Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
duacau 25
 
Trên không trung bỗng nổi lên khúc nhạc hùng ghê rợn khiến đại diện các cộng đồng Thảo Mộc Thế Giới rùng mình.

Bên hàng dừa cao dòng sông mờ soi bóng
Nhớ những chiến binh trầm thây trên máu hồng
Cây tàn, nhà hoang, đường xưa ngập xương máu
Muôn thây bấp bênh giữa dòng trôi đến đâu
*
Hôm nay ai nghe gió rú gọi hồn về
Ôi! Bao anh linh khuất bóng còn lời thề
Vươn lên mây cao khí uất tràn tràn đầy
Nghe dân quân Nam vẫn thét rền nơi đây

Ɖại diện Chà Là hỏi đại diện Măng Cụt ngồi kế anh ta: “Chuyện gì vậy?” 

“Hôm nay đến phiên Dừa, Cau tâm sự với cộng đồng Thảo Mộc chúng ta.”, đại diện Măng Cụt đáp.

“Tôi vẫn chưa hiểu. Chuyện gì xảy ra bên hàng Dừa cao dọc theo bờ sông? Sông gì vậy?” Ɖại diện Chà Là thắc mắc hỏi.

“Hàng Dừa cao nào đó nằm trong xã An Phú Ɖông, tỉnh Gia Ɖịnh, khoảng 12km cách trung tâm Sài Gòn. Một phần của xã nằm trên hữu ngạn sông Sài Gòn mà dân chúng địa phương gọi nôm na là Sông Cái.”, đại diện Măng Cụt giải thích.

“Chuyện gì xảy ra ở An Phú Ɖông mà có những câu thơ dưới đây:

Một làng nho nhỏ ở ven sông
Một năm chinh chiến ôi chinh chiến
Sông nước Sài Gòn nhuộm máu hồng?”, đại diện Chà Là hỏi.

“Một trận đánh đẫm máu ngay trong những ngày đầu cuộc chiến tranh Ɖông Dương lần thứ nhất. Ɖẫm máu và hào hùng!”, đại diện Măng Cụt đáp.

“Do đâu anh biết chuyện này?”, đại diện Chà Là hỏi.

“Tôi là láng giềng của mấy anh chị Dừa ở An Phú Ɖông. Nơi tôi sống nằm trên hữu ngạn sông Sài Côn trong một xóm đạo cách An Phú Ɖông khoảng 5km đến 6km.”, đại diện Măng Cụt đáp.

Một thông báo bằng Thảo Mộc Quốc Tế Ngữ vang vọng trên không trung do cộng đồng Thông Reo chuyển về cho biết đã đến giờ tâm sự của đại tộc Dừa, Cau trên thế giới. Tất cả đại diện cộng đồng Thảo Mộc Thế Giới đứng lên chào mừng đại diện Dừa, Cau hoàn vũ. Ɖó là một bô lão Diệp Thủ tộc xã An Phú Ɖông trong tỉnh Gia Ɖịnh đến. Trông lão phong trần nhưng rất phong độ. Lão có vẻ tự tin về quá khứ của mình với vô số vết sẹo trên thân mình lão. Lão mặc bộ đồ màu xám trông sạch sẽ, gọn gàng nhưng không che giấu nổi hậu quả của quá khứ đầy gian lao khốn khổ nhưng hào hùng của lão.
 
***
Thật là một danh dự to lớn cho chúng tôi được cộng đồng Cocos trên thế giới ủy nhiệm đến đây để tâm sự với cộng đồng Thảo Mộc Thế Giới. Ɖây là một danh dự quá lớn đối với bản thân tôi, một lão Diệp Thủ trong một làng hẻo lánh trên dòng sông Sài Gòn thơ mộng.
 
duacau 1
 
Quê hương của dòng Cocos chúng tôi là những vùng khí hậu nhiệt đới, bán nhiệt đới và đại dương ở Ɖông Nam Á, Nam Á và các hải đảo Nam Thái Bình Dương. Các thương nhân Á Rập buôn bán và truyền giảng Hồi Giáo ở Mã Lai và Indonesia mang dòng Cocos về giao điểm của hai lục địa Á-Phi. Từ đó các tiền bối của chúng tôi vượt Ɖại Tây Dương đến vùng biển Caribbean và xuống tận Brazil ở Nam Mỹ, quốc gia chịu ảnh hưởng văn hóa Bồ Ɖào Nha.
 
