
Tranh Đinh Trường Chinh
1.
Huê liến thoắng dẹp xấp vải đang may dở:
Huê liến thoắng dẹp xấp vải đang may dở:
– Em biết anh sẽ tới mà.
Tôi cười làm bộ đưa tay bắt tay nàng, bàn tay mềm mại mới tối qua gần như phát lạnh ôm cứng tôi giờ đã trở nên ấm áp, cũng nắm chặt bàn tay tôi:
– Phước đức ông bà, anh uống gì em pha, cà phê, nước chanh, em chỉ có hai món đó thôi. À quên, chè bông cau nữa, em mới cúng mừng…
Tôi cười, buông bàn tay Huê ra:
– Ở đâu có sẵn hay vậy? Xứ khỉ ho cò gáy này…
Huê nheo mắt:
– Em biết thế nào anh cũng tới, chiều qua trên Cheo Reo, sẵn mua vội vài món chờ khách quý.
Chiều qua, một chuyến bất ngờ khẩn cấp phải về Tiểu Khu họp, mà thường đi lại giữa Phú Túc lên Cheo Reo đều phải đi bằng trực thăng, nhưng cả tuần nay trực thăng bận tập trung cho mặt trận trong địa bàn nên ngoài phải đi đường bộ không còn lựa chọn nào khác.
Con đường đầy bất trắc, hầu như tháng nào cũng có xe đò đạp phải mìn Việt Cộng, chúng tôi, một thầy hai trò, cùng một tài xế xe Jeep đã “tử tế” cho thêm một vị khách đi nhờ xe, Huê, cô thợ may xinh đẹp có cái tủ thuốc lá trước cửa, nhân xe dừng lại mua mấy gói thuốc, tán gẫu vài câu, nói đùa, tụi anh về phố em đi không. Không ngờ Huê vội vã nhận lời:
– Em xin theo trực thăng cả tuần nay mà chưa được. Thật là may cho em quá.
Lỡ mời, tôi cố từ chối khéo:
– Đường mất an ninh em không sợ sao?
Huê vừa dọn hành trang ra xe, vừa cười:
– Mấy anh quan lính, xe Jeep còn chưa sợ, em sợ gì.
Thôi thì có một người đẹp ngồi bên tán hươu tán vượn cho… đỡ lo trên đoạn đường nín thở sáu mươi cây số này. Tôi hơi bất ngờ thấy Huê và mấy anh lính đon đả chào nhau, Kim tài xế giới thiệu với tôi Huê là “bác sĩ” quen của mấy anh lính ở Phú Túc này. Huê vừa rón rén ngồi lên xe, vừa bẽn lẽn cải chính:
– Mấy anh chọc em đó, em chỉ là y tá vườn chuyên trị Penicillin cho mấy ảnh thôi.
Tôi mở tròn mắt:
– Trời, Huê giỏi quá, làm tùm lum nghề.
– Dạ, giỏi gì đâu anh, xứ mù kẻ chột làm vua, kiếm thêm chút đỉnh, em còn phải lo cho bà nội già, bịnh lên bịnh xuống, còn đứa em gái đang học Trung Học trên Cheo Reo nữa.
– Ba má em đâu?
Huê xa xôi, buồn buồn:
– Má mất sớm, ba bị mấy ổng bắt lên núi cải tạo, không biết sống chết.
– Lâu chưa?
– Dạ mấy năm.
– Ba làm gì mà chúng bắt?
– Dạ có làm gì đâu anh, ba em làm thầy thuốc, đi lại nhiều, hồi còn dưới quê chính quyền nghi ba em hoạt động cộng sản, mời lên mời xuống, sợ quá, ba đưa bà nội bỏ làng lên đây sống.
– Chớ trước là ở đâu?
– Ở Củng Sơn, Phú Yên. Hồi đó con đường 7 còn chưa đứt như sau này, ba tính lên đây có nhớ quê thì còn chạy lên chạy xuống cũng gần. Lên đây ba đi làm thuốc tận trong mấy buôn xa, mấy ông trên núi nghi ba tình báo gì của quốc gia nên bắt ba lên núi học tập.
