Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
Ɖến phiên Dương tộc tâm sự, hội trường được trang trí nhiều hình ảnh của các loài Dê nhà, Dê núi (Sơn Dương), Dê có sừng to, nhọn và dài và Dê xồm râu ria rậm rạp. Một bức ảnh rộng lớn vẽ hình các anh chị Cừu (Trừu), thân thuộc của Dê, bị thiêu đốt để tế lễ trong Cựu Ước Kinh thời Abraham.
 
Bản nhạc Anh 35 Là Anh Dê Xồm trỗi lên rộn ràng giữa tiếng vỗ tay và cười la inh ỏi. Ban nhạc Ve (Thiền tộc) và Dế (Tất Suất Tộc) đánh trống và thổi kèn đinh tai nhức óc. Lão Hầu vừa ca vừa nhảy múa ồn ào vui nhộn.
Ɖại biểu Chàng Bè Florida ngơ ngác không hiểu tựa bản nhạc. Ông ấy hỏi đại diện Thủy Ngưu (Trâu) Việt Nam:
 
“Anh 35 là anh nào? Tại sao anh ấy là anh Dê Xồm?”
 
“Ở Sài gòn vào đầu thập niên 1950 hàng ngày đều có xổ đề. Ɖó là một dạng cờ bạc ra đời từ sáng kiến của người Hoa. Ɖề có 36 con vật và 4 vị Thần (số 37: Ông Trời, 38: Ông Ɖịa, 39: Ông Thần Tài và số 40: Ông Táo). Số 35 trong số đề là số của con Dê.” Thủy Ngưu Việt Nam đáp.
 
“Tại sao 35 gắn liền với Dê Xồm?” Chàng Bè Florida hỏi.
 
“Dê Xồm là lão Dê to lớn và có râu dài dưới càm. Người ta cho rằng lão Dê Xồm rất mạnh về sinh lý. Lão cai quản tất cả Dương nữ trong đàn về phương diện sinh lý. Số 35 trở thành một hình dung từ gắn liền với các Dương nam dưới cái nhìn của người Sài Gòn và nhiều dân tộc khác.” Thủy Ngưu Việt Nam đáp.
 
“Cám ơn anh Thủy Ngưu. Anh cho tôi biết điều mà tôi không biết tìm ở đâu ra.” Chàng Bè Florida nói.
 
Ban nhạc “Anh 35 Là Anh Dê Xồm” vừa chấm dứt thì chị Vẹt Nam Mỹ dùng Ɖộng Vật Quốc Tế ngữ kêu gọi đại biểu của các tộc động vật đứng dậy chào mừng đại biểu Dương Tộc Hoàn Vũ đọc tham luận.
 
Ɖó là một lão Dương Tộc Boer to lớn từ Nam Phi đến. Trông lão rất đạo mạo trong bộ quần áo hai màu: đầu và cổ màu đỏ nâu, thân mình màu trắng. Dưới càm có chòm râu đen trong oai phong và đạo mạo lắm. Trên đầu có cặp sừng dài lối 35cm quặp về phía sau. Trông lão to lớn dềnh dàng, uy nghiêm nhưng phảng phất vẻ phúc hậu, hiền hòa.
 
***
Ɖại diện Dương Tộc Hoàn Vũ tôi trân trọng kính chào toàn thể đại biểu các tộc Ɖộng Vật hiện diện hôm nay trong hội trường này.
 
duongtoctamsu 1
Dê Boer ở Nam Phi (Ảnh: farmspace.co.za)
 
Tôi là trưởng lão Dương tộc Boer từ Nam Phi đến. Năm 1652 người Hòa Lan biến Nam Phi thành thuộc địa. Năm 1900 họ phát triển việc chăn nuôi tổ tiên chúng tôi bằng một nhánh Dương tộc Âu Châu chủng giống với Dương tộc Ấn Ɖộ để có một loại Dương tộc to lớn nặng cân, nhiều sữa, nhiều lông, nhiều da và nhiều xương cốt được gọi là Boer Goat (1).
 