Người Bồ Ɖào Nha là những người Âu Châu đầu tiên vượt Ɖại Tây Dương vào Ấn Ɖộ Dương trên đường sang Á Châu tìm kiếm hương liệu. Họ chiếm thành phố Goa của Ấn Ɖộ vào năm 1510. Họ tìm thấy cây Dừa của Ấn Ɖộ và gọi đó là Coco da India, coco, coqueiro. Coco có nghĩa là cái đầu, cái sọ, ám chỉ hình dáng của trái Dừa. Trái Dừa có lớp vỏ dày bao bọc. Lột lớp vỏ này ta có sọ Dừa tựa như cái sọ người có ba con mắt quái dị.
 
duacau 2
 
Tên khoa học của Dừa là Cocos nucifera thuộc gia đình Arecaceae (Coco: đầu, sọ; Nux: quả cứng; fera: mang). Về cách gọi tên cây Dừa, ta có hai nhánh địa lý khác nhau:
 
1- Tên gọi cây Dừa của dân chúng hải đảo Thái Bình Dương và Nam Á luôn luôn có chữ N, Na, Ni, Nu, Ny.
 
duacau
 
2- Tên gọi cây Dừa của người Âu Châu, kể cả Nhật Bản và Ɖại Hàn mang âm Coco hay Koko do ảnh hưởng của Bồ Ɖào Nha, quốc gia Âu Châu đầu tiên dặt chân lên Ấn Ɖộ vào đầu thế kỷ XVI.
 
duacau1
 
Sự xuất hiện của cây Dừa giảm dần ở phía Bắc vĩ tuyến 25 Bắc Bán Cầu và phía Nam vĩ tuyến 25 Nam Bán Cầu.
Cây Dừa cao từ 5m đến 15m. Cây Dừa già có thể cao đến 25m. Tàu Dừa dài 2m - 3m. Lá dài trên 1m, màu xanh, mọc theo hình cánh chim; sống lá rất cứng. Dừa có nhiều rễ lồi mọc chi chít trên mặt đất.
 
Dừa được trồng bằng trái Dừa khô. Phải mất từ 3 - 4 năm Dừa mới có trái.
 
Dừa rất cần nước. Ở Thái Lan người ta đào mương rộng lối 2m - 3m trong các đồn điền trồng Dừa để có nước tưới cho Dừa. Nhờ các mương rãnh ấy, người ta chuyển vận Dừa hái được bằng “đường thủy”, khỏi phải khuân vác nặng nhọc.
 
duacau 3
 
Hoa Dừa màu vàng ngà kết thành chuỗi dài. Dừa kết trái trên một quài dài. Mỗi mẫu tây (10.000m2) có thể trồng từ 200 - 250 cây Dừa. Dừa ra trái quanh năm. Cây Dừa tốt tươi có thể cho từ 200 - 250 trái mỗi năm. Ɖó là một nguồn lợi khá quan trọng mặc dù việc hái Dừa khá nguy hiểm vì cây Dừa cao nhưng không có nhánh như các loại cây ăn trái có thân mộc rắn chắc như Mít, Măng Cụt, Sầu Riêng, Dâu, Chôm Chôm v.v..
 
duacau 4
 
Ở Việt Nam các loại Dừa thường thấy là: Dừa Bị, một loại dừa cao, trái to nhưng nước không ngọt; Dừa Xiêm, Dừa được lấy giống từ Xiêm La tức Thái Lan bây giờ (1), không cao, trái nhỏ nhưng nước rất ngọt; Dừa lùn, cao lối 3m - 5m; Dừa lửa có trái vỏ màu đỏ v.v.. Dừa được tìm thấy khắp nơi ở Nam Bộ và miền duyên hải Trung Bộ từ Nha Trang đến Bồng Sơn trong tỉnh Bình Ɖịnh. Hiện nay Việt Nam có 175.000 mẫu đất trồng Dừa. 75% diện tích này nằm trên đồng bằng sông Cửu Long trong tỉnh Bến Tre (Kiến Hòa), Trà Vinh (Vĩnh Bình) và Ɖịnh Tường (Mỹ Tho).
 
Theo số liệu của Tổ Chức Lương Nông Thế Giới (FAO: Food and Agriculture Organization) số lượng Dừa trên thế giới vào năm 2022 là 62.400.000MT (metric tonnes – 1 MT: 1.000kg tức 1 tấn). Các quốc gia trồng nhiều Dừa tập trung ở Ɖông Nam Á, Nam Á, hải đảo Thái Bình Dương, Brazil, Mexico và một vài quốc gia Phi Châu. Các quốc gia sản xuất nhiều Dừa là:
 
duacau2
 
 
duacau 5
 
Trái Dừa cân nặng từ 1,5kg - 2,5kg. Nước Dừa ngọt và mát. Cơm Dừa nạo ngào đường làm nhân bánh ít, cho vào xôi hay Bắp chiên ăn với muối Ɖậu Phọng có chút đường. Các thức ăn ngọt như chè, bánh tằm, xôi, Bắp nấu, Bắp chiên… luôn luôn có nước cốt Dừa và Ɖậu Phọng rang đâm nhuyễn trộn với đường và chút ít muối. Nước cốt Dừa được cho vào các thức ăn mặn, ngọt trên đồng bằng sông Cửu Long. Người ta nạo cơm trái Dừa khô để nấu dầu Dừa.
 
