
I. Hữu Loan, Nhà Thơ Của Thời Kỳ Kháng Chiến Chống Pháp
Một trong những bài thơ xưa được phổ nhạc mà tôi thích nhất, đó chính là bài Màu Tím Hoa Sim của nhà thơ Hữu Loan.
Khi còn học cấp Hai và Ba, tôi không hề được học Hữu Loan, thế là tôi cứ nghĩ trong đầu, ông này, chắc là nhà thơ thuộc về hai mươi năm của miền Nam, trước 1975.
Dè đâu, nào phải vậy. Quê ông ở Thanh Hóa, ông từng đi kháng chiến, từng giữ chức vụ cao, cả về chính trị lẫn văn nghệ. Sau, vì có tham gia phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm, ông phải đi học tập chính trị. Hết thời gian quản thúc, ông quyết định về vườn, trở lại cuộc đời nông dân, chân lấm tay bùn, dãi dầu, một nắng hai sương.
Ban đầu, tôi thích bài thơ Màu Tím Hoa Sim. Nhưng về sau thì tôi thích cả người thơ, tức là Hữu Loan, khi nghe những câu chuyện kể về ông, về tánh cách ông, thẳng thắn, bộc trực, quyết liệt, không sợ hãi, không đớn hèn trước đàn áp của bọn cường quyền, cậy thế.
******
II. Bài Thơ Màu Tím Hoa Sim Của Hữu Loan
Trong vụ án Nhân Văn - Giai Phẩm, bài thơ Màu Tím Hoa Sim với những câu như: nhưng không chết người trai khói lửa / mà chết người gái nhỏ hậu phương, bị xem là thứ văn chương ủy mị, mang tư tưởng tiểu tư sản và bị cấm lưu hành. Nhưng bài thơ vẫn truyền đi, và bằng một cách nào đó, nó vào đến miền Nam, để rồi được nâng niu và coi như một kiệt tác của thi ca. Và tạp chí Khởi Hành, một tạp chí tên tuổi lúc bấy giờ, cũng đã từng trao giải thưởng cho tác giả và bài thơ.
Màu Tím Hoa Sim
(Khóc vợ Lê Đỗ Thị Ninh)
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Tôi
Người vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông nhau một lần
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa
Một chiều rừng mưa
Ba người anh tự chiến trường Đông Bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu. - (1949)
******
II.1. Nàng Có Ba Người Anh
Nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói
Khi tóc nàng xanh xanh
Hữu Loan con nhà nghèo. Nhưng vợ ông, nàng trong bài thơ Màu Tím Hoa Sim, lại thuộc con nhà trâm anh thế phiệt. Ba vợ của ông, giữ đến chức Tổng Thanh Tra Canh Nông Đông Dương.
Ba người anh vợ của ông, đều đi bộ đội, như ông vậy, và như hầu hết thanh niên trai tráng, cả trí thức lẫn nông dân, thời ấy.
******
II.2. Ngày Hợp Hôn, Nàng Không Đòi May Áo Mới
Tôi
Người vệ quốc quân xa gia đình
Yêu nàng như tình yêu em gái
Ngày hợp hôn, nàng không đòi may áo mới
Tôi mặc đồ quân nhân
Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân
Nàng cười xinh xinh
Bên anh chồng độc đáo
Là con nhà giàu, nhưng vợ ông, bà Ninh, lại hết sức đơn sơ, giản dị. Theo lời Hữu Loan kể lại, thì bà không chỉ không cầu kỳ, mà cũng chẳng đòi hỏi gì, hay yêu cầu gì, với chồng, với gia đình chồng, trong ngày cưới.
Họ là một đôi, coi trọng tình cảm chân thành.