Huê ngồi phía trong ghế trưởng xa, tôi ngồi phía ngoài giữ cho nàng khỏi rớt xuống khỏi xe, hai chiếc bàn tọa không mấy khiêm tốn có vẻ hơi quá khổ với chiếc ghế, nên tay trái tôi phải vòng sau lưng Huê ôm chặt lấy eo nàng, Huê cũng hiểu cái thế chẳng đặng đừng, nàng chẳng những mặc nhiên cho tôi ôm mà còn vòng tay phải của nàng giữ lấy người tôi như một thể hiện biết ơn và… công bằng.
Mấy anh lính cũng tham gia người một câu về chuyện thuốc men, tất nhiên tôi biết mấy ông tướng chích thuốc cho bịnh gì, mấy chàng không có vẻ mắc cỡ và Huê cũng không có vẻ gì là coi thường:
– Lính mà… Ở đây hiếm bác sĩ nên em quen hầu hết mấy ảnh…
Ngừng một chút mấy ngón tay bên hông tôi ngọ nguậy:
– May… anh chưa là bịnh nhân của em.
Huê liếc tôi đùa:
– Chưa, hay là không phải là…?
Chắc sợ tôi bất mãn, Huê vội giả lả:
– Chọc anh cho vui, đừng giận em…
Tôi siết thêm cánh tay ôm:
– Cứ thoải mái không sao, hai tháng qua anh tới đây mà chưa được quen em là em biết rồi.
Liếc chừng ánh mắt Huê, tôi thấy nàng có vẻ nể nang, tin cậy được ngồi trước với một sĩ quan thay vì phải chen chúc cặp bốn với binh sĩ ở phía sau đang căng thẳng hai cây súng lên cò sẵn chong ra hai bên bìa rừng, chấp nhận một chuyến sống chết nếu không may bị Việt cộng chặn đường, con đường gần như lính quốc gia hàng ngày phải mở đường, dọn mô, lấp hầm chông, gỡ mìn của Việt cộng lén lút tranh thủ hoạt động ban đêm những lúc những nơi chúng thấy vắng lính tuần đường, nghĩa là bên nào cũng hoạt động tối đa có thể, để bên này giữ bình yên, bên kia “tàn sát lệnh” lên đời sống những chuyến xe mỗi ngày phải nhắm mắt hên xui, mà người dân nửa đùa nửa thật đặt tên là đường tử thần.
Nói nghe sợ vậy nhưng chúng tôi có phần cũng yên tâm vì dọc đường thấy có mấy Đại Đội Địa Phương Quân đồn trú, thấy mấy anh lính phe ta vẫn vô tư súng vác vai “lang thang” đi dọn đường, mấy sĩ quan chỉ huy bạn tôi thỉnh thoảng cũng lên PRC 25 thăm hỏi rôm rả, và hình như có được thêm một phần sức mạnh khi có Huê bên cạnh suốt dọc đường.
Khổ nỗi, lính không đủ trải khắp con đường dài, lính chỉ đủ tập trung an ninh cho hai đầu đông dân cư, quận lỵ Phú Túc và Tiểu Khu Phú Bổn, còn khoảng giữa hoang vu thì chỉ để dành cho chính phủ lâu lâu mở một vài trận càn quét khơi khơi không thấy một tên Việt cộng nào. Sáu mươi cây số chỉ có hai Trung Đội Pháo Binh yểm trợ mỗi đầu mười một cây số, còn gần bốn mươi cây số khúc giữa thì coi như bỏ ngỏ cho Việt cộng múa gậy vườn hoang.
Con đường đầy ổ gà, ổ trâu nên xe khó chạy nhanh và dằn xóc dữ dội, cũng nhờ vậy mà cánh tay phải của tôi được một bữa mỏi nhừ ôm siết người đẹp. Mùi tóc và mùi da thịt của Huê thật làm tôi cứ muốn vượt qua cái lịch sự mà áp đại một nụ hôn lên môi người con gái mới quen chưa biết nói tiếng thương yêu, hình ảnh đầu ấp tay gối làm tôi liên tưởng tới cái giường, chỉ khác là không phải chúng tôi đang nằm, mà là phải lắt la lắt lẻo ngồi, không biết nàng có nghĩ như vậy không. Tuy nhiên đường dài cũng khó nén lòng, thỉnh thoảng tôi nghiêng mặt hôn trộm nhẹ lên tóc Huê, thấy đôi mắt nàng lúng liếng liếc khẽ tôi thật nhanh, không biết chẳng đặng đừng không thể phản ứng sao hơn hay có trách cứ gì không.