Dầu dừa dùng để xức tóc, làm mát da, nấu nướng, tẩy sạch răng, củng cố nướu răng, dùng trong kỹ nghệ sản xuất xà bông v.v.. Phi Luật Tân, Indonesia và Ấn Ɖộ là những quốc gia sản xuất nhiều dầu Dừa trên thế giới. Dầu Dừa có công dụng đa dạng đối với người Phi Luật Tân và các dân tộc trên hải đảo Nam Thái Bình Dương. Trên đồng bằng sông Cửu Long người ta ăn cổ hủ Dừa như món ăn dân dã nhưng đắt tiền vì muốn ăn cổ hủ Dừa phải đốn bỏ cả cây Dừa.
 
duacau 6
 
Ɖuông Dừa hay Ɖuông Chà Là là nhộng của loài bọ cánh cứng màu đỏ, có mỏ dài và cứng (Red palm weevil) mang tên khoa học Rhynchophorus ferrugineus, gia đình Curculionidae được tìm thấy trên cổ hũ của cây Dừa hay cây Chà Là. Ɖuông Dừa chiên bơ là món ăn hiếm có và đắt tiền được bán ở các nhà hàng sang trọng vùng Chợ Cũ Sài Gòn trước năm 1975.
 
Thân cây Dừa dùng để làm nhà, làm cầu bắt qua mương rãnh hay các rạch nhỏ trong thôn xóm. Lá Dừa dùng để lợp nhà, làm vách, gói bánh, làm nón, giỏ xách hay làm chất đốt để nấu nướng. Vỏ Dừa phơi khô dùng như chất đốt trong việc nấu nướng, chùi nồi chảo. Xơ Dừa làm cho đất tơi, xốp, giữ độ ẩm, kích thích cây cối ra rễ, làm nguyên liệu sản xuất thảm xơ Dừa. Sọ Dừa dùng làm gáo múc nước, làm đàn gáo hay đàn nhị (vì có hai dây). Ɖàn gáo có âm thanh réo rắt như đàn Violin của các nước phương Tây.
 
Nước Dừa là thức uống mát, nhuận tiểu được loài người ưa thích. Những người khá giả ở Việt Nam thường kho thịt, cá, nấu cà-ri bằng nước Dừa tươi. Nước Dừa có nhiều proteins, Ca, Na, P, Mg, K và sinh tố C, B1, B2, PP (tức sinh tố B3Niacin/Niacinamide).
 
Dừa được đưa vào ca dao và âm nhạc Việt Nam với:
 
Trả ơn ai có cây Dừa,
Cho tôi nghỉ mát, đợi chờ người thương.
*
Còn duyên nón cũ quai tơ,
Hết duyên nón lá quai Dừa cũng xong.

*
Trồng Tre, trồng Trúc, trồng Dừa,
Muốn nên cơ nghiệp thì chừa lang vân.
 
Thi sĩ José García Villa (1908 - 1997) nổi tiếng với Bài Thơ Trái Dừa (The Coconut Poem). Dưới nhãn quan riêng của ông trái Dừa được xem như những núm vú của Cây Dừa. Ɖó là sự sống của cây Dừa và quần đảo Phi Luật Tân, nơi có nhiều đồn điền Dừa.
 
Trong âm nhạc Việt Nam có các bài ca liên quan đến Dừa như: An Phú Ɖông (Lê Bình), Dáng Ɖứng Bến Tre (Nguyễn Văn Tý), Cây Dừa (Xuân Hồng), Cây Cầu Dừa (Hàn Châu).
 
Ở Thụy Ɖiển giá buốt, ông Mohombi Nzasi Moupondo (1986 -), một nhà soạn nhạc mang dòng máu Thụy Ɖiển và Congo, soạn bài The Coconut Tree (Cây Dừa).
 
***
Thưa quí vị Thảo Mộc,
 
Dừa, Cau chúng tôi sống trên các vùng đất có sông, rạch, mương rãnh để có nguồn nước dồi dào. Các thân thuộc xa gần của chúng tôi trong gia đình lá cọ Palmae hay Arecaceae có anh chị sống dưới nước nên gọi là Dừa Nước. Có anh chị sống trên những vùng đất khô hạn như các anh chị Ɖủng Ɖỉnh, Lá Buông, Thốt Nốt, Chà Là.
 
Dừa Biển (Sea Coconut, Coco de mer) mang tên khoa học Lodoicea maldivica (2) là thân thuộc to lớn trong gia đình Palmae hay Arecaceae chúng tôi. Địa bàn sống của các anh chị ấy là các hải đảo Thái Bình Dương, nhất là trên quần đảo Seychelles (3) trong Ấn Độ Dương.
 
duacau 7
 
Cây Dừa Biển cao trung bình 35m. Tàu lá dài từ 7m - 10m. Trái Dừa to có 2 hột, cân nặng 15kg - 30kg.
 
Dừa Biển được trân quí vì trái to, nước nhiều. Dừa Biển rất khó trồng. Phải mất 3 - 4 năm hột mới nảy mầm và mất thêm 20 năm cây Dừa Biển mới kết trái. Kế đến phải mất thêm 3 - 4 năm trái mới được xem là già và dùng được! Người địa phương cho rằng nước Dừa Biển có tính kích dục, giải độc, hạ sốt, trị tê bại.
 
