User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
Bùi Viện – Phố Ồn Mà Rỗng, Náo Nhiệt Mà Cô Đơn
 
tuybut58
Ngã tư Đề Thám và Bùi Viện trước năm 1975. Nguồn ảnh: FB The Momentous Life. 
 
Tôi từng ở trọ nhiều ngày liền trong hẻm Bùi Viện, cốt để coi cho biết khu này thực sự ra làm sao. Phải len vào mấy con hẻm nhỏ mới thấy hết cái xô bồ, phức tạp của nó. Hàng quán chen chúc, đủ thứ dịch vụ mọc lên như nấm. Sau này lại thấy cơ man nào là người Nga ở dài ngày, coi bộ nơi đây đã thành nhà thứ hai của họ tự hồi nào.
Bùi Viện bắt đầu từ Trần Hưng Đạo, gần ngã tư Trần Hưng Đạo – Nguyễn Thái Học, cắt qua Đề Thám, Đỗ Quang Đẩu rồi dừng ở Cống Quỳnh. Gộp với Đề Thám, Phạm Ngũ Lão và Đỗ Quang Đẩu, cả khu lâu nay vẫn được gọi là Phố Tây ba lô.
 
Trước năm 1949, đây chỉ là con đường mòn của làng Tân Hòa, sau mang tên Bảo Hộ Thoại. Đến năm 1955 mới đổi thành Bùi Viện và giữ tên ấy tới giờ. Thời Việt Nam Cộng Hòa, người dân quen gọi khu vực này là Ngã tư quốc tế. Năm 2017, thành phố nâng cấp Bùi Viện thành phố đi bộ thứ hai sau Nguyễn Huệ, làm lại vỉa hè, lòng đường, hệ thống chiếu sáng, thoát nước khá đàng hoàng.
 
tuybut59
Bùi Viện (1839 – 1878), nhà cải cách, nhà ngoại giao của Việt Nam cuối thế kỷ 19, làm quan dưới triều nhà Nguyễn. Nguồn ảnh: Nghiên cứu Lịch sử
 
Nhưng giữa một Bùi Viện sáng đèn và náo nhiệt như vậy, mấy ai để ý cái tên ấy vốn thuộc về một con người có thật. Bùi Viện sinh năm 1839, hiệu Mạnh Dực, đỗ Tú tài năm 1864 rồi Cử nhân năm 1868. Năm 1873, khi Pháp vừa bình định xong Nam Kỳ và đang gây sức ép với triều đình, ông được tiến cử sang Mỹ tìm đường bang giao. Từ cửa Thuận An, ông ra Bắc, qua Hương Cảng, kết giao với viên lãnh sự Mỹ, được viết thư giới thiệu rồi đi tiếp qua Yokohama sang Hoa Kỳ. Chờ gần một năm, ông mới gặp được Tổng thống Ulysses Grant.
 
Ngặt nỗi chuyến ấy ông đi mà không có quốc thư, thành thử chẳng thể đi tới một cam kết chính thức nào. Bùi Viện trở về. Vua Tự Đức trao thư, ông lại sang Mỹ lần nữa vào năm 1875, nhưng thời thế đã khác, quan hệ Pháp – Mỹ không còn như trước, Tổng thống Grant khước từ giúp đỡ. Về quê hay tin mẹ mất, ông chịu tang rồi lại được triệu vào kinh, lần lượt giữ chức Thương chánh tham biện, Chánh quản đốc nha Tuần hải. Chẳng bao lâu sau, ông đột ngột qua đời khi mới bốn mươi tuổi. Một đời bôn ba xứ lạ, mang theo khát vọng bang giao chưa thành, cuối cùng tên ông lại nằm trên một trong những con đường ồn ào nhất Sài Gòn. Nghĩ cũng lạ cho số phận.
Mảnh đất ấy bản thân nó cũng trải qua không ít thăng trầm. Người ta kể hồi xưa đây từng là địa bàn của hai tay giang hồ khét tiếng Wòng Cái và Ba Thế, cai quản một dải từ Lê Lai, Phạm Ngũ Lão tới tận chợ Dân Sinh. Khoảng năm 1950-1951, một trận cháy lớn thiêu rụi xóm ổ chuột. Khu phố mới được dựng lên trên nền đất cũ, rồi Bùi Viện cứ thế lớn dần, cuối cùng thành một tụ điểm gần như không ngủ.
 
