Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
tratamsu 1
hình trên net Điện Máy Xanh 
 
Ɖất tổ của dòng họ Trà chúng tôi chưa được xác định rõ ràng. Chỉ biết rằng tổ tiên họ Trà chúng tôi sống lâu đời ở Tây Nam Trung Hoa, Đông Ấn Ɖộ, Bắc Miến Ɖiện bây giờ. Dòng họ Trà Camellia gắn liền với nước Trung Hoa:
 
1- Trà xuất hiện trong lịch sử Trung Hoa cách đây 5000 năm. Tương truyền Shen Nong (Thần Nông) nghỉ dưới tàng cây Trà trong khi gia nhân nấu nước Trà. Trà được dùng như thuốc trị bịnh và thức uống ở Trung Hoa từ thời nhà Shang (nhà Thương, 1600 tr. T.L. - 1046 tr. T.L.). Cũng có truyền thuyết cho rằng Thần Nông khám phá cây Trà trên núi Wuyi (Vũ Di Sơn) trong tỉnh Fujian (Phúc Kiến).
 
2- Rừng Trà được tìm thấy ở Tây Nam tỉnh Yunnan (Vân Nam), Làng Mangjing (Mạnh Kinh) trong tỉnh Yunnan là nơi có nhiều rừng Trà hoang dã. Cây Trà rừng cổ thụ trong vùng này có 1.300 tuổi.
 
3- Trung Hoa nổi tiếng về việc sản xuất, tiêu thụ và thuật ướp Trà. Toàn thể nước Trung Hoa có bốn vùng trồng Trà. Ɖó là: 1. Giang Bắc (Jiang Bei), tức các vùng phía Bắc sông Dương Tử (Yang Tze) như Shandong (Sơn Ɖông), Henan (Hà Nam), Gansu (Cam Túc), Shaanxi (Thiểm Tây), Anhui (An Huy). 2. Giang Nam (Jiang Nan) tức các vùng ở phía Nam sông Yang Tse như Jiangxi (Giang Tây), Zhejiang (Chiết Giang), Hubei (Hồ Bắc), Hunan (Hồ Nam), Jiangsu (Giang Tô). 3. Huanan (Hoa Nam) tức Guangdong (Quảng Ɖông), Guangxi (Quảng Tây), Fujian (Phúc Kiến), Taiwan (Ɖài Loan), Hainan (Hải Nam). 4. Xinan (Tây Nam) như Yunnan (Vân Nam), Sichuan (Tứ Xuyên), Guizhou (Quế Châu).
 
4- Tên khoa học của cây Trà có từ “sinensis” có nghĩa là Trung Hoa.
 
tratamsu 2
Cây Trà (Ảnh: internet)
 
Cây Trà thích hợp với khí hậu nhiệt đới và bán nhiệt đới. Cây có thể sống trên cao độ 1.500m đến 2.000m. Cây Trà thích hợp với vùng khí hậu mát trên các cao nguyên. Cây Trà cao từ 5m - 10m. Lá khá dày, màu xanh sậm, rìa lá có răng cưa. Hoa năm cánh màu trắng rất đẹp và có hương thơm. Trái tròn có lối 6 hột bên trong.
 
tratamsu 3
Hoa và lá Trà (Ảnh internet)
 
Tên khoa học của cây Trà là Camellia sinensis (1), gia đình Theaceae. Tên gọi thông thường:
 
tratamsu
 
 
Dòng Camellia chúng tôi không sống xa nơi chôn nhau cắt rún như anh chị Cà Phê hay Thuốc Lá. Chúng tôi cũng không gặp sự chống đối của những người chưa quen biết chúng tôi khi đến sống nơi xa lạ như các anh chị Cà PhêThuốc Lá. Nhưng Trà là nguồn gốc của cuộc chiến tranh cách mạng và lập quốc Hoa Kỳ vào năm 1773.
 
Cây Trà được tìm thấy nhiều ở vùng Assam và Darjeeling (Tây Bengal). Cố nhiên nó có trước khi người Anh đô hộ Ấn Ɖộ. Nhưng dưới sự đô hộ của người Anh Trà được trồng thành đồn điền vào năm 1854 với công Ty Bất Ɖộng Sản Happy Valley Tea Estate.
 