Dừa Nước là bà con nghèo của chúng tôi sống dọc theo các bờ sông bùn lầy hay ở các cửa sông, nơi giao tiếp giữa nước ngọt (nước sông) và nước mặn (nước biển). Tên khoa học của các anh chị Dừa Nước, người Trung Hoa gọi là Shui Ye (thuỷ diệp), là Nypa fruticans, gia đình Arecaceae. Người Anh gọi Dừa Nước là mangrove palm, Phi Luật Tân: Nipa palm. Tên khoa học và cách gọi của người Phi Luật Tân có âm Nipa hay Nypa dựa vào cách gọi Dừa Nước của người Mã Lai: Bua nipa.
 
duacau 8
 
Anh chị Dừa Nước cao lối 5m - 6m, hoa chùm có nhựa ngọt lợ, trái nhỏ như trái Chà Là có cơm trắng ngọt lợ. Trong lịch sử Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX xuất hiện địa danh Đám Lá Tối Trời, ám chỉ chiến khu kháng Pháp dưới sự chỉ huy của Trương Định trong xã Lý Nhơn, quận Cần Giờ, tỉnh Gia Định, sau khi Pháp chiếm Đông Tam Tỉnh Nam Kỳ (1862) (4). Đám Lá Tối Trời là vùng có nhiều Dừa Nước.
 
duacau 9
 
Nhựa hoa Dừa Nước dùng để làm đường, rượu, giấm. Lá Dừa Nước dùng để lợp nhà. Tàu lá dùng làm chất đốt nấu nướng trong nhà. Dân chúng trên các hải đảo Thái Bình Dương tin rằng nuôi heo bằng nhựa đường Dừa Nước sẽ có thịt ngon. Nhựa Dừa Nước còn được dùng để sản xuất ethanol với kết quả đáng ngạc nhiên:
 
duacau3
 
Thốt Nốt và Chà Là là những thân thuộc gần của Dừa, Cau, sống ở những vùng khô cằn như Phi Châu, Trung Ɖông và Trung Á. Thốt Nốt cũng được tìm thấy nhiều ở Ấn Ɖộ, Sri Lanka, các nước Ɖông Nam Á như Miến Ɖiện, Thái Lan, Cambodia, Mã Lai, Indonesia v.v..
 
Tên khoa học của Thốt Nốt là Borassus flabellifer, gia đình Arecaceae.
 
duacau 10
Căn cứ vào các tên gọi của:
 
duacau4
 
Ta thấy nguyên quán của Thốt Nốt ở Phi Châu hay Trung Ɖông, nhất là thành phố Palmyra ở Syria. Trong Thánh Kinh đó là thành phố Tadmor nằm về hướng đông bắc của thủ đô Damacus. Cây Thốt Nốt di chuyển sang Nam Á và Ɖông Nam Á theo hướng Tây-Ɖông. Thốt nốt có vai trò quan trọng trong đời sống của người Ấn Ɖộ, Sri Lanka, Cambodia.
 
Các tên gọi khác của Thốt Nốt:
 
duacau5
 
Trong tỉnh An Giang ngày nay có quận Thốt Nốt. Trước khi người Việt hoàn thành cuộc Nam Tiến vào năm 1757, vùng đất Nam Bộ ngày nay là Thủy Chân Lạp (Water Chenla).

Các anh chị Thốt Nốt có chiều cao như dòng Cocos chúng tôi. Cây Thốt Nốt rất cứng, được dùng để cất nhà, làm hàng rào. Miến Ɖiện nổi tiếng về việc sản xuất nhiều gỗ Thốt Nốt. Trái Thốt Nốt nhỏ và có ba hột. Cơm và hột đều ăn được. Lá Thốt Nốt tạo hình cái quạt, vì vậy người Anh gọi Thốt Nốt là African fan palm. Lá dùng để lợp nhà, làm thúng, rổ, giỏ xách, dù, áo mưa v.v.. Ngày xưa người Indonesia và Khmer dùng lá Thốt Nốt như giấy để khắc chữ. Nhựa Thốt Nốt dùng để sản xuất ra đường Thốt Nốt, làm rượu Arrack (5), làm giấm..
 
duacau 11
 
Ở Ấn Ɖộ và Sri Lanka trung bình mỗi cây Thốt Nốt có 350 trái mỗi năm. Mỗi cây cho từ 4 - 5 lít nhựa mỗi ngày, liên tục 200 ngày trong năm. Trung bình 100kg nhựa Thốt Nốt cho từ 7kg - 8kg đường Thốt Nốt và 7kg - 8kg mật. Trong 200 ngày mỗi cây Thốt Nốt cho 4 x 200 x 8 : 100 = 64kg đường Thốt Nốt và 64kg mật đường.
 
Ɖường Thốt Nốt đắt tiền hơn đường Mía và đường Củ Cải. Ɖường Thốt Nốt có Inulin hay Fructo-oligosaccharides FOS (C6H10O5)n có khả năng trợ tiêu hóa, giảm cân và hạ máu đường. Các quốc gia sản xuất đường Thốt Nốt trên thế giới hiện nay nằm ở Nam Á (Ấn Ɖộ) và Ɖông Nam Á (Indonesia, Thái Lan, Phi Luật Tân). Thị trường đường Thốt Nốt trên thế giới chiếm khoảng 2 tỷ Mỹ kim.
 