Bây giờ bước vào phố Tây, cái nghịch lý hiện ra ngay trước mắt. Gọi là “phố Tây”, nhưng nhiều lúc nhìn quanh lại thấy người Sài Gòn ngồi nhậu la liệt, bàn ghế tràn xuống vỉa hè, người mời chào khách í ới chẳng khác gì chợ. Khách Tây phần nhiều chỉ lai rai chai bia, ly rượu; còn cái cảnh “dô dô”, hò hét, loa kẹo kéo hát ỏm tỏi lại thường thuộc về dân mình. Chưa kể nhạc từ các quán bar cứ thi nhau dội ra đường, quán này đè quán kia, đi ngang thôi cũng đã thấy nhức đầu.
 
Tất nhiên, mỗi người nhìn Bùi Viện một kiểu. Người bênh thì nói: “đây là quy luật thị trường, ai muốn yên tĩnh thì tìm chỗ khác… chỉ cần hạn chế bớt tiêu cực”. Người khác lại bảo: “đừng biến Bùi Viện thành phố ẩm thực nữa”, bởi Sài Gòn đâu thiếu chỗ ăn uống, vui chơi. Mấy chị Việt kiều lại thích chính cái không khí sôi động, cởi mở ấy và coi đây là “điểm sáng của kinh tế đêm”. Cũng có người viện dẫn Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan: “chiều tới là dành riêng cho ăn chơi mua sắm, còn ồn hơn Bùi Viện”.
 
Mấy lần bạn bè kéo tôi tới đây, tôi cũng mang theo kỳ vọng sẽ “chill”, sẽ tìm thấy một chút gì đặc sắc của Sài Gòn về đêm. Vậy mà lần nào cũng chỉ ngồi cà phê một chút rồi về sớm. Không phải Bùi Viện thiếu náo nhiệt. Cái đó thì thừa. Chỉ có điều sau lớp náo nhiệt ấy lại thấy trống. Nhạc quá lớn, không gian quá hỗn tạp, người ta dễ bức bối hơn là thư giãn. Bùi Viện có tiếng nhưng chưa ra hồn. Bên ngoài mang dáng vẻ “quốc tế”, bên trong lại nhạt nhòa: thiếu điểm nhấn nghệ thuật, thiếu bản sắc bản địa, cũng chẳng mấy góc đủ yên để ngồi trò chuyện, ngắm nghía rồi từ từ cảm nhận thành phố.
 
tuybut60
Hàng quán san sát nhau với tiếng loa, nhạc ồn ào. Photo: Báo Thanh Niên
 
Nhiều lúc tôi thấy nó giống một cuốn phim đông diễn viên mà thiếu kịch bản, cũng chẳng có ai đạo diễn. Quán bar san sát, nhạc đè lên nhạc thành một cuộc chiến âm thanh chẳng để làm gì. Khách tới vì tò mò, nhưng lúc rời đi lại không có mấy thứ khiến người ta muốn quay lại.
 
Không chỉ mình tôi có cảm giác đó. Một cô gái người Pháp kể ấn tượng đầu tiên của cô là sự đông đúc, hàng quán san sát. Cô ghé ăn một tô phở và rất thích hương vị. Nhưng dự định ở lại thâu đêm cuối cùng phải bỏ vì “tiếng nhạc, âm thanh ở các bar quá to và hỗn loạn”, đến mức chẳng còn không gian để trò chuyện. Điều đáng nói hơn là ngoài ẩm thực, cô “không thực sự cảm nhận rõ về bản sắc văn hóa Việt Nam ở đây”. Một du khách phương Tây khác thuê khách sạn ngay trong hẻm Bùi Viện cũng than: “Âm thanh là điều kinh khủng, tiếng nhạc như đấm vào tai”, chưa kể nhân viên các quán liên tục chặn đường mời mọc khiến anh khó chịu. Chuyện chèo kéo, móc túi lâu nay cũng là điều không ít du khách phàn nàn.
 