Ngày kết hôn, Hữu Loan mặc bộ đồ nhà binh, dưới chân là đôi giày đinh còn bết bùn đất. Đám cưới trong thời chiến, vất vả là thế, khó khăn là thế, gian khổ là thế, thiếu thốn là thế, nguy hiểm là thế, nhưng vẫn không ngăn được tình yêu của họ, vẫn không ngăn được hôn lễ của họ được diễn ra, vẫn không ngăn được nụ cười rất xinh của cô gái trẻ bên người chồng độc đáo.
******
II.3. Thương Người Vợ Chờ Bé Bỏng Chiều Quê
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi
Từ chiến khu xa nhớ về ái ngại
Lấy chồng đời chiến chinh
Mấy người đi trở lại
Nhỡ khi mình không về
Thì thương người vợ chờ bé bỏng chiều quê
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người gái nhỏ hậu phương
“Mấy người đi trở lại” là một câu cảm thán. Cảm thán này, bao trùm lên toàn bộ đoạn thơ. Đi thì nhiều, ra trận thì nhiều, nhưng quay lại, nhưng trở về, biết được bao nhiêu.
Đó là điều chẳng ai mong muốn, nhưng lại là lẽ thường tình của những chàng trai, của những cuộc đời sống trong thời loạn.
Thời loạn, thời của chia ly, thời của xa cách, thời của da diết nhớ thương
Thời loạn, thời của mong manh, thời của nhiều nỗi sợ lo, thời của nhiều rủi ro, mất mát.
Thời loạn, thời của những bất ngờ, đột ngột.
Thế nên mới: Nhưng không chết người trai khói lửa / Mà chết người gái nhỏ hậu phương.
******
II.4. Tôi Về Không Gặp Nàng
Tôi về không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối
Chiếc bình hoa ngày cưới
Thành bình hương tàn lạnh vây quanh
Người tưởng sẽ ra đi vào bất cứ lúc nào, lại là người đón nhận hung tin, lại là người quay trở về để chịu tang người mất.
Thời loạn, hôn lễ sơ sài một, thì đám tang, lại lạnh lẽo đến mười.
Không người thăm viếng, nên rất vắng vẻ, cô đơn. Chỉ má nàng, thân nhân duy nhất, ngồi bên di vật duy nhất, còn để lại - chiếc bình cắm hoa ngày cưới trở thành bình cắm hương, những nén hương tàn, run rẩy bụi tro nằm trên đất mộ.
******
II.5. Không Được Nghe Nhau Nói, Không Được Trông Nhau Một Lần
Tóc nàng xanh xanh
Ngắn chưa đầy búi
Em ơi giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được trông nhau một lần
Trước khi trở thành chồng vợ, Hữu Loan kể, thì ông là gia sư, được mẹ vợ nhờ kèm cặp cho bà. Trong một lần đi chơi trên đồi sim, bà hỏi ông: Thầy có thích ăn trái sim không? Nghe hỏi, ông nhìn quanh, đồi ngăn ngắt một màu sim. Rồi thì bà hái cả một nón đầy sim. Ông cắn vào trái sim, thảng thốt kêu lên: Ngọt quá.
Trái ngọt hay tình ngọt? Hay cả hai?
Người ta nói, màu tím là màu của sự bí ẩn. Cả một đồi sim hôm ấy, chứa biết bao là bí ẩn của ông, gia sư, và bà, cô bé học trò, mà tận đến nhiều năm sau này, họ mới giải mã được - tình yêu.
Cuộc tình, với những giây phút đầu tiên, sao mà đẹp, sao mà thơ. Vậy mà, giây phút tận, lại trái ngược hoàn toàn, bà vội vã ra đi, đến mức, họ không kịp nghe nhau nói, họ không kịp trông thấy nhau, dù chỉ một lần sau cuối.
******
II.6. Ngày Xưa Nàng Yêu Hoa Sim Tím
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím
Áo nàng màu tím hoa sim
Ngày xưa đèn khuya bóng nhỏ
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa
Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím, ông kể lại như thế. Màu tím, không chỉ mang vẻ huyền bí, mà màu tím, còn là biểu tượng của tình yêu chung thủy, sắt son.