Người Anh du nhập hột Trà vào đảo Sri Lanka vào năm 1824. Trà được trồng thành đồn điền trên đảo bắt đầu từ năm 1839. Công Ty Nuwana Eliya là công ty Trà nổi tiếng của Sri Lanka, nơi Trà đóng vai trò quan trọng trong kinh tế của đảo quốc.
 
tratamsu 4
Hột Trà (Ảnh: etsy.com)
 
Người Anh thành lập đồn điền Trà BOH Tea Plantation vào năm 1929 trên cao nguyên Cameron. BOH: là đồi BOHEA tức đồi Wuji (Vũ Di) trong tỉnh Fujian (Phúc Kiến), nơi theo truyền thuyết cho rằng Shen Nong (Thần Nông) khám phá ra cây Trà.
 
tratamsu 5
Ɖồn điền Trà BOH Tea Plantation ở Cameron (Ảnh: getyourguide.nl)
 
Các nhà trồng tỉa Anh làm chủ các đồn điền trồng Trà ở các thuộc địa Nam Á và Ɖông Nam Á nhằm mục đích tránh sự độc quyền của Trà Trung Hoa.
 
Người Hòa Lan phát triển các đồn điền Trà ở Indonesia.
 
Việt Nam là quốc gia láng giềng của Trung Hoa có liên hệ lịch sử với nước này từ thế kỷ II trước Tây Lịch. Trung Hoa là nước trồng nhiều Trà và uống nước
 
Trà nhiều. Khi đô hộ Việt Nam, cơ sở chánh quyền đô hộ Trung Hoa nằm trong tỉnh Bắc Ninh tức Kinh Bắc cách Hà Nội 45km. Cây Trà sớm xuất hiện trong tỉnh này. Tuyên Phi của chúa Trịnh Sâm (1739 - 1782, Chúa: 1767 - 1782) là Ɖặng Thị Huệ từng là thôn nữ hái Trà. Vì vậy bà được gọi là bà Chúa Chè.
 
Người Pháp thành lập các đồn điền trồng Trà trên Cao Nguyên Nam Trung Bộ và các tỉnh miền trung du và thượng du Bắc Bộ như Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang. Nhiều đồn điền Trà ra đời trong nước vào thập niên 1920. Cao nguyên Blao (Bảo Lộc) phủ đầy cây Trà. Bảo Lộc một thời được xem là thủ đô Trà ở Việt Nam.
 
doi che1 1536891472
Ɖồn điền Trà ở Bảo Lộc (Ảnh: internet)
 
Người Trung Hoa du nhập hột giống Trà vào Phi Luật Tân. Về phương diện địa lý, quần đảo này có nhiều liên hệ với đảo Taiwan (Ɖài Loan) và tỉnh Fujian (Phúc Kiến). Cây chùm nụm Carmona retusa, gia đình Boraginaceae, được xem là cây Trà Phi Luật Tân (Philippine tea tree) hay cây Trà Fujian (Trà Phúc Kiến). Trong quá khứ Phi Luật Tân chịu ảnh hưởng chánh trị của Tây Ban Nha rồi Hoa Kỳ. Người Tây Ban Nha và Hoa Kỳ không quan tâm đến Trà vì họ thích uống cà phê hay sô-cô-la và sữa. Ɖồn điền trồng Trà ở Phi Luật Tân phát triển chậm so với các nước khác ở Ɖông Nam Á.
 
Nhật Bản là nơi có nhiều đồn điền Trà do chính người Nhật thành lập. Ɖó là một trong những quốc gia sản xuất nhiều Trà trên thế giới. Vùng trồng Trà ở Nhật nằm trên các đảo ở phía Nam và Tây Nam nước Nhật và dọc theo duyên hải miền Trung đảo Honshu. Các vùng có nhiều đồn điền Trà là Kagoshima, Nagasaki, Fukuoka, Kyoto, Shizuoka, Kagoshima. Kyoto, Shizuoka có nhiều Trà xanh (matcha) hơn cả. Gần Kyoto, cố đô hoàng gia Nhật, có thành phố Uji nổi tiếng về Trà xanh được du nhập từ Trung Hoa vào Nhật vào thế kỷ XII bởi Myoan Eisai, một tu sĩ Phật Giáo. Ɖó là thời kỳ ra đời của Zen (Thiền) ở Nhật Bản.
 