Về tới Cheo Reo đã quá trưa, thấy trò thở phào, nhìn đồng hồ không còn nhiều thời gian để mời Huê một vòng cà phê cà pháo, không kịp ăn uống gì, tôi nhào ngay vô phòng họp thay vì nếu sớm, nhắn đám lính cũ, nơi tôi vừa chia tay cách đây vài tháng, gặp nhau nhậu một bữa đỡ nhớ.
Tan họp ra đã hơn 4 giờ chiều, thời gian chỉ vừa đủ cho thầy trò ăn uống vội vàng, độn thêm vài chai bia lấy can đảm cho con đường trở về buổi chiều bất an hơn là buổi sáng.
4 giờ rưỡi chiều, khi men rượu cũng vừa đủ chếnh choáng, chúng tôi quay xe về. Chiếc xe hào phóng cõng thêm một mớ hàng họ gì đó của Huê. Nặng thì không sao, có điều phía sau hơi chật một chút. Trời mùa thu Tây Nguyên mau tối, tôi tính chắc về tới Phú Túc khoảng trước 7 giờ tối, kịp trước 7 giờ các doanh trại dọc đường chưa kéo kẽm gai đóng cổng. Huê và tôi lại xà nẹo ôm nhau, nàng huyên thuyên kể nàng đã làm những gì, nàng có vẻ mệt, lên xe chừng 10 phút tôi đã cảm thấy bàn tay nàng lỏng ra bên hông tôi và đầu nàng thì nghiêng lên vai tôi… muốn ngủ, tuy vậy cũng do xe xóc quá nên giấc ngủ khó cưỡng của Huê cứ phải giựt mình mở mắt bẽn lẽn cười, em xin lỗi.
Bất ngờ khi lên giữa Đèo Tô Na chợt có tiếng gì đó khua lộp cộp dưới lòng xe, vì đang trên đường đèo nên xe chạy chậm, Kim kịp dừng xe trước khi có gì đó phải hỏng hóc hơn. Kim nhảy vội xuống xe, đầu chui sát đất xem xét, rồi báo tôi biết:
– Chết mẹ, xe bị gãy cạc-đăng rồi Thiếu Úy.
Tôi hốt hoảng nhưng cố giữ bình tĩnh:
– Sửa được không?
– Dạ cố gắng, chắc lâu.
Tôi bảo Kim tắt máy xe, ra lệnh cho ba anh lính ngồi sau xuống xe:
– Kim ráng sửa, tất cả tuyệt đối im lặng, khi nào nghe tiếng xe nổ máy lại thì phóng lẹ lên xe. Ba đứa cùng núp vào một bụi rậm bên đường, gác cho Kim, không được hút thuốc, có gì bình tĩnh nổ súng, chỉ là không được bắn vào xe.
Dẫu gì khi đem theo hai lính hộ vệ và một lính truyền tin tôi đã chọn ba chiến binh đã từng lăn lộn từ các chiến trường về.
Sau khi tất cả sẵn sàng, rất nhanh, tôi liên lạc về Trung Đội cũ của tôi ở Cheo Reo báo cho Thiếu Úy Bổn, Trung Đội Trưởng Pháo Binh ở Cheo Reo, bạn tôi, cách chỗ này chưa tới 10 cây số, sẵn sàng ứng trực trăm phần trăm, hướng hai khẩu 105 về tọa độ tôi đứng, có gì tôi chỉ cần điều chỉnh trái phải xa gần, tôi tính nếu cần cứ ập lên đầu tôi. Tôi cũng không quên dặn họ không nên báo lên cấp lên, có gì coi như bắn quấy rối vì xe cộ kiểu này có gì chắc Kim phải đi tù, mà quên, tôi… đi tù trước. Để tránh ồn tôi sẽ tắt máy truyền tin PRC.25 ngay sau khi nói chuyện, và các khẩu đội sẵn sàng hoạt động khi tôi mở máy lại mà không nói gì.
Xong, tội nghiệp, chỉ còn mình Kim hy sinh lăn lộn dưới lòng xe, nhắc lại cho Kim nhớ, xong việc cứ nổ máy xe là tất cả chúng tôi sẽ có mặt tức thời, tôi mang vội chiếc PRC.25 lên vai, xách thêm khẩu M.16 của Kim kéo tay Huê chui lẹ vào một bụi rậm cách xe chừng bốn năm mét, hai bàn tay toát mồ hôi lạnh của Huê run lẩy bẩy ôm chặt lấy tôi, tôi hôn nhẹ lên tóc nàng, thì thầm:
– Tội em quá. Gì rồi cũng qua mà, cùng lắm là chết thì coi như hết sợ sệt, hết lo lắng.