Vậy mà Bùi Viện đâu phải không có thứ đáng nhớ. Gánh đậu hũ gần bốn chục năm tuổi, từng lát đậu mềm mịn, thêm nước cốt dừa, trân châu bột báng và chút gừng thơm, ăn một lần dễ nhớ hoài. Gánh bánh căn hơn hai mươi năm ở số 107, sáng nào cũng đông người lui tới. Và người ta vẫn nhớ một Bùi Viện của những năm 2010 trở về trước: quán nhỏ, ghế nhựa, nhạc nhẹ, tường gạch đỏ, chai bia Sài Gòn, 333… Những thứ bình dị ấy mới là phần Bùi Viện đáng giữ nhất.
 
Bởi bar xập xình thì thành phố du lịch nào trên thế giới chẳng có. Nhiều nơi còn hiện đại và hoành tráng hơn đây gấp bội. Khách nước ngoài đâu cần lặn lội tới Việt Nam chỉ để tìm lại một thứ họ đã thấy ở Bangkok, Seoul, Tokyo hay ngay tại quê nhà. Thứ khiến người ta đi xa bao giờ cũng là cái chỉ nơi đó mới có.
 
Thành phố thật ra cũng không ngồi yên. Bùi Viện trở thành phố đi bộ năm 2017, được mở rộng giờ hoạt động từ năm 2018 và đến năm 2025 tiếp tục được đặt trong câu chuyện phát triển kinh tế đêm. Nhưng những thay đổi ấy phần nhiều vẫn nằm ở hạ tầng và cách tổ chức. Phần thiếu nhất, theo tôi, vẫn là “phần hồn”.
 
Giá như Bùi Viện được tổ chức thành những khoảng không gian rõ ràng hơn. Chỗ dành cho nghệ thuật đường phố, acoustic, múa lửa, nhạc dân gian, chỗ giới thiệu ẩm thực ba miền theo cách vừa dân dã vừa hợp với khách quốc tế, khu bar được cách âm tử tế, kiểm soát âm lượng; rồi vài khoảng cà phê đủ yên để ngồi trên cao nhìn xuống phố đêm. Khi đó, người trẻ thích sôi động hay khách trung niên, Tây ba lô hay gia đình Việt, mỗi người đều có thể tìm được một góc cho riêng mình. Không cần biến Bùi Viện thành một bảo tàng văn hóa. Chẳng cần làm nó bớt vui. Một phố đêm tất nhiên phải náo nhiệt. Nhưng náo nhiệt không đồng nghĩa với việc cứ mở nhạc thật lớn, bán thật nhiều bia rồi cho rằng như vậy là đủ. Nhiều thành phố châu Á đang dần tìm cách đi từ “gây ồn” sang “gây nhớ”. Bùi Viện nếu cứ dừng ở uống bia và nghe nhạc mạnh thì sớm muộn cũng cũ, bởi những thứ ấy ở đâu cũng có. Đáng tiếc hơn, Sài Gòn có thể để vuột mất một viên ngọc thô nằm ngay giữa khu vực du lịch nối với Nguyễn Huệ, Đồng Khởi.
 
Tôi chỉ mong một ngày nào đó trở lại Bùi Viện, không còn ngồi cà phê một lát rồi vội vã bỏ đi, mà có lý do để ở lại thật lâu. Bởi sự ồn ào của một con phố chưa phải điều đáng sợ nhất. Đáng sợ hơn là phía sau tất cả tiếng động ấy chẳng có gì để nhớ. Người ta có thể tha thứ cho một đêm nhạc quá lớn, nhưng khó lòng quay lại một nơi không để lại gì trong ký ức mình.
 