Yêu hoa sim tím, nên áo nàng mặc, cũng có màu tím của hoa sim. Và trong ký ức của ông, nhiều năm về trước, trước khi nàng nằm dưới hầm mộ tối, thì đôi môi nàng có màu đỏ tím, và hai má nàng cũng tím đỏ một màu sim.
Nàng trong ông, vĩnh viễn một hình ảnh nhỏ bé và mong manh. Nàng trong ông, vĩnh viễn một hình ảnh, đèn khuya bóng nhỏ, nàng vá cho chồng tấm áo.
Ngày xưa.
******
II.7. Gió Sớm Thu Về, Cỏ Vàng Chân Mộ Chí
Một chiều rừng mưa
Ba người anh tự chiến trường Đông Bắc
Được tin em gái mất
trước tin em lấy chồng
Gió sớm thu về rờn rợn nước sông
Đứa em nhỏ lớn lên
ngỡ ngàng nhìn ảnh chị
Khi gió sớm thu về cỏ vàng chân mộ chí
Cưới xong, chỉ vỏn vẹn hai tuần phép bên nhau, và đúng ba tháng sau, thì ông nhận tin dữ, người vợ bé bỏng của ông nơi quê nhà, đã không còn nữa.
Gió sớm thu về, không heo may, không lả lơi đùa nước. Gió sớm thu về hôm nay, hôm ông nhận hung tin, rờn rợn một hồn bay.
Gió sớm thu về, không sóng hồ, không liễu rủ. Gió sớm thu về hôm nay, hôm ông nhận hung tin, chân mộ chí, cỏ vàng hoe.
******
II.8. Những Đồi Sim Dài Trong Chiều Không Hết
Chiều hành quân
Qua những đồi sim
những đồi sim dài trong chiều không hết
Màu tím hoa sim
tím chiều hoang biền biệt
Mọi thứ giờ đây đang dần xa, xa ngút ngàn: buổi chiều, màu hoa sim tím, và cả nàng nữa.
Biền biệt, xa xăm, không dấu vết.
Dòng sông, nơi nàng của ông bị nước cuốn trôi, nằm dưới chân núi Nưa. Và lạ lùng thay, hai bên bờ, cũng chỉ duy nhất, ngập tràn màu hoa sim tím.
Hoàng hôn trải dài đến thế, tít tắp đến thế, vậy mà cũng không sao đi hết một màu sim.
******
II.9. Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà, Vợ Anh Mất Sớm Mẹ Già Chưa Khâu
Có ai ví như từ chiều ca dao nào xưa xa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu
Ai hỏi vô tình hay ác ý với nhau
Chiều hoang tím có chiều hoang biết
Chiều hoang tím tím thêm màu da diết
Nhìn áo rách vai
Tôi hát trong màu hoa
Áo anh sứt chỉ đường tà
Vợ anh mất sớm mẹ già chưa khâu
Câu ca dao ngày nào, áo anh sứt chỉ đường tà, vợ anh chưa có mẹ già chưa khâu, bây giờ, dù vô tình hay ác ý, khi ai đó ngân nga lên, cũng vẫn trở nên thật mai mỉa với Hữu Loan.
Không phải Hữu Loan chưa có vợ, mà là, chỉ sau vỏn vẹn ba tháng, bên ông, đã khuyết mất một người, người sóng đôi, là bóng và hình của nhau trong đời.
Chỉ sau vỏn vẹn ba tháng, Hữu Loan mồ côi vợ, trở về vị trí một mình, trong u buồn, trong cô đơn, trong thiếu thốn.
******
II.10. Màu Tím Hoa Sim
Màu tím hoa sim, tím tình trang lệ rớm
Tím tình ơi lệ ứa
Ráng vàng ma và sừng rúc điệu quân hành
Vang vọng chập chờn theo bóng những binh đoàn
Biền biệt hành binh vào thăm thẳm chiều hoang màu tím
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu.