Dương tộc Âu Châu + Dương tộc Ấn Ɖộ = Dương tộc Boer Nam Phi.
 
Dương tộc chúng tôi sống khắp nơi trên Ɖịa Cầu, đặc biệt là ở các vùng khí hậu nhiệt đới hay Ɖịa Trung Hải, khô như vùng Nam Á, Trung Á, Trung Ɖông, Bắc Phi, Nam Âu, Bắc Úc Ɖại Lợi v.v..
 
duongtoctamsu 2
Một trong các loài Dê thuần hóa Capra hircus (Ảnh: app.lesveusdelavall.org)
 
Dê được nuôi ở Iran (Ba Tư) cách đây 10.000 năm. Dê thuần hóa là hậu duệ của các loài Dê hoang, Dê núi (Sơn Dương). Trên thế giới có 200 loài Dê khác nhau. Các loài Dê được loài người chủng giống và nuôi để lấy thịt, sữa, lông là: Dê Alpine, Dê La Mancha, Dê Pygmy Hoa Kỳ, Dê Tây Ban Nha, Dê Nubian, Dê Boer, Dê Kiko Tân Tây Lan. Dê Lùn Nigeria, Dê Angora hay Ankara (Thổ Nhĩ Kỳ), Dê Tennessee fainting (fainting: ngất, xỉu tựa như bị bịnh Thomsen/ myotonia congevita) (2).   
 
duongtoctamsu 3
Dê hoang (Ảnh: theextinction.com)
 
Loài người gán cho dương tộc chúng tôi tên khoa học bằng tiếng La Tinh Capra hircus cho các anh chị Dê được thuần hóa và Capra aegagrus cho các anh chị Dê hoang. Tất cả đều thuộc gia đình Bovidae của Bò, Trâu. Tên gọi thông thường của Dương tộc là:
 
 
depdl
 
Dương tộc không hữu ích bằng Trâu, Bò, Ngựa nhưng chúng tôi là nguồn thịt sữa, da, lông và xương quan trọng đối với loài người. Người Anh gọi Dương nhục là Chevon (thịt Dê trưởng thành), Cabrito (thịt Dê con). Cách gọi đơn giản là Goat meat. Cách gọi tên Dương tộc cũng khá phong phú:
 
 
depdl1
 
Qua cách gọi tên Dương tộc ta thấy loài người, nhất là người Âu Châu, quan tâm đến tầm quan trọng của Dương tộc trong xã hội của họ.
 