Cây Thốt Nốt là Quốc Mộc của xứ Cambodia.
 
Chà Là là những thân thuộc gần của Diệp Thủ tộc chúng tôi. Các anh chị ấy sống ở những vùng khô hạn.
 
duacau 12
 
Có người cho rằng nguồn gốc của các anh chị Chà Là là vùng vịnh Ba Tư (Persian Gulf). Từ đó Chà Là lan tỏa ra cực đông Ɖịa Trung Hải và Bắc Phi. Tên khoa học của Chà Là là Phoenix dactylifera, gia đình Arecaceae. Chữ Phoenix trong tên khoa học của cây Chà Là không có nghĩa là Phượng Hoàng mà là người Phoenicians hay Canaanites sống trong vùng Lưỡi Liềm Phì Nhiêu (Fertile Crescent) thời cổ sử. Vùng Lưỡi Liềm Phì Nhiêu bao gồm Lebanon, Syria, Do Thái, Jordan, Palestine, Iraq, Kuwait ngày nay.
 
Người Anh gọi Chà Là là Phoenix palm, Judean date palm (Chà Là xứ Judea tức Do Thái). Cách gọi tên của người Anh như công nhận nguồn gốc Canaanites của cây Chà Là.
 
Người Pháp gọi Chà Là là Palmiers de Canaries (Chà Là quần đảo Canary ngoài khơi Ɖại Tây Dương) hay Dattiers des Canaries (Chà Là quần đảo Canary. Quần đảo này thuộc Tây Ban Nha). Cây Chà Là cũng mang tên khoa học Phoenix canariensis. Như vậy cây Chà Là di chuyển từ miền Ɖông Ɖịa Trung Hải ra Ɖại Tây Dương theo hướng Ɖông-Tây.
 
Trong thời gian 1963 - 1965 người ta khai quật cung điện của vua Do Thái Herod (72 - 04 tr. Tây Lịch, Vua; 37 - 04 tr. TL) thời Chúa Jesus trên cao nguyên Masada và thấy một cái hũ đựng hột Chà Là. Bốn chục năm sau người ta thử trồng Chà Là bằng những hột trên 2.000 tuổi trong một Kibboutz trong sa mạc Arabah miền Nam Do Thái. Những cây Chà Là này đều là Chà Là đực nên không có trái. Người ta dùng tên Methuselah, người sống thọ mấy ngàn năm trong Thánh Kinh, để đặt tên cho những cây Chà Là đực có tuổi thọ trên 2.000 năm này.
Cây Chà Là được tìm thấy nhiều ở Trung Ɖông, Trung Á và Bắc Phi. Các anh chị ấy được đề cập nhiều trong Thánh Kinh Do Thái và Thánh Kinh Koran của thế giới Hồi Giáo. Tín hữu đạo Hồi nêu ra 700 công dụng của Chà Là. Về phương diện kinh tế, thương mại và giao tiếp quốc tế, Chà Là vượt xa Dừa chúng tôi.
 
Cây Chà Là có chiều cao trung bình ngang hàng với Dừa chúng tôi. Hoa Chà Là trắng và thơm. Chà Là có Chà Là đực và Chà Là cái. Sự thụ phấn kết trái cần phải có sự hiện diện của Chà Là đực, Chà Là cái và sự trung gian của con người. Chà Là ra trái chùm như Dừa nhưng trái nhỏ như trái Cau. Khi chín, trái Chà Là rất ngọt. Mỗi trái có một hột cứng. Hột Chà Là được dùng để cất dầu. Nhựa Chà Là dùng làm đường, rượu, giấm.
 
duacau 13
 
 
Chà Là được trồng bằng hột. Sau 3 hay 4 năm Chà Là có trái. Mỗi hectare trồng được lối 150 cây Chà Là với khoảng cách 08 x 08m. Trung bình mỗi cây Chà Là cho 70kg trái mỗi năm. Trung bình mỗi hectare (10.000m2) Chà Là sản xuất: 70 x 150 = 10.500kg Chà Là/năm. Theo thứ hạng, các nước sản xuất nhiều Chà Là trên thế giới hiện nay là:
 
1- Ai Cập.
2- Saudi Arabia.
3- Algeria.
4- Iran.
 
Saudi Arabia là quốc gia xuất cảng nhiều Chà Là nhất thế giới. Thương vụ Chà Là trên thế giới năm 2024 lối 10 tỷ Mỹ kim. Cùng gia đình Arecaceae của cây lá cọ, các anh chị Lá Buông hay Lá Gồi và Ɖủng Ɖỉnh là những bà con nghèo của chúng tôi sống trong tình trạng hoang dã vì không có lợi ích kinh tế đáng kể.
 duacau 14
 
Lá Buông hay Lá Gồi mang tên khoa học Corypha lecomtei, gia đình Arecaceae. Người Anh gọi là Fan palm; Pháp: Latanier, Talipot palm; Mã Lai: Talipot. Giữa Long Khánh và Phan Thiết có khu Rừng Lá. Ɖó là rừng Lá Gồi.
 
duacau 15
 
Ɖủng Ɖỉnh mang tên khoa học Caryota mitis, gia đình Arecaceae. Người Anh gọi là Fish tail palm (Cây Cọ Ɖuôi Cá); Mã Lai: Dudar; Phi Luật Tân: Bato v.v..
 
