
Về thể loại hồi ký, bút ký thì trước 1975, ở miền Nam ít có hồi ký. Sau 1975, hồi ký và bút ký là thể loại chiếm một phần quan trọng và được xuất bản cũng như tiêu thụ nhiều từ 1980 đến khoảng năm 2000, sau đó thì thưa thớt hơn. Ở đây xin nhắc đến vài cuốn hồi ký đã xuất hiện qua các giai đoạn khác nhau của văn học hải ngoại và chúng tôi nó iđến những tác phẩm có tính văn chương. Các hồi ký này có tính cá nhân nhưng thường chung mẫu số với nhiều người trong cùng hoàn cảnh, do đó mang thêm tính tập thể, cộng đồng! Đây là nhân chứng của tấn bi kịch chung trong đó có cuốn có giá trị văn học đặc biệt - ký ức đã để lại nhiều tác phẩm văn chương cho văn học hải ngoại. Người cũ việc xưa đấy có thể là người thật chuyện thật, cũng có thể chỉ là một phần “thật” nhỏ nhoi, nhưng đã được các nhà văn nhà thơ văn chương hoá, thi vị hoá và nhiều tác phẩm đã được đông đảo độc giả cùng hoàn cảnh đón nhận, với những Võ Phiến, Lê Tất Điều, Trần Vũ, Hồ Minh Dũng, Phùng Nguyễn, Ngự Thuyết, v.v.
Trong phần này, chúng tôi ghi nhận các tác phẩm hồi ký về quá khứ chung và biến cố 30-4-1975:
Nguyễn Khắc Ngữ lập nhà xuất bản Nghiên Cứu Sử Địa ở Montréal (Canada) lúc đầu đánh dấu tay và in đóng theo lối thủ công, và đã có công ghi lại Những Ngày Cuối Cùng Của Việt Nam Cộng Hòa (1979), trong đó ông đã tỏ phẫn nộ của con người trí thức dù khách quan của sử gia vẫn là chính.
Nguyễn Tường Bách ngay sau 1975 đã có hồi ký Việt Nam Những Ngày Lịch Sử (Montréal: Tủ sách Nghiên Cứu Sử Địa, 1981) lúc ông còn di trú ở Trung Quốc, và sau này khi sang Mỹ định cư có thêm hồi ký Việt-Nam Một Thế Kỷ Qua (2 tập, tập 1- 1916-1946; CA: Thạch Ngữ, 1998-2001) và tập tiểu thuyết Trên Sông Hồng Cuồn Cuộn (Tân Văn, 1995) tất cả viết về giai đoạn Tự Lực Văn Đoàn và những con người cách mạng dân tộc sau đó. Năm 2019 có Tự Lực Văn Đoàn và các Cây bút Hậu Duệ, đến năm 2023 thêm tập 2 tuyển tập Tự Lực Văn Đoàn Hậu Duệ và Thân Hữu đều do Nhân Văn Nghệ Thuật phát hành.
Cũng cần ghi nhận hồi ký Le Temps des chien muets (Paris: Flammarion, 1977) của Đức Giám Mục PaulSeitz địa phận Kontum đã bị CS cưỡng bách buộc rời địa phận và VN; Ngài đã ghi lại diễn biến từng ngày những ngày cuối cùng của vùng Cao nguyên–từ ngày 7-3-1975, và nhận xét của một nhà truyền giáo đã xem VN như là đất nước của ông và sẵn sàng sống chết cùng.
Cao Xuân Huy với Tháng Ba Gãy Súng (Văn Khoa,1986) chuyện mất nước với kinh qua của chính tác giả khi Huế rơi vào tay cộng sản Hà Nội vào tháng3-1975. Anh Trung Úy Thủy Quân Lục Chiến không có ý làm người hùng, đi lính vì phải đi, như mọi người; đi lính vì tuổi trẻ và chống cộng vì mọi người chống cộng. Nhưng đánh giặc tận tình và sống vì danh dự, hết mình với đồng đội.