Dương tộc là động vật ăn cỏ, nhai lại như Bò, Trâu; chân móng chẻ; có vú, có xương sống, có máu đỏ và sinh con. Chúng tôi có những đặc tính tổng quát như sau:
  • Dê là động vật ăn cỏ và các loại thảo mộc có gai như xương rồng, các loại lá có mùi khó chịu như lá bù-xít (3), lá bã đậu, lá dâm dương hoắc v.v.. Về phương diện này Dương tộc chỉ nhường bước trước các anh chị Lạc Ɖà mà thôi vì Dương tộc không ăn quần áo hay giấy cạt-tông (carton). Dê trưởng thành có 32 cái răng cứng và vững chắc khả dĩ nghiền nát lá cây cứng và dày, những nhánh cây nhỏ kể cả xương rồng lởm chởm gai.
  • Dương tộc có thị giác tốt. Tròng mắt Dương tộc hình chữ nhật.
  • Dương tộc là động vật thông minh, hiếu động, hiếu kỳ, thích phiêu lưu, bay nhảy, leo trèo hay khám phá, gây tác hại không nhỏ cho nhà nông và những nhà trồng cây so đũa hay có hàng rào xương rồng.
  • Dương tộc có 4 chân cứng cáp và vững mạnh. Dê có thể nhảy cao 2m trên không trung và bốn chân chạm vào mặt tảng đá trên triền núi chính xác và không trượt ngã.
  • Phân Dê nhỏ, cứng nhưng dồi dào nitrogen hơn phân Bò, phân Gà. Phân Dê giữ nước, làm cho đất tơi xốp, không gây bức nhiệt cho rễ cây non.
  • Dê trong vùng khí hậu nóng và khô có ít lông hơn Dê ở miền khí hậu lạnh. Có loại Dê lông đen. Có loại Dê lông trắng như tuyết. Có loại Dê lông màu hung đỏ. Có loại Dê có lông có đốm đen, trắng. Có loại Dê có lông màu hung đỏ trên đầu và cổ, lông trắng trên mình và chân như Dê Boer chúng tôi.
  • Dê uống nước để sống như các loài động vật khác. Nhưng Dê rất sợ nước. Gặp trời mưa, vòi xịt nước, nước bùn, Dê hốt hoảng bỏ chạy và kêu la inh ỏi. Chỗ ở của Dê phải khô ráo, không được ẩm thấp giống như các anh chị Thỏ. Dê ăn cỏ ráo sương. Vì vậy người chăn Dê chỉ lùa Dê ra khỏi chuồng khi có ánh sáng mặt trời để cỏ không còn đẫm sương.
  • Trong lịch sử Thảo Mộc, Dê khám phá ra tác dụng kích thích của trái Cà Phê ở Ethiopia vào khoảng năm 850, tức giữa thế kỷ IX. Dương tộc cũng khám phá ra Dâm Dương Hoắc (4) sau khi người chăn Dê thấy Dê ăn lá cây này thì trở nên hiếu động và thèm khát tình dục với các Dương nữ. Người Anh gọi Âm Dương Hoắc là Goat Weed, Horny Goat Weed, Bischop’s hat. Biệt danh của Dâm Dương Hoắc là Tam Chi Cửu Diệp (Ba nhánh chín lá).
Chiều dài trung bình của Dê lối 1,70m, cao lối 0,75m và cân nặng lối 35kg.
 
Dê nặng cân nhất là Dê Markor (Capra falconeri) ở vùng sơn dã Nam Á (Ấn Ɖộ, Pakistan) và Trung Á (Tajikistan, Afghanistan, Uzbekistan). Trọng lượng trung bình của loài Dê này xê dịch từ 75kg đến 120kg.
 
duongtoctamsu 4
Dê Markor (trái, Ảnh: Wikipedia) và Dê Tí Hon Phi Châu (Ảnh: akronzoo.org)
 
Dê nhẹ cân nhất là Dê Tí Hon Phi Châu (Pygmy Goat - Capra aegagrus hircus) cân nặng từ 18kg đến 32kg.
 
Tuổi thọ của Dê thuần hóa là 12 năm và hơn nữa. Trong trạng thái hoang dã, đời sống của Dương tộc bị đe dọa bởi các thợ săn, các loài dã thú, bịnh tật, khí hậu khắc nghiệt, dinh dưỡng kém cỏi v.v..
 
Tuổi của Dương tộc có thể đoán được qua răng hay sừng. Sừng càng dày, cứng và dài tuổi càng cao.
 
Khi lên 2 tuổi, Dương nam bắt đầu làm công tác truyền giống với các Dương nữ 1 tuổi. Thời kỳ mang thai của Dương nữ lối 150 ngày. Số Dương tử xê dịch từ 1 đến 3. Số Dương tử có thể lên đến 4 hay 5 tùy theo giống Dương tộc, sức khỏe và sự dinh dưỡng của Dương nam và Dương nữ.
 