Huê lí nhí, mềm èo trong tay tôi, hồn xác lặng im giao hết cho chàng:
– Dạ, em có anh mà.
Trời bắt đầu sụp tối, không khí căng như chực vỡ cả trái đất ra, con mèo đói không còn bụng dạ nào nhớ tới có một cục mỡ thơm tho đang nằm ngay miệng, Thời gian nặng nề nhích từng bước. Khi tôi còn là đơn vị trưởng ở Cheo Reo, đèo Tô-na nằm trong tầm yểm trợ của chúng tôi, có khi các đơn vị Bộ Binh đụng trận gọi chúng tôi bắn yểm trợ, có khi các đội bạn cũng khiêng về được năm bảy xác Việt cộng mà cũng rất thường khi những đợt bắn quấy rối trong đêm lại làm chết cả ba bốn con bò của chính bà dì họ tôi nuôi thả rông trong núi.
Vẻ như nỗi sợ hãi đã làm Huê tan biến vào trong tôi, tôi không còn thấy có một cảm giác cách biệt nào giữa nhau. Sự im lặng đã cho tôi nghe rõ từng hơi thở, từng nhịp tim và như… nghe rõ cả lòng nàng.
Chưa bao giờ thời gian nặng nề và chậm chạp như bây giờ, tôi không hiểu tôi mong lúc này nên là ban ngày sáng sủa hay ban đêm tối tăm, vì ở đây, tôi nghĩ, lúc nào Việt cộng cũng sẵn sàng có con mắt để thấy mọi động tĩnh quanh chúng. May ra chúng cũng không đủ quân để rải khắp núi rừng và việc một chiếc xe bất ngờ nằm thù lù ngay giữa đường cùng với mấy bia thịt chờ nạp mạng là điều không ai tiên liệu được.
Cũng như Huê, tôi nghĩ là, bốn người lính của tôi đang thầm niệm Phật Chúa cầu xin phù hộ cho qua được tai ách này, xin cho thời khắc khủng khiếp này qua mau, trong lúc mọi người đều không biết Kim có sửa được xe hay không, nếu thất bại, chúng tôi phải làm gì đêm nay… Cái đầu hăm bốn tuổi nhỏ xíu bắt buộc phải lớn nhanh để đủ đảm đượng nhiệm vụ một “tư lệnh” giữa cái chiến trường khắc nghiệt này, phải lớn, phải tỉnh táo, phải xứng đáng với những người đồng cảnh, có người lớn tuổi hơn mình, đang gửi hết tin cậy vào cấp chỉ huy của họ.
Đúng là thời gian không thể đứng yên một chỗ và mọi việc trên đời cũng phải biến đổi theo từng giây, để, rồi gì cũng phải qua, dù qua một cách tốt hay xấu, giữa lúc tuyệt vọng hồi hộp, tiếng máy xe rộn ràng reo lên, và y như thánh lệnh, trên xe đã chễm chệ đầy đủ mọi người, phóng tới, nhẹ tênh bởi những tiếng thở phào cùng lúc như ăn mừng… vừa thoát khỏi một đại họa.
Tôi mở máy truyền tin báo về cho Bổn biết, cám ơn anh em, và dặn tiếp tục theo dõi cho đến hết tầm yểm trợ. Tôi gọi các đơn vị Địa Phương Quân dọc đường cho lính giúp mở mìn gài trên đường hằng đêm, cũng như mở cổng cho xe qua. Một đoạn đường gần năm mươi cây số âm u như bóng đêm và bí hiểm… như Việt cộng phía trước đang sẵn sàng những bất ngờ chờ chúng tôi. Mọi người vẫn nín thở lo lắng dù cũng mừng cho chiếc xe tiếp tục ngon trớn, nhưng ai biết như vậy là đã chắc chắn chưa. Kim kể lại chuyện làm:
– Xui là trời tối quá, phải mò mẫm từng chút, may trên xe sẵn có sợi dây dù bữa trước buộc hàng Quân Tiếp Vụ còn bỏ đó làm biếng dọn.
Định khen Kim một câu, Huê giành lời tôi:
– Kim giỏi quá, cám ơn Kim.