Lm. Vũ Đình Trác xuất bản hồi ký Rồng Xanh Ngục Đỏ, “hồi ký của Người tị nạn Cộng sản VN thứ một triệu lẻ một “(Fullerton CA: Hội Hữu, 1986. 379 tr.) trong đó Linh Mục đã kể nhiều chi tiết về nhiều trí thức, giáo sư và văn nghệ sĩ của miền Nam nhất là sau 1975 nơi ông sinh sống cho đến khi vượt biên tháng 5 năm 1980. Hồi ký bắt đầu vào tháng 8-1975với việc công an và cán bộ nhân danh Ủy ban Quân quản để “tiếp thu” cơ sở của Tu hội Chân Phước tại Bình Triệu với cớ viện ra rằng cơ sở do người Hoa kiều lập ra. Mất tu hội, ông “trở về địa chỉ gia đình” - Xóm Nhỏ, rồi mất người mẹ, rồi mở Y viện Thiên nhiên dùng thuốc Nam trị bệnh giúp những người cần đến. Đến khi bị “mời” đi học tập cho giáo chức đại học, ông xin bỏ nghề và tập trung làm nghề tay trái Châm cứu và dược thảo trị bệnh. Cán bộ Quận và Thành thấy đông khách đến xin trị bệnh mà Nhà nước CS không có lợi gì, bèn ra lệnh đóng cửa phòng mạch trong khi ông đi vắng. Các Đức Cha các địa phận mời ông giảng đông y cho các chủng viện và các Cha, ở Cần Thơ, Long Xuyên, Đà Lạt, Vũng Tàu,… nhưng các “đặc ân” cũng bị rút, ông đành “chôn chân” tại bệnh viện Điện Biên Phủ Xanh-Bôn – tên CS mới của Saint-Paul. Nổi tiếng chữa bệnh ở đây –“càng đi sâu vào dân chúng bao nhiêu, càng tê tái điên loạn cho cõi lòng cộng sản bấy nhiêu”, ông lại bị chế độ với loại “dược sĩ hữu nghị” và bác sĩ được vội vàng phong chức dùng “chính sách khai thác và ăn cướp tài năng” khai thác xong thì cho ra rìa, rồi tìm xin ông trở lại nhưng ông từ chối. Ông qua làm việc cho ban Ngữ điển trong nhóm Hán Nôm của Viện Khoa học xã hội. Bị theo dõi và đe dọa, tháng 5 năm 1980, ông vượt biên từ Rạch Giá xin tị nạn tại Thái Lan và sau đó định cư tại Hoa Kỳ.
Lời Kinh Tị Nạn kết thúc tập hồi ký:
“Đất mẹ xa xăm biết mấy ngàn!!!
Để hồn vất vưởng tận trùng quan,
Ngày ngày hướng vọng trời Nam ấy,
Ca lại bài ca “Dặm Tử phần”.
Đất Mẹ từng dư nét dịu hiền,
Thắm màu hoa gấm của Rồng Tiên.
Nay đà nhuộm đỏ màu tang tóc
Để Mẹ ngày đêm nuốt tủi phiền.
Đất Mẹ cầu mong ngọn gió lành
Thổi về tô lại nét đan thanh:
Giang sơn cẩm tú thêm tươi nở,
Lời Mẹ ru con khục Thái Bình.
Đất Mẹ yêu đương biết mấy tình!
Đêm nay con nguyện một lời kinh:
Mai ngày đưa lối con trở lại
Đất Mẹ ngàn năm vẫn Đất Lành…”
– 13-5-1982 (tr. 379)
Duyên Anh ngay sau khi vượt biên thành công đã viết hai cuốn hồi ký Nhìn Lại Những Bến Bờ và Sài Gòn Ngày Dài Nhất (cả 2 đều do NXB Xuân Thu,1988) cuốn trước về cuộc đời tác giả và cuốn sau về cái chết của thủ đô miền Nam khi bị Cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm.