Dê núi mang tên khoa học Capra aegagrus aegagrus nổi tiếng là:
  • Dê Bezoar Ibex trong dãy núi Taurus (Thổ Nhĩ Kỳ) và Caucasus (Nga, Georgia, Armenia, Azerbaijan).
duongtoctamsu 5
Dê núi Bắc Mỹ (trái, Ảnh: adlayasanimal.wordpress.com) và Dê núi Hy Mã Lạp Sơn (Ảnh: hlasek.com)
  • Dê núi Bắc Mỹ mang tên khoa học Oreammos americanus (từ Colorado đến Alaska).
  • Dê núi Hi Mã Lạp Sơn, Xinjang (Tân Cương), Tibet (Tây Tạng), Yunnan (Vân Nam), Sichuan (Tứ Xuyên).
duongtoctamsu 6
Dê núi (Sơn dương) vùng rừng núi Nghệ An Hà Tĩnh (Ảnh: redsvn.net)
 
- Dê núi (Sơn Dương) vùng núi Nghệ An - Hà Tĩnh được xem là Sơn Dương hiếm hoi còn sót lại trên thế giới.
 
Loài người nuôi Dê để lấy thịt, sữa, lông, da và xương. Thịt Dê là thức ăn của người Ấn Ɖộ, các dân tộc theo Hồi Giáo ở Ɖông Nam Á, Trung Á, Trung Ɖông, Bắc Phi. Người Âu Châu ven Ɖịa Trung Hải cũng ăn thịt Dê.
 
Dương tộc cho nhiều thịt là Dương tộc Boer, Kiko, Dương tộc Tây Ban Nha, Kalahari Red (Hồng Dương Sa Mạc Kalahari). Cách nấu nướng Dương nhục khác nhau tùy theo nguồn gốc của người ăn Dương nhục, Phần lớn Dương nhục dùng để nấu cà-ri, ra-gu hay ướp gia vị rồi nướng bằng lửa than.
 
Ở Việt Nam Dê được nuôi ở những vùng có nhiều người Ấn hay người Chàm sinh sống. Ɖa số người Việt Nam xa lạ với thịt Dê, thịt Trừu. Dù vậy giới thượng lưu ở Sài Gòn vẫn vào Chợ Lớn thưởng thức món Dê hầm thuốc Bắc trong các nồi tay cầm đất sét để tăng cường sức mạnh sinh lý. Với ý niệm này Ngọc Dương càng có giá trị cao đối với giới hưởng thụ này.
 
duongtoctamsu 7
Dê Toggenburg (Thụy Sĩ) (trái, Ảnh: natuurlijkerleven.eu) và dê Angora (Ảnh: reddit.com)
 
Dương tộc cho nhiều sữa đại loại gồm có Dương tộc Toggenburg (Thụy Sĩ), Nubia, Oberhasti (Hoa Kỳ), Saanen (Thụy Sĩ), Alpine (Pháp, Thụy Sĩ). Mỗi Dương nữ của các dòng Dương tộc này có thể cung cấp từ 3 - 4 lít sữa mỗi ngày. Sữa Dê để uống và dùng làm phô-mai (fromage/cheese). Người Pháp gọi phô-mai sữa Dê là chèvre. Thung lũng sông Loire và vùng Poitou là những nơi sản xuất phô-mai sữa Dê nổi tiếng của Pháp. Tây Ban Nha có thành phố núi Garrotxa trong khu tự trị Catalonia gần biên giới Pháp và Ɖịa Trung Hải nổi tiếng với phô-mai sữa Dê mang tên Garrotxa. Những hiệu phô-mai sữa Dê nổi tiếng gồm có: Nanny Muffet, Cornish Nanny, Nanny Mc Brie.
 
Dương tộc cho nhiều lông là dương tộc Angora (Thổ Nhĩ Kỳ) và Dương tộc Cashmere (Kashmir) trong vùng núi Hi Mã Lạp Sơn, Nội Mông (Inner Mongolia), Ngoại Mông (Outer Mongolia), Tây Tạng giá buốt. Dê Angora có lông dày được cắt mỗi năm hai lần như bào lông Trừu vậy. Một anh Dê Angora cung cấp từ 4kg - 8kg lông/năm. Lông Dê Angora dệt ra vải Mohair nổi tiếng trên thế giới.
 
