User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
Từ Dòng Nước Mằ Ra
 
Tôi lại bắt đầu từ Quận 8. Không phải vì tôi không biết còn nơi nào khác để bắt đầu, mà bởi với tôi, vùng đất chằng chịt kênh rạch này giống như một tấm gương soi rất thật. Bởi nhìn vào đó, tôi thấy một Sài Gòn sâu hơn, gần hơn và đúng với căn cốt của nó, chứ không chỉ là hình ảnh phố xá đông đúc, nhà cao cửa rộng mà người ta vẫn thường nhắc đến.
 
Kênh rạch ở đây đâu chỉ chuyên chở ghe xuồng hay hàng hóa. Nó còn lặng lẽ chuyên chở cả tính cách của những con người sống dọc hai bên bờ. Điều ấy mới là điều tôi muốn nói tới, chứ không phải những câu chuyện du lịch quen thuộc mà ai cũng có thể kể.
 
Người Sài Gòn lớn lên từ những chuyến xuôi ngược trên sông nước, từ những mùa nước lớn nước ròng, từ một vùng đất không có lũy tre làng cố định mà thay vào đó là bến bãi, sạp chợ và ghe thuyền. Sống giữa dòng chảy ấy, ai cũng phải tự chống chọi với bất trắc, tự quyết định lấy cuộc đời mình, bởi chẳng thể trông chờ vào ai, cũng không thể nương dựa vào đình làng hay lũy tre như ở nhiều vùng đất khác. Bởi vậy mà người Sài Gòn thường mang dáng dấp của những người đi mở đất, phóng túng một chút, bất cần và hoang dã một chút, nhưng nghĩa khí thì nhiều đến mức chẳng cần đem ra để nói.
 
Họ không quen sống trong những khuôn phép quá chật hẹp, mà chọn thuận theo dòng chảy của thiên nhiên như con cá xuôi dòng sông, không cưỡng ép, không gò mình, cứ linh hoạt mà bước tới. Bởi vậy nên tính cách của họ cũng giống như nước, lúc nào cũng đầy sức sống, bộc trực, hào sảng, dễ kết thân nhưng cũng sẵn sàng đối diện khi điều đó là cần thiết.
 
Nếu phải chọn bốn chữ để nói về con người xứ này, tôi sẽ chọn: phóng khoáng, nghĩa khí, thực tế và tiếp nhận. Đó không phải những khái niệm lớn lao hay trừu tượng, mà là những phẩm chất được chưng cất từ đất, từ nước, từ bao thế hệ con người đã sống, đã mưu sinh và cũng đã gửi lại cuộc đời mình trên mảnh đất này. Tôi tin rằng tính cách của một vùng đất chưa bao giờ được viết bằng sách vở trước tiên, mà luôn được viết bằng cách con người ở đó sống với nhau mỗi ngày.
 
tauloire
Tàu Loire trên sông Sài Gòn năm 1895 – Ảnh tư liệu, via Báo Tuổi Trẻ
 
Địa Lý Sinh Tánh Tình
 
Muốn hiểu người Sài Gòn, theo tôi phải bắt đầu từ chính mảnh đất đã sinh ra họ. Đất đai định hình con người, hun đúc khí chất và bồi đắp tính cách. Điều ấy với tôi không phải một học thuyết, mà là điều được góp nhặt từ nhiều năm đi, nhiều năm sống và lặng lẽ quan sát.
 
Miền Nam, từ đồng bằng sông Cửu Long lên tới Sài Gòn, là một vùng trời nước mênh mang. Chín cửa sông mở ra biển lớn, trăm con rạch xuôi ngược đan xen, phù sa năm này nối năm khác âm thầm bồi đắp, cuốn theo dòng nước biết bao phận người. Không có núi cao chắn lối, cũng chẳng có lũy tre khép kín, chỉ có đất, có nước và một khoảng trời rộng đến mức nhìn mãi vẫn thấy còn xa.
 
Nếu làng quê miền Bắc gắn với lũy tre xanh và những quy ước của đình làng đã bền chặt qua bao đời, miền Trung quen đối diện với những dãy núi và bờ đá cứng cỏi trước sóng gió, thì miền Nam lại mở ra bằng nước với trời. Sống trên vùng đất ấy, con người khó mà giữ mãi những khuôn mẫu cũ. Họ buộc phải linh hoạt, cởi mở, phải biết chèo ghe, biết bơi, biết xoay trở giữa mùa hạn cháy đất và mùa nước ngập đồng. Thiên nhiên nơi đây chưa bao giờ ưu ái những người chần chừ.
 