Tôi đùa:
– Giống chị Hai quá hén.
Huê không tỏ vẻ từ chối hay bất mãn vì câu nói đùa, tôi có cảm giác vòng ôm bên hông tôi như không phải sợ tôi văng ra khỏi xe, mà thắm thiết, hứa hẹn hơn. Trả lời Huê, tôi hiểu, bằng mấy ngón tay bấu nhẹ vô eo nàng, từng nhịp tim Huê đập, từng tiếng Huê thở ngọt ngào và tiếng cười khúc khích trong lòng nàng như dìu dịu luồn sâu vào từng mạch máu đang căng thẳng của tôi, dù bóng tối phủ hết khuôn mặt xinh đẹp có đôi mắt mơ màng long lanh đang hình như rất đằm thắm chớp nhẹ, giữa bóng đêm ngột ngạt, tôi vẫn thấy một giấc mơ hoa bướm rộn ràng theo tiếng bốn bánh xe hối hả nghiến trên mặt đường đất.
Tôi bảo Kim cố gắng tăng tốc cao nhất có thể, chắc mọi người trên xe đều cũng nghĩ như tôi, chiếc trục cạc-đăng đã được buộc lại nhưng ai cấm nó khi xe chạy bị rung lắc dữ dội nó sẽ không bị sổ ra lại, và nỗi lo gần năm mươi cây số phía trước đã chắc gì sẽ vô sự, qua được “kiếp nạn” ở đèo Tô-na, dọc đường về còn biết bao nhiêu ma quỷ yêu tinh đang giăng bẫy chờ đón thầy trò Đường Tam Tạng! Một loạt AK bất chợt, một trái B40 từ bìa rừng, một trái mìn gài sẵn trên mặt đường có cơ hội gầm lên tiếp đón món hàng đắt giá hiếm hoi ngàn năm một thuở.
Trên đèo Tô-na có thể Việt cộng chủ quan không nghĩ bỗng dưng mồi ngon ở đâu đem dâng tới tận miệng, nhưng chỉ là lỡ lúc đó, rồi tiếng máy xe ầm ĩ dội vang cộng với ánh đèn phải mở pha để có thể kịp đối phó với mọi bất trắc có thể, thì làm sao Việt cộng không thể báo cho các đơn vị phía trước của chúng kịp chuẩn bị?
Dù sao vẫn phải chấp nhận, nhiệm vụ của lính là sẵn sàng “da ngựa bọc thây” mà, có biết chết vẫn phải lao tới chỗ chết.
Chúng tôi đã không còn được nằm trong tầm yểm trợ Pháo Binh của Cheo Reo từ khi rời đèo Tô-na chừng hai cây số, cho tới lúc này coi như đã nửa đường, các sĩ quan Địa Phương Quân dọc đường vẫn liên tục liên lạc với tôi báo tôi biết tình hình an ninh trong phạm vi trách nhiệm của họ. Họ đều là bạn tôi nên rất nhiệt tình, có điều cũng phán một câu lạnh xương sống:
– Tao cho gỡ hết mìn, concertina trên đường, tao còn cho lính an ninh tối đa cho mày, còn ngoài vùng trách nhiệm thì… hên xui.
Tôi cố vận dụng sức mạnh dồn lên ánh mắt thắm thiết nhất của mình âu yếm nhìn sâu vào mắt Huê:
– Sợ không? Tối qua ngủ có ác mộng không?
Vừa quậy cà phê, Huê vừa cười ấp úng:
– Dạ sợ quá, nhưng ác mộng thì không, chỉ có… chỉ có…
– Có anh không?
Nàng đánh trống lảng:
– Bắt đền, anh bắt em… ôm anh. Nhỏ giờ mới… loạn như vậy đó. Anh uống cà phê nóng hay đá? Đá thì em đi mua, chiều qua mua cà phê, nhờ mấy chị chỉ cho em cách pha, tối qua tập pha thử, hư hết mấy phin, chảy re re, bỏ thì tiếc, em uống thử… báo hại thức cả đêm!
– Xạo, thức thì làm sao… thấy anh được?
Huê đỏ mặt:
– Mệt anh ghê, em có nói thấy anh đâu. Lát ăn cơm với em, cúng xong em chờ anh đó. Bà nội đem rau nhà ra chợ bán chắc trưa mới về…
Tôi bước tới đứng sau lưng Huê, hôn nhẹ lên tóc nàng, thấy Huê không phản ứng, tôi vòng tay ôm eo nàng:
– Tối qua về tay phải khiếu nại nói anh bất công với nó!