Ngã Sáu Phù Đổng – Nơi Tấc Đấc Tấc Vàng Và Những Cuộc Dời Đi Không Hẹn Trước
 
Nếu Bùi Viện là chỗ ồn ào để chơi, thì Ngã Sáu Phù Đổng là chỗ ồn ào để kiếm tiền, theo cái nghĩa khắc nghiệt nhất của nó.
 
tuybut61
Ngã 6 Phù Đổng trước năm 1975. Nguồn ảnh: internet.
 
Đây là vòng xoay nổi tiếng của Quận 1, nơi giao nhau của sáu con đường lớn: Cách Mạng Tháng Tám, Lý Tự Trọng, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thị Nghĩa, Nguyễn Trãi, Lê Thị Riêng. Giữa vòng xoay, tượng Thánh Gióng cưỡi ngựa cầm tre đứng đó từ năm 1966, do Binh chủng Thiết giáp Việt Nam Cộng Hòa dựng lên, xem ngài là “thánh tổ” của binh chủng mình. Một chi tiết đặc biệt, tượng vẫn tạc Thánh Gióng là một đứa trẻ, chớ không phải tráng sĩ cao lớn từ “vươn vai một cái” như trong truyền thuyết. Phải chăng người dựng tượng xưa muốn giữ lại cái khoảnh khắc thơ dại trước khi hóa thành phi thường, một cách nhắc khéo rằng anh hùng cũng từng là trẻ con.
 
Tôi nhìn những tấm ảnh cũ ghi lại cảnh ngã sáu này khi chưa có tượng, tôi thấy cảnh xe bồn chạy trên đường Phạm Hồng Thái, dãy nhà một lầu bên hông là Lê Lai Night Club, Hotel, Restaurant, xe bán bánh cuốn, bánh ướt, chả lụa, sâm bổ lượng bày la liệt. Rồi khi có tượng, sau lưng tượng là tiệm hủ tiếu Nam Vang nghe nói ngon có tiếng. Bên phải là địa ốc Mỹ Kim của một tay chơi có hạng thời đó. Bến xe Phan Văn Hùm ngắn ngủn, đụng tường rào ga xe lửa Sài Gòn là hết đường, xe đò chạy đủ tuyến Phú Mỹ Hưng, Hậu Nghĩa, Củ Chi, có cả xe lớn chạy tuốt lên Ban Mê Thuột. Bên đường Gia Long là mấy hãng len của người Bắc di cư năm 54, hiệu nào cũng lấy chữ “Cự” đứng đầu, rồi Kim Phụng mì gia, phòng ghi âm Sóng Nhạc của nhạc sĩ Lê Minh Bằng cũng nằm quanh quất đâu đó. Nhìn những tấm ảnh như dòng hồi ức này, tôi cứ hình dung ra một Sài Gòn nhỏ nhắn, ấm cúng, khác hẳn cái vẻ hào nhoáng, lạnh lùng của ngã sáu bây giờ.
 
tuybut62
Ngã sáu Phù Đồng, nhìn về đường Phạm Hồng Thái (trái) và Nguyễn Thị Nghĩa (phải), hình chụp năm 2011. Author: Ngô Trung, wiki commons
 