Đất rộng, sông dài, trời cao bao nhiêu thì lòng người dường như cũng mở ra bấy nhiêu. Người miền Nam ít câu nệ, mở miệng là cười sảng khoái, nghĩ gì nói nấy, hiếm khi quanh co hay rào đón quá nhiều. Giữa một không gian vốn đã quá bao la, chẳng ai muốn tự thu mình trong những khuôn phép chật hẹp làm gì. Vì sống giữa thiên nhiên quá rộng lòng nên họ học được cách rộng lòng với nhau. Một căn chòi lá dựng tạm bên sông vẫn có thể gọi là nhà nếu đủ chỗ ngả lưng. Một bữa cơm với con cá nướng, tô canh rau tập tàng chấm nước mắm vẫn đủ đượm nghĩa tình. Sự giản dị ấy không làm con người nghèo đi, mà trái lại khiến họ biết sẻ chia nhiều hơn, biết quý người hơn quý của.
 
Tôi vẫn thường nghĩ, người ta hay xem địa lý là thứ bất động và cứng nhắc. Nhưng tôi thì tin ngược lại. Địa lý có lẽ là thứ mềm dẻo nhất. Nó chỉ lặng lẽ đi cùng con người qua từng thế hệ, rồi đến một ngày, tính cách của cả một vùng đất đã nằm sẵn trong mỗi con người mà chính họ cũng không hay biết.
 
rachbennghe
Rạch Bến Nghé khi đã được đào nối với kênh Tàu Hủ – Ảnh tư liệu, via Báo Tuổi Trẻ
 
Lời Nói – Tiếng Ru
 
Nếu có thứ gì thể hiện tính cách người Sài Gòn rõ nhất, thì đó chính là câu nói. Cái cách ngôn ngữ chảy ra từ miệng họ tự nhiên như hơi thở.
 
Người Sài Gòn hay đệm “dạ” vào đầu lời đáp. Một tiếng “dạ” thôi, mà chứa đủ cả tôn trọng, lễ độ lẫn sự thân tình, không lạnh lùng, không khách sáo, mà nghe vừa gần vừa ấm. “Nhà đang ăn cơm hả?” – “Dạ!” Cái “dạ” đó không phải khuôn phép học từ sách, mà là phản xạ tự nhiên của người quen đối đãi nhau bằng tình cảm thật.
 
Họ dùng chữ “ghê” để tán dương: “Con nhỏ đó đẹp ghê!”, “Quán này bán ngon ghê!”, một chữ thôi mà đủ sức thay cả một câu khen dài dòng. Khi muốn chê ai chậm chạp thì bảo: “Nó cứ cà rề cà rề, phát bực!”, cái từ “cà rề” nghe đã thấy sự lề mề trong đó, không cần giải thích thêm.
 
Vào quán cà phê, người Sài Gòn nói gọn: “Ê, cho tui ly đen đá!”, “cho” ở đây nghĩa là “bán”, nhưng cũng chính “cho” này, khi bạn kẹt tiền, họ bảo: “Thôi cho luôn đó, tính toán chi!” Cùng một chữ, hai nghĩa hoàn toàn khác, nhưng đều xuất phát từ cùng một thứ: sự phóng khoáng không câu nệ.
 
Họ xưng “tao – mày” với bạn bè, nhưng gọi người lớn bằng “con” thay vì “cháu”. Bởi họ xem nhau như bà con thân thuộc, không cần rào cản xa cách. “Bà đó” gọn thành “bả”, “cô đó” thành “cổ”, “ở trong đó” thành “ở trỏng”, “hôm đó” thành “hổm”, lược âm như vậy không phải cẩu thả, mà là cái sự quen thân đến mức không cần nói đủ chữ cũng hiểu nhau.
 
Người thân thì gọi theo số thứ tự: cậu Hai, dì Sáu, chị Hai Hòa, chị Tư Phụng, một cách sắp xếp tự nhiên, chất phác, không cần giải thích mà ai nghe cũng định vị được ngay người đó ở đâu trong gia đình.
 
Giọng nói Sài Gòn là giọng hòa trộn của nhiều vùng, nền tảng là chất miền Nam phóng khoáng, lại có nét dung hợp nhẹ nhàng. Họ phát âm “nhạc” và “nhạt” như một, “ít” và “ích” lẫn vào nhau, dấu hỏi và dấu ngã không phân biệt rạch ròi. Nghe có vẻ “sai”, nhưng chính cái sai đó lại làm nên một chất giọng riêng, không trộn lẫn vào đâu được.
 