– Anh tiếu lâm quá. Sợ anh té, tay em mỏi muốn chết.
– Anh đền nè…
Tôi nâng mặt Huê hôn lên môi nàng, đôi môi hé mở đón nhận với đôi mắt nhắm khẽ, mà tay thì đẩy nhẹ tôi ra:
– Bà nội đi chợ về…!
Tôi vẫn ôm cứng lấy Huê, đỡ nàng ngồi xuống chiếc băng ngắn, đặt vội nụ hôn tham lam lên đôi môi còn ươn ướt:
– Huê
– Dạ.
– Thương em quá.
Vòng tay Huê siết chặt tôi, thầm thì:
– Em… không tin, mấy ông lính tráng…
Tôi dỗ dành:
– Tin đi.
Để trả lời, Huê dụi đầu vào ngực tôi;
– Dạ…
Tôi rủ Huê:
– Anh muốn đưa em lên đồn…
– Bậy anh, ở đây người Kinh ít, chở em ngang chợ người ta thấy coi như… trời sập. Anh mời ba má anh lên thăm bà nội đi.
Tôi lại hôn Huê, và hứa.
2.
Cuộc họp mà tôi về Tiểu Khu dự là vì nguồn tin tình báo cho biết Việt cộng đang tập trung khu vực Đông Bắc quận Phú Túc, có nguy cơ chúng sẽ đánh thẳng vào Chi Khu.
Cuộc họp mà tôi về Tiểu Khu dự là vì nguồn tin tình báo cho biết Việt cộng đang tập trung khu vực Đông Bắc quận Phú Túc, có nguy cơ chúng sẽ đánh thẳng vào Chi Khu.
Tỉnh Phú Bổn có thể nói là Tiểu Khu bình yên nhất trong các tỉnh vùng 2, người ta nói đây là nơi Việt cộng dùng làm nơi nhận hàng tiếp tế thuốc men, lương thực từ duyên hải lên, vì nơi này giáp ranh hai quận Đồng Xuân và Sơn Hòa của tỉnh Phú Yên, lại là vùng núi non thâm u với sự bình yên giả tạo cố hữu mà quốc gia ít để ý, giống như mày để yên tao thì tao để yên mày!
Nhưng nay thì cây muốn lặng mà gió không muốn ngừng rồi, đúng như dự đoán của Tiểu Khu, Việt cộng đã ra tay trước khi lực lượng quốc gia điều quân bằng những đợt pháo kích về phía Chi Khu, tất nhiên Pháo Binh chúng tôi kịp thời phản pháo cũng như các đơn vị phòng thủ của Chi Khu tổ chức canh phòng nghiêm ngặt hơn. Có gì đó đã làm cuộc tấn công đáng lẽ đồng hành với chiến thuật “tiền pháo” của Việt cộng bị khựng lại, nghĩa là điều mọi người tiên liệu đã không thấy xảy ra, chỉ thấy những trái 57 ly tiếp tục rớt lang thang chung quanh Chi Khu, có vẻ như chúng đang điều chỉnh lấy tọa độ, làm một vài trái rớt trúng nhà dân chết mấy người. Hai khẩu 105 của chúng tôi không để cho chúng lộng hành, cứ thấy vệt khói ban ngày hay ánh sáng ban đêm đề-pa của chúng bốc lên nơi nào là chúng tôi phản pháo dập nơi đó không cần đề-lô.
Và cuộc hành quân của Tiểu Khu cũng không để chúng phải chờ đợi lâu thêm nữa, mấy Tiểu Đoàn Địa Phương Quân được trực thăng thả xuống trận địa, hai nòng 105 ly chúng tôi ngày đêm khẩn trương không kịp nguội yểm trợ chiến trường. Chó cậy nhà, vốn là mật khu nhiều năm, Việt cộng cậy có công sự kiên cố, lại quen từng ngõ ngách đi lại, quân Cộng Hòa vận dụng hết sức chiến đấu hơn một tuần mới kiểm soát được mục tiêu đến khi chiến trường thật sự im ắng, quân ta không còn nghe tiếng súng nào phía địch.