Ngày nay, ngã sáu Phù Đổng vẫn là điểm nóng giao thông, xe cộ đông đúc giờ cao điểm, đèn tín hiệu chia dòng kết hợp vòng xuyến để điều tiết, ùn ứ. Theo quy hoạch, tuyến metro Bến Thành – Tham Lương sau này sẽ chui ngầm bên dưới, qua Cách Mạng Tháng Tám và Phạm Hồng Thái. Nhưng điều làm ngã sáu này nổi tiếng hơn cả, là chuyện giá thuê mặt bằng. Nhà mặt tiền vòng xoay có giá lên tới mười lăm ngàn đô một tháng cho diện tích chỉ chừng trăm mét vuông. Từ khi Starbucks đặt cửa hàng đầu tiên ở góc Nguyễn Thị Nghĩa – Phạm Hồng Thái hơn chục năm trước, khu này bỗng dưng trở thành miếng đất vàng của giới F&B. Riêng cái mặt bằng 325 Lý Tự Trọng, gần một thập niên qua đã chứng kiến biết bao thương hiệu đến rồi đi. Phúc Long từng đông khách phải xếp hàng, thuê năm năm giá mười bốn ngàn đô, tới khi chủ nhà đòi lên hai mươi lăm ngàn thì đành trả mặt bằng. Năm 2019, Soya Garden – startup sữa đậu nành từng gọi vốn thành công trên Shark Tank, được E-Group hậu thuẫn cả trăm tỷ nhảy vào thế chỗ, nhưng kinh doanh không hiệu quả, cộng thêm chuyện Covid-19, giữa năm 2021 phải rút lui, kéo theo cả hệ thống ở Sài Gòn, quay về Hà Nội. Tháng 11 năm đó, PhinDeli lên thay, cũng chỉ trụ được chừng một năm rồi rút. Kế đến là MIA, chuyên bán vali, túi xách cũng kết thúc luôn cái chuỗi “đóng đô” của ngành F&B tại vị trí này. Lạ một điều, thương hiệu nào rời đi thì giá thuê chẳng những không giảm mà còn tăng. Từ 14, lên 25, 26 ngàn đô tức gần 700 triệu đồng mỗi tháng, đủ sức lọt vào top những mặt bằng đắt đỏ nhất Việt Nam.
 
Người ta thuê chỗ này đâu hẳn vì tính bài toán doanh thu đơn thuần, mà là đánh cược vào thương hiệu. Phúc Long từng thừa nhận chỗ đó không có chỗ đậu xe, giá thuê cao ngất, nhưng lúc mới làm F&B thì chọn nơi đây để quảng cáo cho thiên hạ biết mặt. Còn MIA, thừa nhận dù giá trên mét vuông không phải cao nhất khu, đối diện là Con Cưng Super Center còn mắc hơn nữa, vẫn phải tính toán kỹ doanh số bao nhiêu mới đủ hòa vốn, may mà chia đều cho cả hệ thống thì mỗi cửa hàng gánh cho một ít thì cũng không quá nặng. Gần đây nhất, mặt bằng này lại đổi chủ lần nữa, về tay Danny Green, một thương hiệu thực phẩm hữu cơ, khiến không ít người ngỡ ngàng vì nông sản vốn lời lãi mỏng manh, khó mà kham nổi giá thuê 700 trăm, 750 triệu một tháng. Thế mà họ vẫn thuê, tầng trệt thì bán rau, bí, hạt đậu, dưa lưới, gạo, nước dưa lưới đóng lon, bánh trung thu. Tầng một thì bán thức uống, để khách ngồi ngắm cả vòng xoay với Starbucks, Katinat, Con Cưng, cà phê Amazon, Satra Foods bủa vây xung quanh, một cái “view triệu đô” đúng nghĩa.
 
Nghĩ cho cùng, chuyện thương hiệu này vào, thương hiệu kia ra ở ngã sáu Phù Đổng, cũng giống như những cơn sóng vỗ vào cùng một bờ đá. Mỗi con sóng để lại chút gì đó rồi rút đi, còn bờ đá thì vẫn đứng đó, giá càng ngày càng cao, như một phép thử xem ai đủ sức trụ lại lâu nhất với Sài Gòn. Đó chính là cái giá của sự nổi tiếng, đứng giữa ngã sáu, ai cũng nhìn thấy mình, nhưng không phải ai cũng đủ sức đứng vững.
 