Và rồi tôi nhớ đến má tôi, nhớ cái giọng ru “ầu ơ ví dầu” của bà khi tôi còn nhỏ:
 
“Ầu ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh,
Cầu tre lắc lẻo gập ghình khó đi…
Khó đi mẹ dắt con đi,
Con đi trường học, mẹ đi trường đời.”
 
Tôi từng nghĩ đó là ca dao xưa, nhưng hóa ra câu “Khó đi mẹ dắt con đi” xuất phát từ một vở cải lương của Hoa Phượng – Ngọc Điệp, khoảng năm 1965. Mới thôi, chưa đầy một đời người. Nhưng nó đã trở thành tiếng ru của bao bà mẹ Sài Gòn, truyền từ miệng người này sang miệng người kia, cho đến khi không ai còn nhớ nó từ đâu ra, nhưng biết là nó thuộc về mình, thuộc về vùng đất này.
 
Ca dao nào mà chẳng khởi sinh từ một ai đó rồi truyền miệng mà thành tài sản chung. Giống như câu: “Má ơi đừng gả con xa / Chim kêu vượn hú biết nhà má đâu.” Hay: “Đèn Sài Gòn ngọn xanh ngọn đỏ / Đèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn lu / Anh về anh học chữ nhu / Ba thu em cũng đợi, ngàn năm em cũng chờ.” Những câu ấy, người Sài Gòn cất lên không phải để biểu diễn, mà để gửi gắm cái phần sâu kín nhất của lòng mình, thứ mà nói thẳng ra thì ngại, mà hát lên thì tự nhiên như thở.  
 
Nghĩa Khí Giữa Chợ Đời
 
Tôi nhớ những lần đi đưa tang ở Quận 8. Đám tang đi qua trạm gác, người lính liền bồng súng chào. Không quen biết, chẳng bà con, chỉ là một người vừa qua đời đang được đưa về lòng đất, mà vẫn được chào tiễn bằng thế đứng nghiêm trang. Một cử chỉ nhỏ thôi, nhưng chứa đựng thứ đạo lý mà không cần ai giải thích, nghĩa tử là nghĩa tận, không ai dạy, nhưng ai cũng biết.
 
Nhớ bữa đám tang dì Sáu xong, dượng Sáu dặn: “Nhớ bỏ hết đồ tang lên xe rác, đừng để ai lượm cái nải chuối để trên bụng dì.” Nghe có chút mê tín, nhưng thực ra đó không chỉ là kiêng kỵ, đó là cách người ta chu toàn với đời, không để sót lại những gì thuộc về người khuất, không để ai vô tình vướng vào điều u uẩn. Một sự thấu đáo trong từng việc nhỏ, mà phản ánh cả một cách sống cẩn thận với người xung quanh.
 
Người Sài Gòn trọng nghĩa, khinh tài. Tiền bạc với họ có cũng được, không có cũng không sao, quan trọng là cái tình. Ở chợ người ta có thể cho nhau thiếu nợ, không giấy tờ, không cam kết, cứ tin nhau mà sống. Giữa thành phố xô bồ, vẫn có người sẵn lòng giúp kẻ dưng chỉ vì một câu “thấy tội nghiệp quá”, không cần lý do dài hơn, không cần biết người đó là ai.
 
Một khi đã coi ai đó là bạn, họ sống chết có nhau. Sẵn sàng xòe hết tiền trong túi cho bạn vay, rồi về nhà ăn cơm với nước mắm mà không tiếc. Với họ, tiền chỉ là phương tiện, nghĩa khí mới là thứ đáng giữ. Thấy chuyện bất bình giữa đường, dù không liên quan cũng có thể ra tay, không phải vì anh hùng rơm, mà vì không chịu nổi sự bất công ngay trước mắt mình.
 
Cái nghĩa khí này, tôi nghĩ, cũng là lý do vì sao Bình Xuyên có thể đứng vững một thời, vì sao những hội kín của người Hoa như Thiên Địa Hội lại tìm được chỗ dựa trên đất Sài Gòn. Người Sài Gòn không trọng danh vọng, không sợ quyền thế, nhưng họ trọng cái nghĩa và trọng chữ tín. Hai thứ mà ai giữ được thì đứng được ở đây, ai không giữ được thì sớm muộn gì cũng phải ra đi.
 