*************
Trong gia đình Arecaceae hay Palmae, Dừa, Thốt Nốt, Chà Là giống nhau về hình dáng, công dụng, sự hữu ích nhưng khác nhau về không gian sinh tồn. Dừa chúng tôi rất thân thiện với Cau, mặc dù khác nhau về công dụng và lợi ích nhưng chúng tôi là những người láng giềng hầu như khó tách rời nhau ở Nam Á, Ɖông Nam Á và trên các hải đảo Thái Bình Dương.
 
Anh chị Cau được đề cập trong Cổ Sử Việt Nam nhưng không thấy Dừa được đề cập. Tục nhuộm răng và ăn Trầu được tìm thấy trên nước Việt Nam cổ. Ở phía Bắc vĩ tuyến 25 không có tục này.
Cây Cau không to và không cao như cây Dừa. Cả hai chúng tôi đều có rễ lồi nổi trên mặt đất. Trái Cau nhỏ, rất chát, không ăn được (6). Cau thường đi đôi với lá Trầu. Trầu Cau luôn luôn đi đôi với nhau ở các quốc gia Nam Á, Ɖông Nam Á, trên các hải đảo Thái Bình Dương.
 
duacau 16
 
Tên khoa học của cây Cau là Areca catechu, gia đình Arecaceae hay Palmae. Người Bồ Ɖào Nha là người Âu Châu đến Ấn Ɖộ vào đầu thế kỷ XVI. Họ cho rằng cây Cau gốc ở Ấn Ɖộ. Người Tamil (7) gọi cây Cau là Areec. Chữ Areca trong tên khoa học do tên gọi Areec của người Tamil mà ra. Tên gọi cây Cau của người Âu Châu:
 
duacau 6b
 
Sinh quán thực của cây Cau là Ấn Ɖộ hay các quốc gia Ɖông Nam Á và hải đảo Thái Bình Dương, nơi cư dân gọi cây Cau khởi đầu bằng những âm PU, BU, BUA, BUEI, PUPUA, PI?
 
duacau 7a
 
duacau 17
 
Cau không ăn được như Dừa nhưng dòng họ Bình Lang có quan hệ xã hội rất quan trọng trong xã hội loài người. Dòng họ Bình Lang rất thân mật với Trầu, Vôi và Thuốc Lá.

Miếng Trầu là đầu câu chuyện”.
 
Ɖó là cách nói vắn tắt cho gọn gàng chớ miếng Trầu nào lại thiếu Cau, Vôi hay Thuốc Lá. Trầu, Cau lúc nào cũng có mặt trong đám hỏi hay đám cưới của người Việt Nam. Trái Cau tuy không ăn được nhưng Cau khô mang nhiều lợi nhuận cho người tồn trữ chúng. Trong thời kỳ đất nước qua phân, Cau khô được tiêu thụ ở miền Nam, trong cộng đồng người Chăm và người thiểu số trên Cao Nguyên Nam Trung Bộ.
 
duacau 18
 
Cau, Dừa và Tre, Trúc gợi lên vẻ đẹp thiên nhiên và cảnh thái bình của thôn xóm miền nhiệt đới Á Châu.
 
Mo Cau, một bộ phận tầm thường của dòng họ Bình Lang được dùng để ‘mo cơm”. Cái quạt Mo là vật sở hữu duy nhất của thằng Bờm được phú ông để ý và muốn chiếm hữu trong bài ca dao Thằng Bờm.
 
Thằng Bờm có cái quạt mo,
Phú ông xin đổi ba bò chín trâu

v.v..
 
Mo Cau là đề tài của bản nhạc Người Phu Kéo Mo Cau của nhạc sĩ Trường Giang Thủy.
 
Dòng họ Bình Lang có duyên với thi ca, âm nhạc. Nhạc sĩ Phan Huỳnh Ɖiểu sáng tác bài Trầu Cau, một trong những bản nhạc xưa của Việt Nam chào đời trong đệ nhị thế chiến.
 
Sự tích Trầu Cau là chuyện tình buồn ngang trái thời cổ sử ở nước ta. Hai anh em thầm yêu một mỹ nữ. Người anh thành công trong việc chinh phục trái tim của người đẹp. Người em bị loại ra khỏi tình trường nên bỏ nhà ra đi và chết trong âu sầu, buồn bã và hóa đá (9). Người anh đi tìm kiếm em trong tuyệt vọng và chết bên hòn đá nơi người em đã chết, trở thành cây Cau. Người vợ ra đi tìm chồng, chết bên cây Cau và hòn đá, trở thành dây Trầu bám lấy cây Cau. Hòn đá làm vôi têm Trầu nhai với Cau. Cao quí thay tình huynh đệ và tình nghĩa phu thê! Ɖó là chuyện Một Mối Tình Ba Cái Chết bi thương và đẫm lệ vào lúc bình minh của lịch sử.
 