Trang nhật ký cuộc đời Hữu Loan từ đây, trở thành trang lệ tím.
Còn ráng vàng chiều, từ đây, trở thành ráng vàng ma, ma quái, liêu trai.
Bóng ráng vàng ma quái, chập chờn, từ đây, sẽ song hành cùng giai điệu hành quân của binh đoàn, rúc lên từ chiếc tù-và, vang vọng, thăm thẳm, trôi mất hút vào chiều hoang màu tím.
Biết hát vọng về đâu bây giờ?
Biết với níu về đâu bây giờ?
Áo anh nát chỉ rồi, ơi chiều hoang biền biệt.
******
III. Nhạc Sĩ Dzũng Chinh
Nhạc sĩ Dzũng Chinh, tên thật là Nguyễn Bá Chính, sinh năm 1941 tại Nha Trang.
Ông theo học khóa Sĩ Quan đặc biệt tại Đồng Đế, Nha Trang. Cuối năm 1968, tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy, ông về Trung Đoàn 44, trú tại Sông Mao, Phan Thiết.
Nhắc đến Sông Mao, các bạn yêu thơ, hẳn sẽ nhớ ngay đến địa danh này, từng được nhắc trong một bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Bắc Sơn, tức Sơn Biển:
Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
Nghe súng rừng xa nổ cắc-cù
Chợt thấy trong lòng mình bát ngát
Nỗi buồn sương khói của mùa thu
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi buồn cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui - (Mật Khu Lê Hồng Phong)
Tháng 03.1969, bị phục kích, ông hứng trọn một tràng AK. Cái chết tức tưởi của ông để lại nhiều thương xót và luyến tiếc cho gia đình, bạn bè, chiến hữu, cũng như người yêu mến các sáng tác của ông.
Mộ ông nằm ở dưới chân núi Chà Bang, Phan Rang (Chơk Chabbang). Quanh mộ, trồng toàn hoa sim, “những đồi sim dài trong chiều không hết”.
Khi mất, Dzũng Chinh mới chỉ vừa hai mươi tám tuổi.
Các tác phẩm ông để lại cho đời, gồm: Những Đồi Hoa Sim (thơ Hữu Loan), Hai Màu Hoa (viết cùng Bùi Tuấn Anh), Tha La Xóm Đạo (thơ Vũ Anh Khanh), Đêm Dài Chưa Muốn Sáng, Lời Tạ Từ và Hoa Trắng Tình Yêu.
Ông sáng tác Những Đồi Hoa Sim, khi đang là sinh viên Đại Học Luật Khoa, Sài Gòn.
******
IV. Ca Khúc Những Đồi Hoa Sim Của Dzũng Chinh
Dzũng Chinh không phổ thơ Hữu Loan như Phạm Duy với Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà, mà ông viết Những Đồi Hoa Sim dựa theo ý bài thơ Màu Tím Hoa Sim
Những Đồi Hoa Sim
Những đồi hoa sim, ôi những đồi hoa sim, tím chiều hoang biền biệt
Vào chuyện ngày xưa, nàng yêu hoa sim tím, khi còn tóc búi vai
Mấy lúc xông pha ngoài trận tuyến, ai hẹn được ngày về
Rồi một chiều mây bay
Từ nơi chiến trường Đông Bắc đó, lần ghé về thăm xóm, hoàng hôn tắt sau đồi
Những chiều hành quân, ôi những chiều hành quân, tím chiều hoang biền biệt
Một chiều rừng mưa, được tin em gái mất, chiếc thuyền như vỡ đôi
Phút cuối, không nghe được em nói, không nhìn được một lần
Dù một lần đơn sơ
Để không chết người trai khói lửa, mà chết người em nhỏ, hậu phương tuổi xuân thì
Ôi, ngày trở lại, nhìn đồi sim nay vắng người em thơ
Ôi, đồi sim tím, chạy xa tít, lan dần theo bóng tối
Xưa, chưa nói gì bên em, một người đi chưa về, mà đành lỡ ước tơ duyên
Nói, nói gì cho mây gió, một rừng đầy hoa sim nên để chiều đi không hết
Tím cả chiều hoang, nay tím cả chiều hoang, đến ngồi bên mộ nàng
Từ dạo hợp hôn, nàng không may áo cưới, thoáng buồn trên nét mi
Khói buốt, bên hương tàn nghi ngút, bên mộ đầy cỏ vàng
Mà đường về thênh thang
Đồi sim vẫn còn trong lối cũ, giờ thiếu người xưa ấy, đồi hoang mới tiêu điều.