Trái với mong đợi, mục tiêu mà quân quốc gia tiến chiếm được lại im lặng đến… trống trơn, chỉ có chơ vơ mấy mái tranh, mái lá nằm rải rác ẩn núp trong những bụi rậm, ngoài những con heo con gà lớp chết lớp bị thương trong chuồng, quân ta không thấy xác Việt cộng hay vũ khí nào của chúng. Trong lúc đang tiếp tục tảo thanh thì bất ngờ hàng chục quả đạn cối của cộng quân hùng hổ rớt xuống đầu. May là cấp chỉ huy chiến trường đã tiên liệu được chiến thuật lùa gà vô chuồng của Việt cộng nên dù đang khí thế hăng say cũng không ngủ quên trên chiến thắng, đã cẩn thận bố trí từng toán nhỏ lục soát tìm kiếm dấu vết tàn quân, nên chiến thuật của địch đã không gây tổn thất đáng kể cho quân ta.
Những khẩu súng cối Việt cộng đã được chúng di chuyển xa hơn về phía Đông mục tiêu và không còn nằm trong vòng ảnh hưởng của Pháo Binh chúng tôi, nên tức tốc chúng tôi được lệnh trực thăng vận câu một khẩu 105 sâu vô núi, súng được đặt gần bộ chỉ huy hành quân với sự bảo vệ nghiêm ngặt để tiếp tục yểm trợ quân bạn đang được một Tiểu Đoàn Biệt Động Quân từ Quân Khu bay xuống tăng viện phối hợp truy kích cộng quân. Trận chiến ngỡ đơn giản lúc đầu lại hóa ra càng về sau càng dữ dội, không biết lực lượng địch cỡ nào mà phải đến gần một tuần lễ quân bạn siết dần vòng vây với cả ngàn trái đạn 105 ly lao vút vô mục tiêu mới thật sự làm im được tiếng súng từ hang ổ của quân địch.
Thời điểm này chiến trường Kontum đang bị tràn ngập biển người từ bên kia biên giới Lào tràn sang cùng với những trận mưa pháo của Việt cộng, Tiểu Đoàn Biệt Động Quân không kịp nghỉ xả hơi đã phải nhận lệnh tiếp ứng Kontum, để lại Địa Phương Quân tiếp tục lục soát, khẩu đội 105 chúng tôi chưa kịp hiểu kết quả ra sao cũng phải nhanh chóng trả về Chi Khu phòng khi chúng điệu hổ ly sơn… Qua vô tuyến, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh của tôi mừng vui báo chúng tôi biết là Pháo Binh được Tiểu Khu Trưởng khen lắm, thượng cấp bảo là Pháo Binh đã góp phần không nhỏ vào chiến thắng này, có thể sẽ có phái đoàn xuống Chi Khu gắn huy chương và qua thăm Trung Đội.
Bất ngờ, một công điện từ Ban Chỉ Huy Pháo Binh báo tất cả chúng tôi, từ sĩ quan tới binh sĩ có tham gia trận đánh đều lãnh… tám ngày trọng cấm, lệnh từ Tướng Ngô Du, Tư Lệnh vùng 2, vì cuộc hành quân đã không có kết quả như kỳ vọng, nghe nói, lại một lần nữa, quân ta lục soát mục tiêu không tìm thấy chiến lợi phẩm cũng như xác chết của địch quân!
Chúng tôi đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, ôm tám ngày trọng cấm nặng trịch lần đầu tiên trong đời lính, xuống thăm Huê đỡ buồn thì không gặp nàng, bà nội Huê kể Huê phải đi Cheo Reo chăm em Huê bệnh đã hơn nửa tháng.
Một công điện bất ngờ khác từ quân đoàn hủy lệnh phạt tám ngày trọng cấm cho tất cả quân nhân đã nhận phạt trước đó và tuyên dương các đơn vị tham gia trận đánh, mỗi quân nhân tham chiến được một anh dũng bội tinh ngôi sao đồng, điều khó tin là thượng cấp, không biết Quân Đoàn hay Tiểu Khu, đã không đá động gì tới Pháo Binh chúng tôi. Hỏi Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh của tôi, ông cũng chịu thua, nhà binh vậy, thi hành trước khiếu nại sau. Khổ nỗi, thường thì chỉ có thi hành không bao giờ có khiếu nại. Một buổi lễ long trọng được tổ chức mừng chiến thắng ngay tại sân Chi Khu Phú Túc, với rất đông quan khách Tướng Tá từ Quân Khu 2 và Tiểu Khu Phú Bổn về tham dự sau gần hai tuần xảy ra một cuộc giao tranh lớn nhất từ trước đến giờ trong địa bàn Chi Khu, nhờ tình cờ Nghĩa Quân và Địa Phương Quân phát hiện nhiều xác Việt cộng bị vùi tập thể chỗ năm chỗ ba trước khi chúng chém vè dưới những hố hầm lấp vội.