***
Trung Hoa là quốc gia sản xuất nhiều Trà nhất thế giới (40% tổng sản lượng Trà sản xuất trên thế giới) với 3,5 tỷ kí-lô. Trung Hoa có lịch sử lâu đời về việc khám phá và sử dụng lá Trà để nấu nước uống. Họ cũng nổi tiếng về thuật ướp Trà. Nhưng Trung Hoa đứng hạng nhì trong việc xuất cảng Trà trên thế giới vì số người dùng Trà trong nước rất lớn trên tổng số dân 1,5 tỷ người.
 
Vùng sản xuất nhiều Trà ở Trung Hoa là Yunnan (Vân Nam), Guangdong (Quảng Ɖông), Zhejiang (Chiết Giang).
 
Các hiệu Trà nổi tiếng của Trung Hoa đại cương gồm có:
  • Trà Longjing (Long Tỉnh). Hiệu xưa của trà Longjing là Wanglaoji (Trà Hoàng Lão Cát, được bán trên đường phố ở Quảng Ɖông từ năm 1828).
  • Trà Yun Wu (Vân Vụ).
  • Trà Tie Guan Yin (Thiết Quan Âm) v.v.. Trà đắt tiền nhất là Trà Da Hong Pao (Ɖại Hồng Bào) (2), một loại Trà Ô Long, giá 545 Mỹ kim/pound (453gr), khoảng 1.200 Mỹ kim/kg.
tratamsu 7
Trà Ɖại Hồng Bào mọc trên núi Vũ Di sơn (Ảnh internet)
 
Ấn Ɖộ đứng hạng nhì về việc sản xuất Trà. Trà Duncan do một công ty Anh sản xuất năm 1858 được xem là loại Trà xưa nhất thế giới. Các hiệu Trà nổi tiếng của Ấn Ɖộ là Trà Darjeeling, Trà Trunk, Trà Tata, Trà Brook Bond, Trà Halmari, Trà Lipton v.v.. Trà Halmari và Trà Darjeeling là hai hiệu Trà nổi tiếng nhất ở Ấn Ɖộ. Nước này sản xuất 1,4 tỷ kí-lô Trà trong năm 2023 - 2024.
 
Kenya là quốc gia được xếp hạng ba về việc sản xuất Trà trên thế giới. Người Anh du nhập Trà vào Kenya năm 1903. Nước này có thổ nhưỡng và khí hậu thích hợp cho cây Trà. Mãi đến năm 1924 Kenya mới bắt đầu bán Trà trên thế giới. Vùng trồng Trà trước tiên ở Kenya là Limuru và Kericho. Kenya trồng Trà xanh, Trà trắng, Trà vàng và Trà tím. Công ty KTDA HOLDING Ltd sản xuất 60% tổng sản lượng Trà của Kenya, quốc gia sản xuất và xuất cảng nhiều Trà nhất trên lục địa Phi Châu. Kenya sản xuất 412 triệu kí-lô Trà mỗi năm.
 
tratamsu 8
Ɖồn điền trồng Trà tím ở Kenya (Ảnh: myguidekenya.com)
 
Sri Lanka tức đảo Ceylon (Tích Lan) nhận hột giống Trà do người Anh đưa vào năm 1824. Ngày nay Sri Lanka là quốc gia sắp hạng 4 về việc sản xuất Trà trên thế giới với 300 triệu kí-lô mỗi năm. Trà chiếm 2% GDP và mang về 1,3 tỷ Mỹ kim cho kinh tế quốc gia Sri Lanka. Kỹ nghệ Trà của Sri Lanka sớm hình thành từ năm 1873 thời Anh thuộc. Người ta cho rằng Trà Sri Lanka có tính kháng viêm, có lợi cho người bị đau khớp xương.
 
Thổ Nhĩ Kỳ sản xuất 175 triệu kí-lô Trà mỗi năm, đứng hạng thứ 5 trên thế giới. Nhưng Thổ Nhĩ Kỳ ít xuất cảng Trà vì người Thổ Nhĩ Kỳ nổi tiếng có tỷ lệ dân số uống Trà và Cà Phê cao trên thế giới!
 