******
V. Ngày Xưa, Nằng Yêu Hoa Sim Tím
Mỗi lần hát hoặc nghe người khác hát những ca khúc được phổ từ Màu Tím Hoa Sim, là mỗi lần, tôi rưng rưng, xúc động. Đó là điều mà tôi cho rằng, hết sức diệu kỳ, và chỉ thơ hoặc nhạc mới có thể đem lại cảm xúc nguyên vẹn, nhiều lần và bền bỉ đến thế.
Bài thơ, tính đến nay, đã ra đời ngót bảy mươi sáu năm. Và nhạc, nếu tính từ năm 1960, Dzũng Chinh viết Những Đồi Hoa Sim, thì đến nay, cũng đã được sáu mươi lăm năm rồi.
Chính tác giả kể lại, ông đã ngồi trong cơn xúc động và viết một mạch bài thơ này chỉ trong vòng hai tiếng đồng hồ.
Tuy tôi cách ông nhiều thế hệ, nhưng tôi tin, tôi hiểu được cảm xúc ông, lúc ấy. Muốn khóc mà không thể nào khóc được. Muốn gào thét trong cơn phẫn nộ điên cuồng, mà chẳng thể. Bao đớn đau, bao thống thiết, ông dồn xuống các dòng chữ. Lúc đó, chữ không còn là chữ nữa, nó đã là máu lệ của ông.
Ông đã khóc bằng máu mình. Máu trào ra từ hai hốc mắt, nhỏ xuống, hòa vào mực, thành bài thơ khóc người vợ trẻ chốn quê nhà của ông, mà chúng ta, đang cùng chứng kiến, hôm nay.
******
VI. Màu Tím Hoa Sim, Tím Chiều Hoang Biền Biệt
Khi đọc đến ba câu cuối:
Tôi ví vọng về đâu
Tôi với vọng về đâu
Áo anh nát chỉ dù lâu.
Tôi thực sự cảm ra được sự bất lực và nỗi đau khôn cùng của Hữu Loan khi ông bị mất đi người vợ hiền, chỉ vỏn vẹn ba tháng sau ngày cưới.
Sống trong cõi đời là sống cùng đau khổ. Vẫn biết thế. Nhưng chỉ ai rơi vào hoàn cảnh đột ngột, bất ngờ, hơn cả những bất ngờ, đột ngột thường thấy, như tác giả đương gánh chịu, có lẽ, mới có thể cảm thông ông nhiều hơn.
Bài thơ được bảy nhạc sĩ phổ thành những ca khúc khác nhau. Nhưng hay nhứt, với tôi, vẫn là Áo Anh Sứt Chỉ Đường Tà của Phạm Duy; Những Đồi Hoa Sim của Dzũng Chinh; Chuyện Hoa Sim của Anh Bằng và Chuyện Người Con Gái Hái Sim của Hồng Vân.
Còn tôi, tôi bắt đầu biết yêu màu hoa sim tím kể từ ngày tôi yêu bài thơ Màu Tím Hoa Sim của Hữu Loan!
Sài Gòn 27.06.2025
Phạm Hiền Mây
Nguồn: Fb Phạm Hiền Mây