Trực thăng Chinook chở xác địch quân và một số vũ khí gom được về nhà xác bệnh xá Chi Khu, phóng viên các báo cũng vội vã bay tới chụp hình đưa tin, nghe tin, đồng bào xa gần quanh Chi Khu cũng nhanh chóng kéo tới xem, một phần vì tò mò mà cũng có phần coi thử trong đó con em nhà mình lâu nay theo lên núi có nằm trong số không may đó không.
Thật không tin được là Huê lại nằm trong số không may đó. Phải căng thẳng mệt mỏi chiến đấu lại phải cắm trại trăm phần trăm nên nhiều lúc nhớ Huê, thời gian qua tôi đã không thể xuống thăm nàng được. Vậy Huê đã đi từ lúc nào?
Cũng có thể Huê đã chết bởi một hay nhiều trái đạn của tôi. Dẫu sao tôi không khỏi ngậm ngùi nhớ tới một lời hứa bâng quơ dù bây giờ biết nàng là Việt cộng.
Bà nội Huê nhận xác cha con Huê về chôn. Biết là Cảnh Sát và An Ninh đang thu thập tình hình tin tức nhất là những ai có liên can với các cán binh Việt cộng bị chết trong trận đánh này nhưng tôi vẫn đến nhà Huê thắp nhang chia buồn với gia đình. Một đám tang không mấy ấm áp đã vội vã diễn ra cho… khuất mắt, hai thẻ tấm căn cước hai cha con trở thành hai ảnh thờ thu mình ngồi vô tư sau làn khói nhang mờ ảo hình như có điều gì muốn nói với tôi. Bỗng dưng tôi liên tưởng tới những vệt khói hắt hiu trên bàn thờ với những vạt khói giữa mênh mông rừng núi đã được khạc ra từ mấy họng súng cối buộc chúng tôi phải nã dồn dập cả ngàn quả đạn pháo trong vô thức, không biết mình đang giết người, cảm giác như đang chơi bóng chuyền đập qua đập lại, thắng một trái mừng vui một trái hay trò chơi đánh giặc giả mà người chết bên kia sẽ lại đứng dậy nói cười. Ý nghĩ này chắc sẽ bám theo tôi mỗi khi một trái 105 ly phọt ra khỏi nòng.
Tôi chưa gặp bà nội Huê lần nào, nhưng vẻ như bà cũng biết tôi, dẫu có chút dè dặt nhưng bà cũng tỏ ra thân thiện và không có ý sợ sệt như phải đối diện với những truy vấn của các nhân viên an ninh. Nghe tôi hỏi về Huê, không còn gì để mất, bà tỏ ra thản nhiên bình tĩnh trước biến cố lớn của gia đình, bà vừa khóc vừa kể:
– Người ta bắt nó phải lên thăm ba nó bịnh nặng…
Tôi hỏi trước đây có thường như vậy không, bà có vẻ lúng túng:
– …Không đi thì họ xử ba nó. Họ nói lúc này trên đó sốt rét ác tính nhiều quá, họ tin tưởng thuốc men và kinh nghiệm của “bác sĩ Huê” có thể giúp được nhiều người. Cũng may đem được xác về, chớ không… thì mục rã giữa mịt mù rừng núi biết đâu tìm.
Bà lại khóc nức nở, tay vịn cạnh bàn, tay vuốt ngực nhưng vẫn quay lại tiếp tục cái ý bà muốn nói:
– Có điều cúng giỗ ngày nào thì không làm sao biết.
Tôi im lặng nghe bà nói, hình như tôi chỉ hỏi thay cho lời chia buồn, còn Huê đi thăm ba nàng bịnh, hay là y tá cứu thương cho chiến trường, là chiến binh Việt cộng của mặt trận thì cũng đã không còn ý nghĩa gì.
Đặng Kim Côn
Phú Túc, Phú Bổn, mùa hè 1972
Phú Túc, Phú Bổn, mùa hè 1972





