Trà được du nhập vào Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1878 từ Nhật Bản. Vùng trồng Trà ở Thổ Nhĩ Kỳ nằm dọc theo duyên hải Hắc Hải (Black Sea). Trà nổi tiếng của Thổ Nhĩ Kỳ là Trà đen với các hiệu Caykur, Dogus, Dogedan, Beta, Mahmood v.v.. Thổ Nhĩ Kỳ sản xuất trà bột tự tan (instant tea) trong nước sôi như cà phê tự tan.
 
Indonesia là một quần đảo gồm trên 17.000 hải đảo. Diện tích Indonesia gần 2 triệu km2 (6 lần lớn hơn Việt Nam). Ɖó là quốc gia rộng lớn và đông dân nhất ở Ɖông Nam Á và là quốc gia có nhiều tín đồ Hồi Giáo nhất thế giới. Indonesia có nhiều núi lửa và đất đỏ phì nhiêu với khí hậu mát mẻ trên cao độ phù hợp cho việc trồng Trà. Người Hòa Lan du nhập Trà từ Macao vào quần đảo Indonesia từ năm 1607. Ɖến hậu bán thế kỷ XIX nhà thực vật học Hòa Lan R.E. Kerkhoven đem Trà Ấn Ɖộ Camellia assamica vào Indonesia. Quốc gia này sản xuất Trà đen và Trà xanh. Họ gọi Trà là Teh tubruk. Indonesia sản xuất 123 triệu kí-lô Trà mỗi năm. Các hiệu Trà nổi tiếng ở Indonesia là Trà Yogi, Woodcha, Tea Forte, Bigelow Peak v.v..
 
Người Indonesia đãi nữ khách bằng Trà và đãi khách nam bằng cà phê.
 
Việt Nam là quốc gia thứ 7 trên thế giới về việc sản xuất Trà với 117 triệu kí-lô hàng năm. Yên Bái là nơi sản xuất nhiều Trà ở Việt Nam hiện nay.
 
Các tỉnh miền Trung Du và Thượng Du Bắc Bộ có nhiều Trà rừng. Trà được trồng thành đồn điền vào năm 1880 dưới thời Pháp thuộc. Trà được trồng ở Phú Thọ, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Sơn La, Lai Châu, Ɖiện Biên Phủ, Ɖức Phổ (Quảng Ngãi). Ɖến đầu thế kỷ XX xuất hiện các đồn điền Trà do người Pháp làm chủ trên cao nguyên Lang Biang (Lâm Viên), Blao (Bảo Lộc).
Trà ở Việt Nam là Trà:
  • Camellia sinensis (Trung Hoa).
  • Camellia assamica (Ấn Ɖộ - Assam).
  • Camellia taliensis (Ɖại Lý – Yunnan/Vân Nam).
Trà Thái Nguyên là Trà xanh Long Tỉnh (Giếng Rồng). Trà Mộc Châu, Sơn La là Trà Ô Long (Rồng Ɖen). Trà nổi tiếng của Việt Nam là Trà Tân Cương (Thái Nguyên), Trà Ô Long, Trà Bát Tiên, Trà Thiết Quan Âm, Trà Sen Tây Hồ, Trà Ɖen v.v..
 
tratamsu 9
Ɖồi Chè Tân Cương (Thái Nguyên). (Ảnh internet)
 
Nhật Bản sản xuất lối 89 triệu kí-lô Trà hàng năm. Các vùng sản xuất nhiều Trà là Kagoshima, Shizuoka và Kyoto. Các tu sĩ Phật Giáo Nhật chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa đời Ɖường (Tang dynasty) đã du nhập Trà từ Trung Hoa vào quần đảo Nhật. Hai tu sĩ có công du nhập Trà vào Nhật Bản là Saicho tức Dengyo Daishi (767 - 822) và Kukai tức Kobo Daishi (774 - 835).
 
Năm 805 sư Kukai mang hột giống Trà tiến cung (3). Việc trồng Trà ở Nhật bắt đầu vào thế kỷ IX sau sự kiện này. Nhật nổi tiếng với Trà xanh Sencha và trà xanh Matcha. Người Nhật gọi Trà xanh là Ocha. Cây Trà đầu tiên được trồng trên cao nguyên Yamato.
 
Nhật hoàng Saga, ngư trị từ năm 809 đến 823, ra lịnh trồng Trà. Ngài là vị lãnh đạo Nhật đầu tiên thưởng thức hương vị Trà do Nhật trồng và biến chế. Các hiệp sĩ Nhật (Samurai) ngày xưa uống Trà Matcha.
 
