ GMC.

Trái: Tòa nhà GMC, kiến trúc nguyên thủy của thương xá TAX, với tháp đồng hồ vào khoảng năm 1930. Author: Indochine française. Aéronautique militaire. Phải: Thương xá TAX trước năm 1975. Nguồn: Nam Kỳ Lục Tỉnh.
Sang thời Việt Nam Cộng Hòa, GMC đổi tên thành Thương xá TAX vào khoảng năm 1960. Rồi trải qua bao lần đổi chủ, đổi tên, từ Cửa hàng Phục vụ Thiếu nhi, Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp, đến Công ty Bán lẻ Tổng hợp Sài Gòn, mãi đến năm 1998 cái tên Thương xá TAX mới được phục hồi. Với người Sài Gòn, Tax không chỉ là chỗ buôn bán, mà là nơi ba mẹ ẵm con nhỏ ra phố chơi, cho chạy lăng quăng dọc hành lang mát rượi; là nơi những cặp tình nhân hẹn hò trốn cái nắng gắt để tìm chút dịu lòng. Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh từng phổ nhạc, ghi lại hình ảnh người lính nhớ về giờ thương xá sắp đóng cửa, người lao công quét dọn hành lang, để rồi cả thành phố chìm vào giờ giới nghiêm. Nghe câu hát ấy, tôi mới thấm, một trung tâm buôn bán tưởng chừng vô tri cũng có thể trở thành biểu tượng của cả một thời đại, một nỗi nhớ khôn nguôi.
Ấy vậy mà năm 2014, lệnh đóng cửa được ban ra, tháng 10 năm 2016 việc tháo dỡ chính thức bắt đầu, nhường chỗ cho dự án Satra Tax Plaza bốn mươi tầng, dự kiến hoàn thành năm 2020, cùng lúc tuyến Metro số 1 đi vào hoạt động. Nhưng đời không như mơ, sáu năm sau ngày đập bỏ, tính đến 2022, khu đất vẫn chỉ là bãi hoang, tạm dùng làm bãi giữ xe. Satra đã chi hơn một ngàn tỷ đồng đền bù, đóng sáu mươi mốt tỷ tiền thuế suốt sáu năm không kinh doanh gì, thiệt hại tạm tính ba trăm sáu mươi tỷ đồng, một cái giá quá đắt cho sự chậm trễ. Dễ đập mà khó xây, câu ấy vận vào Tax đúng không sai một ly.
Mãi tới trước Tết Bính Ngọ 2026, thành phố mới có chủ trương chỉnh trang khu đất này thành công viên tạm, phục vụ người dân và du khách. Những lối đi lát gạch uốn lượn, thảm cỏ xanh mướt, bồn hoa rực rỡ, ghế nghỉ bố trí hợp lý đã biến “khu đất vàng” ngổn ngang năm nào thành một “ốc đảo xanh” giữa lòng đô thị, kết nối hài hòa với đường hoa Nguyễn Huệ, đường sách, chợ Bến Thành thành một chuỗi trải nghiệm cho người dân từ thưởng hoa, đọc sách, mua sắm, tới nghỉ chân, chụp ảnh. Sáng sáng người già ra tập thể dục, chiều chiều gia đình dẫn con ra chơi, tối đến từng nhóm bạn trẻ tụ họp chụp ảnh giữa không gian đô thị về đêm. Cái công trình từng tồn tại hơn một trăm ba mươi sáu năm, đập bỏ trong hai năm, bỏ hoang sáu năm, giờ lại hồi sinh bằng một hình hài khác, không còn là thương xá sầm uất, mà là mảng xanh tạm bợ giữa khi chờ đợi một tương lai chưa định hình. Tôi đứng nhìn khoảng xanh ấy mà lòng cứ vấn vương, không biết nên mừng vì phố xá có chỗ thở, hay nên tiếc cho một biểu tượng trăm năm giờ chỉ còn là cái bóng của chính mình, đợi một ngày được hồi sinh trọn vẹn, hay mãi mãi chỉ là khoảng trống mang tên “tạm”.
Rồi tôi mới ngẫm ra, đại lộ Lê Lợi, suy cho cùng, chưa bao giờ chỉ là một con đường. Nó là một dòng kinh đã hóa thân, một chứng nhân đã bao lần đổi áo mà vẫn giữ nguyên cái hồn cốt bên dưới. Hồn cốt của một thành phố không ngừng lột xác, không ngừng đau đáu giữa cũ và mới, giữa giữ và bỏ, giữa thương nhớ và tiến lên. Người ta có thể lấp một dòng kinh, đập một thương xá, đốn một hàng cây, nhưng cái ký ức tụ lại trong lòng người, như bà cụ, như chính tôi đây thì không có công trình nào phá dỡ nổi. Và có lẽ, đó mới chính là thứ “long mạch” thật sự của thành phố này, không nằm dưới lòng đất, mà nằm trong lòng người.

Đường Lê Lợi sau khi “thay áo mới” từ cuối tháng 12.2025. Ảnh: Người Lao Động
(còn nữa)
Nguyễn Đông A






