Nguyên Sa có tập Hồi Ký (Đời, 1998) xuất bản ngay sau khi ông mất, viết về đời sống và sinh hoạt văn hóa của ông trong khung cảnh xã hội, chính trị ở miền Nam, từ khi du học, lập gia đình, về nước cho đến biến cố 30-4-1975, giúp soi sáng và hiểu biết về một số nhân vật, biến cố cũng như hoàn cảnh sáng tác và xuất bản các tác phẩm của ông. Trước đó, ông đã cùng Lê Bá Chư cũng đã tập hợp các chứng giám của một số người trong cuộc (chiến tranh Việt Nam) trong tuyển tập Lịch Sử Ngàn Người Viết (Đời, 1995)- tiếc là chỉ xuất bản tập 1 rồi thôi.
Nhã Ca sau nhiều năm tháng bị bắt sau biến cố 30-4-1975, đã được Văn Bút Thụy Điển bảo lãnh sang nước này tháng 9-1988, rồi sang Hoa Kỳ, cùng chồng Trần Dạ Từ chủ trương tuần báo Việt Báo Kinh Tế (sau thành nhật báo Việt Báo và từ tháng 12-2019 trở lại thành tuần báo) rồi thêm Việt Báo USA (San Jose, cùng Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh). Bà xuất bản ở hải ngoại: Hoa Phượng Đừng Đỏ Nữa (1989) là tác phẩm đầu sau khi ra khỏi nước. Sau đó là tập truyện Sài Gòn Cười Một Mình (Thương Yêu, 1990) và Chớp Mắt Một Thời (1992) là những hoài niệm về một miền Nam trước biến cố mất miền Nam và chân dung xã hội Cộng sản với nhiều ấm ức khôn nguôi và cảnh đời ngang trái. Hồi Ký Một Người Mất Ngày Tháng (1990) của bà là những trang văn chương về một quãng đời kinh hoàng đầy bất hạnh. Nạn nhân là mọi người nhưng được thu gọn lại trong thế giới gia đình và bạn bè thân hữu văn chương. Những cái chết bi thảm, những cuộc sống vô định và những tình người chân thành, cả khi ở đáy ngục tối hoặc không còn gì! Nguyên Sa giới thiệu:
“… Giới thiệu Nhã Ca với độc giả là làm công việc đẩy ra một cánh cửa đã mở lớn. Giới thiệu Hồi Ký Nhã Ca là đẩy cánh cửa đã mở lớn hơn nữa (…). Thế giới Hồi Ký Nhã Ca, cánh cửa mở vào thế giới Việt Nam Khổ Đau, những anh em đã sống trong đó và còn sống trong đó, biết rõ một ngàn lần hơn tôi…” (Tựa).
Nhà văn, nhà báo, phóng viên chiến trường Phạm Huấn cũng đã viết một số tác phẩm về chiến tranh Việt Nam: Cuộc Triệt Thoái (Khỏi) Cao Nguyên 1975 (TGXB, 1987), Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975 (TGXB 1988), Điện Biên Phủ 1954, Ban Mê Thuột 1975: Tướng Phạm Văn Phú và những trận đánh (PC Art, 1988), Trận Hạ Lào, 1971 (SanJose, CA: Minh Ha & Huan Pham, c1990). Với vai trò sĩ quan trực tiếp làm việc cho các tướng lãnh và sĩ quan tư lệnh, ông ghi lại tài năng cũng như sở đoản và cả vô trách nhiệm của những người chỉ huy quân sự và đất nước trong việc mất miền Nam năm 1975, đồng thời ông vinh danh những người lính anh hùng, dũng cảm, những người lính mang cấp bực thấp nhất cũng như các vị sĩ quan can trường như Đại Tá Bùi Quyền,...