Các hiệu Trà nổi tiếng của Nhật gồm có: Trà Oi Ocha, Trà Matcha, Trà Kabusecha, Trà Tencha, Trà Sencha, Trà Ippodo, Trà Genmaicha, Trà Asahi, Trà Goko, Trà Uji-hikari, Trà Uji-minori v.v..
 
Người Nhật uống Trà nhiều hơn uống Cà Phê. Ban đêm họ uống Trà Hōjicha.
 
Triều Tiên là một bán đảo ở Ɖông Bắc Á. Khí hậu ở miền Bắc và Trung của bán đảo rất lạnh vào mùa thu và mùa đông. Trà ở Triều Tiên gắn liền với các Phật tử. Vào thế kỷ VII và VIII sau Tây Lịch Triều Tiên nhập cảng Trà của Trung Hoa để làm thuốc trị bịnh. Các sư tăng Triều Tiên du nhập hột giống Trà từ Trung Hoa vào Triều Tiên vào thế kỷ IX. Cây Trà đầu tiên của Triều Tiên được trồng gần ngôi chùa Sangye trên núi Jiri.
 
Các vùng trồng Trà quan trọng trên bán đảo Triều Tiên nằm ở phía Nam của bán đảo này như đảo Jeju (Tế Châu), tỉnh Jeolla v.v..
 
Ɖại Hàn (Nam Triều Tiên) sản xuất 100 triệu kí-lô Trà hàng năm. Các hiệu Trà nổi tiếng của Ɖại Hàn là Trà Osulloc, Trà Areumdre, Trà Sangue, Trà Saint Goût du Pain (Holy Taste of Bread).
 
Người Ɖại Hàn thích uống Trà xanh mà họ gọi là nokcha và tin rằng uống Trà là thanh lọc cơ thể và cải thiện bộ tiêu hóa.
 
***
So với Cà Phê và Thuốc Lá, Trà có tuổi cao hơn. Trà phát triển ở các nước Nam Á, Ɖông Bắc Á, Ɖông Nam Á hơn là ở Âu Châu, Mỹ Châu. Trà có vị trí quan trọng trong đời sống của người Trung Hoa, Ấn Ɖộ, Việt Nam, Triều Tiên và Nhật Bản cũng như trong lãnh vực kinh tế, văn chương, thi phú, ý tế trị liệu. Ngày nay người Âu-Mỹ cũng có thú vui thưởng thức Trà Lipton.
 
tratamsu 10
Những dụng cụ thường được sử dụng trong nghệ thuật pha, uống trà ở Việt Nam: Ấm Trà, chén (ly) Trà, khay và hũ đựng Trà, bộ dụng cụ gắp và các Trà cụ khác như bộ lọc Trà, ấm nấu nước v.v. (Ảnh: vitas.org.vn)
 
Về thành phần hóa học, Trà có:
  • Catechin C15H14O6
  • Caffeine C8H10N4O2
  • Theaflavine C29H24O12
  • Gallic acid C7H6O5
  • Chlorogenic acid C16H18O9
  • Ellagic acid C14H6O8
  • Tannic acid C76H52O46
  • Theophylline C7H8N4O2
  • Sinh tố A, B, C
Trà nhuận tiểu, gây xuất mồ hôi, trợ tiêu hóa (trà + gừng), trị kiết lỵ, tiêu chảy, hưng phấn thần kinh. Chất Theophylline C7H8N4O2 kháng viêm, kích thích thần kinh trung khu, bộ hô hấp.
 
Uống nhiều Trà đậm gây mất ngủ, tim đập mạnh.
 
Ɖồn điền Trà ở Việt Nam do người Pháp thành lập vào thế kỷ XIX và những thập niên của đầu thế kỷ XX. Người Việt Nam có thú uống nước Trà (chè) lâu đời như người Trung Hoa. Từ lâu người Việt Nam có thuật ướp Trà Sen, Trà Ngâu (4), Trà Lài.
 
Hoa Trà được gọi là Trà Mi hay Ɖỗ Mi. Trong Cung Oán Ngâm Khúc có câu:
 
Cái đêm hôm ấy đêm gì?
Bống dương lồng bóng trà mi chập chùng.
 