 
Trầu Cau sống mãi trong những vần thơ sau đây:
 
Cau non khéo bửa cũng dày,
Têm Trầu cánh phượng để thầy ăn đêm
 
Trầu vàng ăn với Cau Sâu,
Lấy chồng thua bạn thảm sầu mà hư
 
Thân em như miếng Cau khô,
Kẻ thanh tham mỏng, người thô tham dày
 
Ai về cho gởi buồng Cau,
Buồng trước kính mẹ, buồng sau kính thầy.
 
Xưa kia vùng đất chạy dài từ phía nam vĩ tuyến 18 (Quảng Bình) xuống vĩ tuyến 11 (Bình Thuận) là xứ Champa (10) tức Chiêm Thành. Xứ này có hai thị tộc lớn:
 
1- Thị tộc cây Dừa (Narikelavamca - Narikela: cây Dừa) ở Indrapura (Ɖồng Dương, Quảng Nam).
 
2- Thị tộc cây Cau (Kramamukavamca – Kramamuka: cây Cau) ở Panduranga (Phan Rang).
 
Trái Cau được dùng để trục sên, lãi trong đường ruột vì có arecoline C8H13NO2. Ở Ấn Ɖộ người ta dùng Cau để trị nhức đầu, sốt, tê thấp. Trái Cau có tannins (chất chát), gallic acid C7H6O5, arecoline C8H13NO2, guracine C6H9NO2. Trong ngành Thú y người ta dùng arecoline hydrobromide C8H14BrNO2 để trị chứng đau ruột của loài ngựa.
 
Ở Việt Nam khi trẻ sơ sinh nấc cụt, người ta giã lá Trầu hay ngắt phần đầu của lá Trầu dán vào huyệt Ấn Ɖường (phần dưới của trán, trên sống mũi giữa hai đầu chân mày).
 
*********
Kính thưa toàn thể quí vị Thảo Mộc Hoàn Vũ,
 
Cau, Dừa chúng tôi thuộc văn hóa thảo mộc vùng khí hậu nhiệt đới, bán nhiệt đới và đại dương. Chúng tôi không có sự thay đổi sâu đậm khi loài người đạt đến trình độ khoa học và kỹ thuật cao. Nông thôn là không gian sinh tồn bất di bất dịch của Cau, Dừa. Các vùng có nhiều Cau và Dừa ở Nam Á, Ɖông Nam Á và các hải đảo Thái Bình Dương là những vùng đất bị người Bồ Ɖào Nha, Hòa Lan, Tây Ban Nha, Anh, Pháp, Hoa Kỳ chinh phục trong quá khứ.
 
Nước Dừa, Dừa nạo, nước cốt Dừa vẫn tồn tại trong các nhà bếp như vật bất khả thay thế. Tục ăn Trầu vẫn tồn tại ở các quốc gia Nam Á, Ɖông Nam Á và trên các hải đảo Thái Bình Dương mặc cho sự bành trướng ồ ạt của văn hóa phương Tây trên các thuộc địa.
 
Những cây cầu Dừa được thay thế bằng cầu gỗ được siết ‘bù lon” (boulon) chắc chắn hay cầu xi măng cốt sắt đơn giản. Máng xối bằng cây Cau hay cây Tre được thay thế bằng máng xối thiếc, Cao Su hay xi măng. Mái nhà lá Dừa, lá Cau được thay thế bằng mái “tôn” (tôle), mái ngói, mái fibrociment. Vách lá được thay thế bằng tường gạch tô xi măng. Ɖó là những thay đổi đáng nói trong quá trình sống của gia đình Arecaceae của chúng tôi.
 
Tục nhuộm răng ở Bắc Bộ biến dần từ thập niên 1930.
 
Tục ăn Trầu vẫn tồn tại ở nông thôn trên ba miền đất nước. Mâm Trầu Cau vẫn tồn tại vững mạnh trong các lễ hỏi và lễ cưới ở Việt Nam.
 
Vào giữa thế kỷ XX số đàn ông ăn Trầu hầu như không còn nữa. Phụ nữ ở nông thôn vẫn còn ăn Trầu. Phụ nữ sống ở thành phố giảm thiểu việc ăn Trầu tối đa vào cuối thế kỷ XX.
 
Làng Bà Ɖiểm, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Ɖịnh nằm cách Sài Gòn 12km là nơi nổi tiếng về việc trồng Trầu, Cau cung cấp cho người ăn Trầu sống trong vùng Sài Gòn, Gia Ɖịnh và các vùng ven biển. Làng Bà Ɖiểm, tức Thập Bát Phù Lưu Viên (Mười Tám Thôn Vườn Trầu) (11) chẳng những nổi tiếng về Trầu mà còn lưu danh trong lịch sử với trận đánh quyết tử đẫm máu vào năm 1885 dưới sự chỉ huy của quản Hớn tức Phan Công Hớn và Nguyễn Văn Quá. Sau cuộc nổi dậy oai hùng này Pháp cải danh huyện Bình Long thành quận Hóc Môn.
 