Lê Xuân Khoa viết Việt Nam (1945-1995): chiến tranh, tị nạn, và bài học lịch sử. Tập 1. Bethesda MD: Tiên Rồng, 2004; khi tái bản lần thứ ba - do Người Việt Books 2006, đổi tựa là Việt Nam 1945-1990, Bốn cuộc chiến tranh và Bài học lịch sử). Tác giả viết vì muốn đáp ứng nhu cầu phải học bài học lịch sử và đi tìm sự thực về những biến cố đã xảy ra trên đất nước từ năm 1945 (và ông mong muốn viết tiếp phần về lịch sử tị nạn và cộng đồng từ 1975 đến 2015).
Huỳnh Văn Lang sinh năm 1922 tại Trà Vinh và mất tại California ngày 12-3-2023. Ông là viên chức cao cấp thời Đệ Nhất Cộng Hoà (1954-1963) và đã chủ trương tạp chí Bách Khoa năm 1957. Thời hải ngoại và khi đã về hưu, ông Huỳnh Văn Lang đã xuất bản một số hồi ký, chuyên đề như Cờ Bạc, Đá Cá Chọi Gà Đánh Phé Chơi Dà-dách (TGXB, 1998), Chuyện Đường Rừng, Một Chương Hồi Ký (1999), hoặc hồi ký chính trị như Nhân Chứng một Chế Độ (1999-2000) gồm 3 tập khoảng 1500 trang ghi lại một số bí ẩn lịch sử trong thời Cộng Hoà, và bộ hồi ký Ký Ức Huỳnh Văn Lang (2011-2012) gồm 3 tập về “82 năm của một đời người” qua các Thời kỳ thuộc Pháp, Thời kỳ Việt Nam độc lập, và Thời kỳ lưu vong (tập 3 chưa xuất bản), qua các hoạt động và công trình đã làm được hoặc để lại. Bên cạnh đó ông viết biên khảo lịch sử với Công Chúa Sứ Giả (2004) về những Công chúa thời lịch triều như Công chúa Huyền Trân, Công chúa Ngọc Vạn,... được gả đi cho các nước lân bang vì mục đích chính trị, Việt Sử Khai Tâm (2004) vì “có những sự kiện lịch sử cần phải xem lại” với “tham vọng đọc lại và kể lại cho con cháu thế nào mà chúng vừa lĩnh hội được vừa chấp nhận được. Vì có như thế mới mong chúng tiếp tục truyền đạt dài dài cho nhiều thế hệ mai sau nữa. Cái tham vọng đó bắt buộc người viết phải chọn một hình thức trình bày sao cho thích nghi, tức là hình thức kể chuyện, không hư cấu mà cũng không giáo khoa, nguyên tắc chỉ đạo là hợp tình và nhứt là hợp lý” (tr. 22). Cuối cùng là Đã Hơn 30 Năm Rồi! (2006) là du ký và những điều suy nghĩ và mắt thấy tai nghe về đất nước, quê hương và tổ tiên của gia đình.
Hà Thúc Ký có “hồi ký chính trị” Sống Với Dân Tộc (Phương Nghi, 2009) về cuộc đời làm chính trị từ trong ra ngoài nước.
Giáo sư Vũ Quốc Thúc có hồi ký Thời Đại Của Tôi (Người Việt, 2010) gồm 2 tập: 1- Nhìn lại 100 nămlịch-sử và 2- Đời tôi trải qua thời biến.
Võ Long Triều viết loạt hồi ký đăng nhật báo Người Việt (California) sau xuất bản thành 2 tập Hồi Ký (Người Việt Books, tập 1: 2009, 470 tr.; tập 2: 2011). Hồi ký của ông lúc đăng báo đã có những phản ứng của người trong cuộc, ở trong và ngoài nước. Ông đã cố gắng làm vai trò nhân chứng trung thực, không kiêng dè – dĩ nhiên với mục đích nói lên sự thật được chừng nào hay chừng đó và ở trong tư cách người Việt lưu vong từng có một số trách nhiệm chính trị thời chiến tranh!