Trong bài thơ Trăng Sáng Vườn Chè của nhà thơ Nguyễn Bính có câu:
 
Sáng trăng sáng cả vườn chè
Một gian nhà nhỏ đi về có nhau.
Vì tằm tôi phải chạy dâu
Vì chồng tôi phải qua cầu đắng cay.
 
Văn chương bình dân Việt Nam có câu:
 
Chẳng chè, chẳng rượu sao say?
Chẳng thương, chẳng nhớ sao hay đi tìm?
&
Chè thang *, cháo đậu bưng ra
Chàng xơi một chén kẻo mà công lênh
* Chè thang: Chè (Trà) nóng.
&
Khi hương sớm lúc chè trưa
(Nguyễn Du)
 
Trong ngôn ngữ Việt Nam có nhiều cụm từ có chữ Trà như: Chè (Trà) chén say sưa; Trà dư tửu hậu; Trà Tiên, rượu Thánh v.v..
 
Trong Ɖông Y có vị thuốc Trà minh (lá và đọt Trà non).
 
Bắc Ninh nổi tiếng với các vườn Trà trong quá khứ lịch sử. Ɖó là sinh quán của các Mẫu Nghi thiên hạ thời vua, chúa phong kiến như:
 
- Ỷ Lan Thái Phi (1044 - 1117) thời vua Lý Thánh Tôn.
 
- Bà Chúa Chè Ɖặng Thị Huệ thời Chúa Trịnh Sâm (1739 - 1782, Chúa: 1767 - 1782).
 
- Nguyễn Thị Kim (? - 1804), hoàng phi của vua Lê Chiêu Thống, vị vua cuối cùng của nhà Lê Trung Hưng v.v..
 
tratamsu 11
Trà xanh của trường phái Trà đạo Nhật Urasenke (Ảnh inbternet)
 
Nhật Bản biến thuật uống Trà thành Trà Ɖạo (Chanoyu). Trà phát triển đồng thời với sự phát triển của Thiền (Zen) vào cuối thế kỷ XII, đồng thời với sự phát triển Thiền ở nước ta dưới triều Lý. Myoan Eisai (1141 - 1215) là một nhà sư Phật Giáo Nhật đã đưa hột giống Trà Trung Hoa vào Nhật Bản trong thời đại Kamakura (1192 - 1333). Thuật uống Trà phát triển trong các Phật tử. Nó trở thành Trà Ɖạo vào thế kỳ XVI với chưởng môn Senno Rikyu (1522 - 1591) với những nghi thức và triết lý tóm gọn trong bốn chữ WA, KEI, SEI, JAKU, nghĩa là:
 
Hòa: hài hòa (WA).
Kính: tôn kính (KEI).
Thanh: thanh khiết (SEI).
Tịnh: thanh tịnh, yên tịnh (JAKU).
 
Asacha nomu
So shizuka nari
Kiku no hana
 
Uống Trà ban mai
Sư ông tĩnh lặng
Cúc hoa (5) chớm nở (6).
 
Người được xem là Thánh Trà (Sage of Tea) là Ngài Lu Yu (Lục Vũ, 733 - 804). Ông chào đời ở Tianmen (Thiên Môn), Hubei (Hồ Bắc). Ông là tác giả của Trà Kinh (Classic of Tea) gồm ba quyển. Ɖó là tác phẩm đầu tiên của nhân loại về Trà (cách trồng Trà; chăm sóc Trà; hái lá Trà; phơi, sấy, chế biến Trà; cách pha Trà v.v.).
 
tratamsu 12
Nghệ thuật pha Trà trong trà đạo Trung quốc “Hòa tĩnh di chân” (Ảnh internet)
 
Những tác phẩm liên quan đến Trà đại cương có:
  • La Dame aux Caméllias/The Lady With Camellias – Trà Hoa Nữ) của nhà văn Pháp Alexandre Dumas Fils (1824 - 1895). Ông là con của nhà văn Alexandre Dumas (1802 - 1870), tác giả của Les Trois Mousquetaires (Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ).
  • Tea Time for the Firefly của Shona Patel.
  • The Tea House Fire của Ellis Avery.
  • For All The Tea in China của Sarah Rose.
  • The Tea Girl of Hummingbird Lane của Lisa See.
Người Tây Phương không uống Trà Quạu (7) như người Ɖông Phương nhưng họ sáng tác hàng trăm bài hát về Trà như: Tea for Two, Tea Song, Cup of Tea, Tea for One, Cup of Tea in Bed v.v..
 