Ngày nay Bà Ɖiểm trở thành một đơn vị hành chánh trong huyện Hóc Môn, một trong 24 quận huyện trong Thành Phố Hồ Chí Minh (ghi chú: sau ngày 01-01-2021 Thành Phố HCM được phân chia lại, chỉ còn 21 quận huyện và 1 thành phố trực thuộc là Thủ Ɖức – do sáp nhập quận2, quận 9 và quận Thủ Ɖức). Việc trồng Trầu không mang nhiều lợi nhuận bằng đầu tư vào việc buôn bán đất đai và xây dựng nhà cửa trong một xã thôn đô thị hóa. Ɖến đầu thế kỷ XXI tục ăn Trầu tồn tại yếu ớt ở Việt Nam.
 
Ɖến đây tôi xin chấm dứt phần tâm sự của Dừa, Cau và kính chúc đại gia đình Thảo Mộc Hoàn Vũ tránh xa cuồng phong, bão tố từ Thiên Nhiên và dao, kéo, máy của loài người. Chúng ta luôn sống trong cảnh Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng.
 
Tất cả đại diện Thảo Mộc đứng dậy, vỗ tay hoan nghinh vị bô lão Dừa An Phú Ɖông liên hồi. Ban nhạc Quốc Tế Diệp Thủ trổi điệp khúc “Ɖây An Phú Ɖông! Ôi! An Phú Ɖông! Ngày nào quân đi reo vang hùng dũng. Ɖây An Phú Ɖông! Ôi! An Phú Ɖông! Muôn đời uy linh sống với núi sông.”

Bô Lão Diệp Thủ An Phú Ɖông, Gia Ɖịnh, Việt Nam.
 
Phạm Đình Lân, F.A.B.I.
_______________
Chú thích:
 
(1): Nhiều loại trái cây và động vật ở Nam Bộ đến từ Xiêm La vào cuối thế kỷ XVIII sau khi chúa Nguyễn Ánh và tùy tùng chạy trốn quân Tây Sơn trở về: Nào là mãng cầu Xiêm, Dừa Xiêm, Chuối Sứ hay Chuối Xiêm, Hồng Xiêm (trái Sa-bô-chê – Sapote, Pouteria sapote, gia đình Sapotaceae), Vịt Xiêm, cá lia thia Xiêm, canh Xiêm Lo (La), Xiêm y v.v..

(2): Tên của quần đảo Maldives trong Ấn Ɖộ Dương ở cực tây nam Ấn Ɖộ và cách nước này lối 750km. Ɖó là một xứ Cộng Hòa nhỏ bé: 298km2 với lối 550.000 dân. Quần đảo Maldives trải dài trên Ấn Ɖộ Dương trên một diện tích biển rộng 90.000km2.

(3): Seychelles là một đảo Quốc (cộng Hòa Seychelles) gồm 115 hải đảo nằm về phía tây bắc đảo Madagascar. Xứ Cộng Hòa này rộng 457km2 với trên 120.000 dân.

(4): Ɖông Tam Tỉnh Nam Kỳ: Biên Hòa, Gia Ɖịnh, Ɖịnh Tường (Mỹ Tho).

(5): Rượu cất từ nhựa hoa Thốt Nốt, Mía, thường thấy ở Ấn Ɖộ, Sri Lanka (Tích Lan), Phi Luật Tân, Indonesia. Cách cất rượu Arrack phỏng theo cách sản xuất loại rượu này ở vùng Levant ngày xưa bao gồm các nước Lebanon, Do Thái, Palestine, Syria, Jordan, Iraq ngày nay. Hương vị của rượu Arrack phảng phất mùi anis (Tiểu hồi) hay rượu Whiskey.

(6): Tàu Cau, thân cây Cau đều có công dụng như tàu Dừa, thân cây Dừa. Cổ hũ của cây Cau là thức ăn ngon như cổ hũ của cây Dừa. Nếu ăn cổ hũ cây Cau thì cây Cau xem như bị hủy bỏ.

(7): Người Tamil sống ở miền Nam xứ Ấn Ɖộ và đảo Sri Lanka. Họ nói ngôn ngữ Dravidian.

(8): Tên đảo Penang của Mã Lai có nghĩa là cây Cau. Từ đó có âm Pinang, Binlang (Trung Hoa). Trên đảo Penang có một Chủng Viện Thiên Chúa Giáo. Vào thế kỷ XIX các chủng sinh mang giống Sầu Riêng, Măng Cụt, Chôm Chôm từ đảo này về trồng ở Cái Mơn (Vĩnh Long, sau thuộc về Bến Tre), Nhị Bình (Gia Ɖịnh), Bình Nhâm, Hưng Ɖịnh (Biên Hòa, sau thuộc về tỉnh tân lập Thủ Dầu Một).

(9): Vôi ăn Trầu (Slaked lime) Ca(OH)2.

(10): Theo tiếng Hindi, Champa có nghĩa là cây Hoa Sứ.

(11): Phù lưu: dây Trầu. Thập Bát Phù Lưu Viên: Mười tám thôn vườn Trầu. Trong tỉnh Bắc Ninh có làng Phù Lưu tức làng Trầu
.
 
 

Tìm các bài BIÊN KHẢO khác theo vần ABC . . .