Tôi hay nghĩ đến cái vòng tròn đó, đất sông nước sinh ra con người không có gì để bám víu ngoài nhau, mà vì không có gì để bám ngoài nhau thì người ta mới học cách trọng nhau, giúp nhau, đùm bọc nhau. Nghĩa khí không phải đức hạnh cao siêu. Nó là kết quả tự nhiên của việc sống giữa thiên nhiên không có lũy tre và đình làng che chắn.
 
Phóng Khoáng – Sông Nước Không Rào Chắn
 
Miền Bắc có lũy tre làng, miền Trung có dãy Trường Sơn, còn miền Nam có gì? Không có gì, ngoài sông nước và những cánh đồng trải dài tít tắp. Đất không có biên giới tự nhiên, trời không có giới hạn nhìn thấy được, vậy thì làm sao lòng người lại có thể hẹp hòi, câu nệ?
 
Người miền Nam không sống khép kín kiểu “trong nhà ba đời, ngoài sân tam đại đồng đường” như miền Bắc, cũng không gò mình trong những lễ nghi chặt chẽ như miền Trung. Họ mở cửa đón nhận kẻ lạ, sẵn sàng mời khách đường xa bữa cơm, miễn là người đến không có tâm gian xảo. Nhà không có hàng rào cao cổng kín, chỉ có hàng bông bụi chuối, con nít chạy từ sân này qua sân kia tự nhiên như anh em ruột thịt.
 
Người Sài Gòn có một kiểu rộng rãi đặc biệt. Họ không quan trọng quá khứ của người khác, chỉ nhìn vào cách sống ở hiện tại. Dân giang hồ hoàn lương, người thất thế lỡ vận, chỉ cần biết sống đàng hoàng thì ai cũng có thể được chấp nhận. Người từ Bắc vô Nam, từ Trung vào Sài Gòn, không cần mang theo gia phả, không cần ai bảo lãnh, miễn làm ăn lương thiện thì đất này vẫn có chỗ dung thân.
 
Ở Sài Gòn, người ta quý nhau vì cái bụng, không phải vì gốc gác. Sống tốt, làm ăn đàng hoàng, thì ai cũng có thể đứng chung một mái hiên, chia nhau ly cà phê buổi sớm, tán chuyện nhân tình thế thái như đã quen nhau từ kiếp trước. Cái sự bình đẳng ngầm này không cần ai tuyên bố, nó là không khí của thành phố, ai vào đây thở một lúc là cảm được.
 
Thực Tế – “Không Có Thì Làm Cho Có”
 
Người miền Nam không có thói quen ngồi chờ sung rụng, cũng không thích lý luận suông hay giữ lấy khuôn phép cứng nhắc. Trong môi trường đầy biến động, họ phải tự lực cánh sinh, phải “liệu cơm gắp mắm”, phải ứng biến theo tình thế, bởi thiên nhiên ở đây không chờ ai cả, nước lên thì lên không báo trước.
 
Từ xưa đến nay, dân Sài Gòn nổi tiếng với kiểu “làm liền, nói gọn”. Vì vậy họ có thể biến vùng sình lầy thành chợ nổi, biến những con kinh thành phố thị, biến chốn hoang sơ thành trung tâm giao thương, không nhờ kế hoạch dài hơi mà nhờ cái phản xạ thực tế, thấy gì cần thì làm ngay. Nói chuyện với dân Sài Gòn chỉ cần thẳng thắn, gọn gàng, đi vào vấn đề chính, họ không thích những thứ rườm rà, vòng vo, mất thời gian.
 
Một cái chòi lá cắm trên đất hoang, nếu ở nơi khác có thể bị xem là vi phạm, nhưng ở Sài Gòn đó có thể là một quán cơm bình dân nuôi sống cả gia đình. Người ta không đợi có giấy phép mới làm ăn, mà cứ làm trước rồi tính tiếp, không phải vì bất chấp quy tắc, mà vì cuộc sống không đợi ai xin phép xong rồi mới bắt đầu.
Tiếp Nhận – Ai Đến Cũng Có Thể Là Dân Sài Gòn
 
Sài Gòn là vùng đất của dân tứ xứ, nên không có chỗ cho sự bảo thủ. Người Hoa, người Ấn, người Chăm, người Khmer, người Pháp, rồi người miền Bắc, miền Trung, ai đến đây cũng mang theo văn hóa riêng. Nhưng lạ một điều: đến đây rồi, ai cũng thành “dân Sài Gòn” một cách rất tự nhiên, không cần cố gắng.
 
