Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
bepxua
 
Hầu như nhà ai dù ở Bắc, Trung, Nam cũng không thể thiếu gian bếp, nơi dùng chế biến thức ăn cho các bữa ăn hàng ngày.
 
Nhà ở quê theo kiểu xưa thì gian bếp đơn giản hơn thành thị. Chỉ cần ba hay sáu cục gạch thẻ kê cao theo ba chiều, hoặc cái kiềng ba chân (vật dụng này phải nhờ thợ rèn làm) là có cái bếp để dùng và họ dùng rơm rạ phơi khô để nấu nướng, luộc, chiên hay xào, thêm nữa bếp xưa có cửa sổ, cửa hậu rất thông thoáng.
 
Ở thành thị tùy theo gia đình giàu, nghèo thì gian bếp cũng khác nhau. Có gia đình chụm củi chẻ, có gia đình dùng than, hay dầu hôi ( dầu lửa) sang hơn nữa thì dùng bếp gaz, bếp điện…
 
Đặc biệt đa số người miền Nam gọi bếp là “ Ông Táo”. Bài viết không nhằm vào sự tích ”Ông Táo” vì đa số ai cũng rõ, tác giả chỉ bàn về chái bếp trong mỗi nhà.
 
Bếp nhà nào cũng luôn đủ ba lò. Các vật dụng đi kèm để nấu trong bếp thường là nồi, niêu, xoong, chảo, vĩ nướng (nếu xài than). Vật tiếp theo là cái sóng chén (người Bắc gọi là cái Chạn) để dành úp dĩa chén sau khi đã rửa sạch, kế đến vật không thể thiếu nữa là cái gạc-măng- giê (xuất xứ từ tiếng Pháp: garde manger) là tủ chứa thức ăn. Thời chưa có sự xuất hiện của tủ lạnh, tủ này rất tiện dụng và bếp nhà nào cũng có, đủ kích thước lớn nhỏ tùy theo gia đình. Thức ăn chế biến sẵn, trước hay sau khi dùng đều được cất kỹ vào cái tủ đóng kín bọc lưới kim loại, bốn chân có kê bốn chậu nước nhỏ để chống kiến bò vô. Cũng có khi thức ăn còn dư, cái lồng bàn cũng là một vật hữu dụng.
 
Riêng nhà nào dùng bếp rơm rạ hay than củi để tránh cho việc nồi xoong bị ám khói, chùi rửa cực nhọc, trước khi đặt chúng lên bếp nấu họ thường kê một cái chảo bằng kim loại nhẹ, không đáy, kích thước lớn hơn nồi chảo đang nấu cho lửa bên dưới khỏi liếm lên và thường khi bắc nồi chảo ra khỏi bếp sau khi thức ăn đã được nấu chín, họ thường đặt lên một vật được đan bằng cọng mây hay lát tre cho bàn bếp khỏi dơ đó được gọi là cái “rế”
Ngoài các vật dụng trên, còn phải kể đến cái mâm bằng nhôm để dọn bữa.
 
Tất cả các món ăn sau khi được nấu chín đều được múc ra tô, dĩa bày ra mâm. Cái mâm bằng nhôm, có vành bao quanh chừng năm đến sáu phần, bên trong đáy mâm hơi trũng đều độ hơn hai phân, riêng nồi cơm được đặt bên ngoài cạnh mâm. Tất cả đều được đặt lên bàn ăn hay bộ ván gỗ. Cả gia đình cùng ngồi vô chờ đến giờ ăn.
 
Khi bữa ăn sắp bắt đầu, chén bát, đũa muỗng bày ra, trong số đó chiếc đũa dùng để xới cho hột cơm không bị gãy là chiếc đũa cái (hay còn gọi là đũa bếp), chiếc đũa này bản giẹp, rộng, dài hơn đũa thường để cho dễ xới cơm vô chén. Trước khi ăn người đứng ra so đũa từng đôi một, kẻ lấy chén, người ngồi gần nồi cơm chịu trách nhiệm xới cơm cho từng người. Người Nam bộ không quá kiểu cách mời từng người trong gia đình ăn, chỉ nghe có tiếng người lớn nhất trong bàn cơm nói gọn “cả nhà ăn đi“ là mọi người bắt đầu vô bữa.
 
Ông bà ta có câu “Ăn coi nồi, ngồi coi hướng” rất đúng về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Bữa ăn cầu kỳ nhiều hay ít món ngon cũng không nên chọn đúng chỗ món mình thích mà ngồi và ăn liên tục món đó. Phải ăn từ tốn và không dùng đũa muỗng riêng của mình gắp hay khuấy vào thức ăn chung. Ăn coi nồi là ăn có điều độ, không ăn quá no, còn để dành phần cho những người ăn chung, không vừa ăn vừa nói làm thức ăn văng tung toé, mất vệ sinh. Câu nói này hàm ý giáo dục về văn hóa trong cách ăn uống ở trong gia đình hay ở các bữa giỗ tiệc.
 
Trong thời buổi hiện đại ngày nay, chỉ còn một số dân miền quê dùng rơm rạ để nấu nướng, thành thị xài bếp than, củi cũng hiếm dần thay vào bằng bếp gaz, bếp điện, bếp từ. Căn bếp hiện đại của nhiều nhà ngày nay ốp gạch men sạch bóng, vắng bóng hoàn toàn vật dụng bếp xưa mà được thay bằng bếp gạch men, nồi, chảo inox sáng loáng, vắng mặt hẳn cái gạc-đờ-măng-giê, thay vào đó là tủ lạnh và các tủ để chén, dĩa, ly, tách được thiết kế sạch sẽ, có trang bị cả máy hút mùi.
 
“Nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon” điều này không ai phủ nhận. Tuy nhiên, bếp nay không có nghĩa là cơm nấu bằng nồi cơm điện ngon hơn bằng nấu than củi, sao có thể tìm được dề cơm cháy ở phần đáy nồi của những nồi cơm nấu bằng than, củi? Các món ăn cũng vậy, dù có nồi đa chức năng hầm, kho, hấp, chiên xào nhưng vẫn không thấy có mùi vị của bếp xưa. Bằng chứng là có những nhà hàng, quán ăn vẫn làm cơm niêu, cá thịt kho tộ xem như là một đặc sản của “bữa ăn quá khứ”, hay cụ thể hơn các quán bánh xèo vẫn dùng than củi để cho ra những chiếc bánh xèo ngon lành giòn rụm.
 
Đi về miền Tây, hay các chợ tỉnh lẻ, vẫn còn thấy bày bán các vật dụng bếp xưa treo lủng lẳng từ cái nồi đất đến cái rế, cái chảo chống ám khói…
 
Ký ức bếp Việt xưa hiện về với những vật đơn sơ mà chất chứa biết bao hoài niệm.
 
Chợt nhớ về câu đố hồi còn học Tiểu Học trước 1975 mà càng gợi nhớ thật nhiều cái bếp xưa:
 
Một đàn cò trắng phau phau
Ăn no, tắm mát, rủ nhau đi nằm.
 
Ai trong chúng ta bây giờ còn giữ được gian bếp xưa? Chắc là hiếm!
 
20/01/2026
Cam Hong
Nguồn: Fb Trang Văn Chương Miền Nam - Cẩm Hồng

 

Tìm các bài LỜI HAY Ý ĐẸP khác theo vần ABC . . .