Trần Hưng Đạo – Mạch Máu Nối Hai Thành Phố Trong Lòng Một Thành Phố
 
Những chuyến về Việt Nam thỉnh thoảng tôi vẫn chọn khách sạn để ở trên đường Trần Hưng Đạo, để tiện bề về Quận 5 hay tiếp tục đi đâu xa. Nhưng nếu đi du lịch theo đoàn thì điểm đón thường ở trung tâm Quận 1 hay số 4 Duy Tân, vì sáng sớm xe lớn không được phép chạy vào con đường huyết mạch này.
 
Thời Pháp thuộc, đoạn đường qua Quận 1 mang tên đại lộ Galliéni, tới năm 1955 mới đổi thành Trần Hưng Đạo. Đường được đặt theo tên vị tướng tài ba nhà Trần, ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông, như một cách người đời  sau bày tỏ lòng biết ơn với bậc tiền nhân. Đường chạy từ công trường Quách Thị Trang trước chợ Bến Thành, song song kênh Bến Nghé, qua Nguyễn Văn Cừ, ranh giới Quận 1 và Quận 5 rồi men theo kênh Tàu Hủ, kết thúc ở đường Học Lạc, ngay trước nhà thờ Cha Tam. Dài chừng sáu cây số, nối liền những khu trung tâm sầm uất nhất của Sài Gòn.
 
Ngày xưa, đoạn từ An Bình tới nhà thờ Cha Tam vốn thuộc thành phố Chợ Lớn, gọi là rue des Marins, đường Thủy binh. Lúc đó giữa Sài Gòn và Chợ Lớn còn là vùng đầm lầy mênh mông, chỉ nối nhau bằng hai con đường nhỏ hẹp: route haute (nay là Nguyễn Trãi, vốn có từ thời Nguyễn) và route basse chạy dọc rạch Bến Nghé, (nay thuộc Võ Văn Kiệt). Đầu thế kỷ hai mươi, cả khu vực từ Nguyễn Thái Học trở ra Chợ Lớn còn là ruộng lúa mênh mông, chợ Bến Thành và đường Trần Hưng Đạo lúc đó còn chưa hình thành trong ý nghĩ của ai.
 
Năm 1904, thị trưởng Chợ Lớn từng đề xuất kéo dài đại lộ Bonard (nay là Lê Lợi) nối tới đường Thủy binh, nhưng bàn tới bàn lui mãi vẫn chưa xong. Phải đợi tới tháng 7 năm 1910, chính quyền mới thông qua dự án với kinh phí một triệu hai trăm năm chục ngàn piastre để cải tạo đầm lầy Boresse, xây ga xe lửa mới, mở đại lộ nối hai thành phố. Công trình cơ bản xong cuối năm 1912, và tới năm 1916, ngay khi chợ Bến Thành vừa khai trương, con đường chính thức mang tên đại lộ Gallieni. Mang tiếng là đại lộ, nhưng buổi đầu hai bên đường vẫn còn ruộng hoang, nhà lụp xụp không hàng lối, dân lao động chen chúc, đầu đường còn là nơi tụ tập của gái mãi dâm từ khắp châu Âu, châu Á đổ về làm ăn. Một khởi đầu chẳng mấy vẻ vang cho con đường. Tới năm 1928, đường mới được trải đá granit, tráng nhựa, rộng chừng hai mươi mét, hai bên trồng bốn hàng cây đãlên xanh tốt, lại có thêm tuyến xe điện chạy dọc theo. Ba năm sau, năm 1931, đại lộ Gallieni góp phần quyết định để chính quyền lập ra Khu Sài Gòn – Chợ Lớn, chính thức nối liền hai đô thị thành một khối.
 
tuybut63
Bản đồ Sài Gòn và Chợ Lớn năm 1923. Lúc này đại lộ Galliéni đã được mở nối liền hai thành phố. Author: Bibliothèque nationale de France, wiki commons
 