Võ Đại Tôn (1935, Quảng Nam – 23-5-2025, Bankstown, Úc) có hồi ký Tuổi Thơ và Chiến Tranh 1945-1950 (Úc: TGXB, 2010) và trước đó, Tắm Máu Đen: bút ký 1981-1991, “đường về quê hương và 10 năm chiến đấu âm thầm, cô đơn trong ngục tù Cộng sản Hà Nội” (TGXB, Úc, 1992, tb 2000).
Ông viết “Tâm Tình Gửi Lại Tuổi Trẻ Việt Nam” trong phần mở đầu Tuổi Thơ và Chiến Tranh 1945-1950: “Cuốn hồi ký này được viết trong bối cảnh hoàng hôncủa một đời người đã trải qua, chung sống suốt chiều dài của bao cuộc chiến xảy ra trên quê hương, tạm gác qua bên sự phân tách nguyên nhân chính kiến, chỉ hồi tưởng lại cảnh trầm luân của một Tuổi Thơ Việt Nam bị đắm chìm trong khói lửa đạn bom. Những người mang ý thức hệ ngoại lai du nhập với chủ thuyết Cộng sản lợi dụng chính nghĩa Dân Tộc với lòng dân vùng lên chống thực dân để cướp chính quyền và tiếp tục tạo nên nội chiến làm cho cả một dân tộc phải triền miên lầm than bất hạnh, từ đó một trong hàng triệu Tuổi Thơ Việt Nam-mà tác giả- không có nổi một chén cơm lành mỗi ngày và không thấy được cảnh Bà Tiên hiện về trong giấc mơ thơ dại”.
Lê Xuân Nhuận có hồi ký Về Vùng Chiến Tuyến (Văn Nghệ, 1996) mà theo ông “đặc điểm của hồi ký này là mặt trái của tình hình nước ta trước ngày Quốc Nạn 30-4-1975… Đó là những “bí mật lịch sử”, từ nhỏ đến lớn, tự chúng giải đáp những vấn nạn của thời cuộc…”. [Có những “bí mật” bị ngờ bất khả tín, ngay cả đồng ngũ cũng phải … “dè đặt”, như nhà thơ Trung Tá Diên Nghị viết trên Việt Báo ngày 11-12/2/2000]
Nguyễn Đình Thư - hiệu Khôi Nguyên, có Một Thời Tranh Đấu (Houston TX: Nguồn Ý, 1999): “hồi ký lịch sử 1942-1954, Phát Diệm, quê hương tôi, một địa linh, nhân kiệt và kỳ quan”.
Đặng Văn Phương (1926 – 20-4-2018 Ohio), cựu Dân Biểu VNCH 1967-1971 kể hành trạng đời mình từ khi di cư vào Nam năm 1954, trong Ghềnh Thác Đời Tôi, hồi ức (Tủ sách Ngô Đình Diệm, 2022).
Năm 2025, thêm sưu khảo Cuộc Chiến Việt Nam 50 Ngày Cuối Cùng (TGXB, 590 tr.) của Nguyễn Tường Tâm tập hợp hồi ký của 104 tác giá / nhân chứng trong 28 chương sách. Soạn giả cho biết: “Hai điều mới lạ của cuốn sách: 1- Đây là cuốn sử liệu hồi ký chiến tranh mà những tình huống bi tráng đầy kịch tính luôn trải dài trên mỗi trang sách. 2- Đây là cuốn sử liệu lần đầu tiên giới thiệu phương pháp mới nghiên cứu lịch sử được tôi đặt tên là “Nguyên tắc nghiên cứu ngược” (Reverse Exploying Principle). Phương pháp này cũng hữu ích mỗi khi độc giả đánh giá các dữ kiện trong một cuốn hồi ký hay nghiên cứu về chiến tranh- chính trị.” (tr. III)”.
[Văn Học Việt-Nam 50 Năm Hải Ngoại. Q. Thượng, 2025, tr. 341-345
Nguyễn Vy Khanh