***
Ɖể được loài người trân quí trọng vọng, dòng họ Trà chúng tôi phải trải qua nhiều thử thách đắng cay lẫn kinh hoàng. Vĩnh viễn rời khỏi cây mẹ, chúng tôi bị nhốt trong bao, đem phơi nắng rồi bị sấy khô bằng lửa trước khi được ướp với hoa sen, hoa cúc, hoa ngâu, hoa lài. Thế mới biết không có sự thành công to lớn nào mà không trải qua gian lao cam khổ, đôi khi đắng cay, nhục nhã.
 
Chuyện về Trà chấm dứt ở đây. Thay mặt gia đình Theaceae kính chúc vạn vật trên vũ trụ được mưa thuận gió hòa và luôn luôn được nhật nguyệt soi sáng.
 
Trưởng Lão Trà Rừng Việt Nam Eurya montana, gia đình Theaceae.
 
Phạm Ɖình Lân, F.A.B.I.
____________
Chú thích:
 
(1) Camellia do tên của một giáo sĩ dòng Tên (Jesuits) Tiệp Khắc Georg Kamel (1661 - 1706), giảng đạo và nghiên cứu thảo mộc trên quần đảo Phi Luật Tân.
 
(2): Có nhiều truyền thuyết khác nhau về Trà Ɖại Hồng Bào. Trên núi Wuji (Vũ Di Sơn) có ba cây Trà cổ thụ (có nơi ghi 4 cây). Một hôm có một sĩ tử đi ngang qua vùng này bỗng bị bịnh nặng. Một tu sĩ Phật Giáo lên núi hái lá Trà nấu nước cho sĩ tử uống. Uống xong, sĩ tử tự phục hồi sức khỏe bình thường. Sau này sĩ tử đậu trạng nguyên. Ông đến Vũ Di Sơn để cám ơn nhà sư và cây Trà đã cứu mạng ông. Ông hái một bao lá Trà để tiến cung. Gặp lúc hoàng hậu (có tài liệu cho là mẹ vị vua nào đó dưới triều Minh, 1360 - 1644). Có tài liệu cho rằng chuyện xảy ra dưới triều Thanh (1644 - 1912), người ta lấy lá Trà nấu nước cho hoàng hậu uống thay thuốc. Lạ thay! Bịnh của hoàng hậu được khắc phục nhanh chóng. Vua vui mừng sai người mang ba chiếc áo đỏ (hồng bào) của vua đến Vũ Di Sơn để mặc vào ba cây Trà cổ thụ như một sự đền ơn ba cây Trà đã cứu sống hoàng hậu. Từ đó có nhiều sự tích khác nhau về Trà Ɖại Hồng Bào nên khó đảm bảo truyền thuyết ghi trên đúng với sự thật. Có nơi ghi 3 cây Trà, có nơi ghi 4 cây Trà mặc đại hồng bào do vua ban. Sự chính xác của truyền thuyết không quá 20% sự thật.
 
(3): Thời gian này tương ứng với thời đại Heian (794 - 1185) ở Nhật và nhà Ɖường (Tang dynasty, 618 - 907) ở Trung Hoa.
 
(4): Tên khoa học của cây ngâu là Aglaia odorata, gia đình Meliaceae. Người Anh gọi cây ngâu là Chinese rice-flower, Mã Lai: Chulan, Việt Nam: ngâu, ngũ tử lan. Hoa ngâu rất thơm. Hoa sen, hoa ngâu, hoa lài có hương thơm đặc biệt được dùng để ướp Trà.
 
(5): Hoa cúc là biểu tượng của hoàng gia Nhật Bản.
 
(6): Phỏng dịch qua một bản dịch tiếng Anh:
 
Drinking morning tea
The monk is peaceful
The chrysanthemum blooms.
 
(7): Uống Trà Quạu (UTQ) là cụm từ thường dùng trong chiến khu trong hai cuộc chiến vào thế kỷ XX, đặc biệt là trong cuộc chiến tranh lần thứ hai. Thú vui của người cầm súng sống xa nhà là uống Trà đậm với chút đường tán cho có vị ngọt.
 

Tìm các bài BIÊN KHẢO khác theo vần ABC . . .