Năm 1955, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi Galliéni thành Trần Hưng Đạo, đường Thủy binh cũ thành Đồng Khánh. Sau năm 1975, hai con đường được nhập lại làm một, nhưng vì số nhà cũ vẫn giữ nguyên, người ta quen gọi đoạn Đồng Khánh xưa là “Trần Hưng Đạo B” để phân biệt với “Trần Hưng Đạo A”. Dọc con đường ngày trước còn ghi dấu bao công trình một thời như nhà hàng Văn Cảnh ở góc Calmette, rạp Đại Nam, rạp Nguyễn Văn Hảo, nhà thờ Tin Lành ở góc Đề Thám, phòng trà Tháp Ngà, khách sạn Metropole nay là Pullman năm sao, rạp cải lương Hưng Đạo sau đổi thành rạp Trần Hữu Trang, khách sạn Quốc tế, khách sạn Victoria… mỗi cái tên là một lớp trầm tích ký ức của người Sài Gòn xưa, chồng lên nhau như những nét mực đã nhòe nhưng chưa bao giờ phai hẳn.
 
tuybut64
Đường Trần Hưng Đạo trước 1975. Nguồn ảnh: FB Sài Gòn Xưa
 
Ngày nay, Trần Hưng Đạo vẫn là mạch máu chính nối Quận 1, Quận 5. Đường tấp nập trung tâm thương mại, cửa hàng điện máy, thời trang; quán ăn đủ vị từ Việt tới Hoa, Nhật, Hàn; phòng gym, yoga như California Fitness, phòng khám, nhà thuốc san sát; trường học từ tiểu học tới trung học, trung tâm ngoại ngữ, cả trường quốc tế, văn phòng bất động sản, ngân hàng lớn như Vietcombank, BIDV, ACB, rồi salon tóc, spa, tiệm nail, bãi giữ xe, trạm xăng Petrolimex… để phục vụ một đời sống đô thị hối hả từ sáng tới khuya. Nhưng cũng như bao con đường lớn khác của Sài Gòn, Trần Hưng Đạo mang trong mình đủ thứ phiền toái. Giờ cao điểm là kẹt xe nghiêm trọng, nhất là đoạn gần chợ Bến Thành hay giao lộ Nguyễn Văn Cừ. Mùa mưa thì ngập nướcở những đoạn trũng, cây xanh có khi gãy đổ khi gió lớn gây nguy hiểm cho người đi đường. Đường cũng đã được lắp camera AI để theo dõi giao thông, xử phạt nguội, cho hợp với cái nhịp hiện đại hóa của thành phố.
 
Nhiều người sống ở Sài Gòn mấy chục năm vẫn không rành Trần Hưng Đạo B bắt đầu từ đâu. Người lần đầu chạy từ Trần Hưng Đạo A qua B thì mười người hết chín người ngơ ngác không biết quẹo lối nào, người còn lại đành nhắm mắt chạy liều. Nghe vậy thấy vui thấy thương, đúng cái kiểu lộn xộn rất Sài Gòn mà chẳng ai nỡ giận lâu.
 
tuybut65
Đường Trần Hưng Đạo, hình chụp năm 2015. Author: trungydang, wiki commons
 
Ngồi gẫm lại mấy con đường, Bùi Viện ồn mà rỗng, Ngã Sáu Phù Đổng đắt đỏ mà vô thường, Trần Hưng Đạo dài rộng mà chở nặng cả trăm năm lịch sử, tôi mới thấy Sài Gòn nó lạ, nó là một thành phố không ngừng viết đè lên chính mình. Đường cũ mất đi, tên cũ đổi thành tên mới, thương hiệu này thay thương hiệu kia, nhưng cái nhịp sống hối hả, cái tình người chen lẫn trong ồn ào, cái ký ức âm thầm nằm dưới lớp bê tông nhựa đường, những thứ đó thì vẫn còn nguyên.
 
Nguyễn Đông A
 

Tìm các bài BIÊN KHẢO khác theo vần ABC . . .