Không ai ép ai phải bỏ đi văn hóa của mình. Người Hoa có thể mở tiệm thuốc Bắc, người Khmer có thể dựng chùa, người Ấn có thể bán cà ri dê. Tất cả cùng chung sống, cùng cười nói chan hòa, cùng buôn bán trong cái chất phóng khoáng của xứ này, mà chẳng ai cảm thấy mình lạc lõng hay bị thiệt thòi vì đến sau.
 
Tôi nghĩ đó là điều hiếm có nhất của Sài Gòn, nó không đồng hóa người ta, mà dung chứa người ta. Sự khác biệt không bị xem là mối đe dọa, mà là thứ làm cho thành phố phong phú hơn. Và cũng chính vì vậy mà Sài Gòn không bao giờ thực sự có một khuôn mặt cố định, nó luôn thay đổi theo từng lớp người đến, như dòng sông thay đổi màu nước theo mùa mà vẫn là cùng một dòng sông.
 
Sài Gòn – Một Thành Phố Không Có Bờ
 
phototranvietduc
Hình ảnh một Sài Gòn đời thường qua ống kính Trần Việt Đức.
 
Bốn tính cách tôi đã nhắc đến – phóng khoáng, nghĩa khí, thực tế và tiếp nhận, chưa bao giờ là những khái niệm được gán ghép một cách khiên cưỡng hay những lời ca ngợi viển vông. Chúng được kết tinh từ chính đời sống của con người nơi đây, từ những tháng năm mưu sinh trên sông nước, từ đất và nước của một vùng trời không có núi ngăn, cũng chẳng có lũy tre khép kín để giữ chân người ở lại.
 
Tôi vẫn thường hình dung người Sài Gòn như một dòng sông không có bờ cố định. Không phải họ không có cội nguồn, mà bởi cội nguồn của họ nằm ở sự dịch chuyển, ở khả năng thích nghi và đón nhận những điều mới mẻ mà thiên nhiên đã âm thầm bồi đắp suốt hàng trăm năm. Vì mang trong mình cái chất “không có bờ” ấy nên Sài Gòn trở thành nơi mà bất cứ ai đặt chân đến cũng đều có thể gọi là quê hương. Không ai buộc phải xin phép để được thuộc về thành phố này, cũng chẳng ai cần chứng minh mình từ đâu đến. Cứ sống chân thành, cư xử có nghĩa có tình thì sớm muộn gì Sài Gòn cũng mở lòng đón nhận.
 
Mỗi lần nghĩ đến điều đó, trong tôi lại hiện lên bóng dáng của má, hiện lên những câu hát ru nghe từ thuở còn thơ dại và những buổi chiều Quận 8, khi gió từ con kênh lùa vào mang theo mùi nước lẫn với mùi khói bếp quen thuộc. Những ký ức ấy tưởng nhỏ bé mà cứ lặng lẽ theo tôi suốt cuộc đời. Lúc đi rất xa, chỉ cần bất chợt gặp một mùi khói bếp hay nghe tiếng nước vỗ bờ, tôi lại thấy mình như đang trở về.
 
Thành phố này từ lâu đã sống trong chính con người tôi, len vào từng cách nói, từng cách nghĩ, từng cách nhìn người mà không vội hỏi họ quê quán ở đâu hay đến từ vùng đất nào. Đó cũng là điều đẹp nhất mà Sài Gòn âm thầm dạy cho những ai đã thật lòng yêu nó, trước khi phân biệt người với người, hãy học cách nhìn nhau bằng sự tử tế. Đất này đã sinh ra những con người như thế. Rồi chính những con người ấy lại tiếp tục nuôi dưỡng mảnh đất này bằng mồ hôi lao động, bằng nghĩa khí giữa chợ đời, bằng những tiếng cười hào sảng và cả những câu hát ru vẫn còn ngân mãi trong ký ức, dù người cất tiếng hát có khi đã đi rất xa.
 
Tôi bỗng nhận ra một điều tưởng chừng rất giản dị, những thành phố được dựng lên bởi bê tông, đường sá và những tòa nhà cao tầng, còn Sài Gòn, sau tất cả, được dựng nên trước hết từ lòng người. Và có lẽ cũng vì vậy mà thành phố này không bao giờ thật sự có một cái bờ để khép lại, Sài Gòn vẫn còn tiếp tục chảy.
 
Nguyễn Đông A
 
 

Tìm các bài BIÊN KHẢO khác theo vần ABC . . .