***
Thân thuộc gần của Dương tộc là Trừu hay Cừu. Các anh chị Trừu có hình dạng và trọng lượng hao hao như nhau. Dê và Trừu đều thuộc gia đình Bovidae của động vật nhai lại như Trâu, Bò. Trừu mặc quần áo len dày trong khi Dê chúng tôi mặc quần áo mỏng nhiều màu khác nhau (trắng, đen, hung đỏ, đốm trắng hay đốm đen, nửa trắng nửa đen hay nửa trắng nửa hung đỏ). Dê và Trừu đều ăn cỏ. Nhưng Dê ăn cả cành cây, cây gai và lá cây có mùi khó chịu mà Trừu không thích và không ăn. Dê hiếu động, leo trèo và phá phách trong khi Trừu có vẻ hiền hòa và thụ động hơn. Ở Morocco Dê leo lên cây Argan đầy gai góc để ăn lá và trái chín có vị ngọt, béo tựa như trái ô-liu. Cây Argan được gọi là Goat tree (Dương mộc) là vì thế. Dê ăn trái Argan và phóng thải hột ra ngoài. Người ta lượm hột này, tẩy sạch để cất dầu Argan.
 
duongtoctamsu 8
Trừu (Cừu) (Ảnh: observation.org)
 
Tên khoa học mà loài người gán cho các anh chị Trừu là Ovis aries, gia đình Bovidae. Tên gọi thông thường:
 
 
depdl2
 
Tiếng Anh có từ ngữ riêng dành cho thịt Trừu:
  • Mutton (thường dùng ở Anh): Thịt Trừu trưởng thành.
  • Lamb (thường dùng ở Hoa Kỳ): Thực tế là thịt Trừu con.
  • Hogget: Thịt của Trừu từ 1 đến 2 tuổi.
Các anh chị Trừu có vài đặc điểm như sau:
  • Miên Dương tộc nhút nhát, bề ngoài có vẻ hiền hòa, không hiếu động, leo trèo, phá phách như Dương tộc chúng tôi.
  • Miên Dương tộc được xem là tộc thông minh. Các anh chị ấy có khả năng nhận dạng các động vật lẫn loài người mà các anh chị ấy đã gặp.
  • Tròng mắt của Miên Dương tộc hình chữ nhật. Anh chị Trừu có thị giác 360 độ!
  • Miên Dương tộc có tuyến xạ trên mặt và dưới móng chân.
  • Miên Dương tộc biết tìm các loại thảo mộc có vị đắng, chát, nồng chứa tannins, alkaloids, saponins để tự chữa bịnh.
  • Khả năng thích ứng với khí hậu lạnh của Miên Dương tộc cao hơn Dương tộc nhờ có bộ lông dày (len – laine – wool).
Theo những nhà nghiên cứu động vật học thì Miên Dương tộc và Dương tộc hiện hữu song song trên Ɖịa Cầu. Miên Dương tộc có hai nguồn gốc:
A- Gốc Á Châu: Trừu hoang Mouflon Ovis gmelini.
 
duongtoctamsu 9
Trừu hoang Mouflon gốc Á Châu (trái, Ảnh: Wikipedia) và Trừu hoang Mouflon gốc Âu Châu (Ảnh: inaturalist.org)
 
B- Gốc Âu Châu: Trừu hoang Mouflon Ovis aries musimon (Mouflon: Trừu hoang vùng biển Caspian, đảo Cypress).
 
Trừu hoang được thuần hóa 10.000 năm trước Công Nguyên trong vùng Lưỡng Hà Châu (Mesopotamia). Ở Ấn Ɖộ Trừu được thuần hóa khoảng 7.000 năm trước Công Nguyên. Ɖịa bàn sống của Dê và Trừu gần như nhau. Dê và Trừu chúng tôi giống nhau từ hình dáng, kích thước, trọng lượng và công dụng trong xã hội loài người. Chúng tôi cung cấp cho loài người thịt, sữa, lông, da, mỡ (Trừu) và xương (Dê).
 
Các giống Trừu nổi tiếng là Trừu Merino, Rambouillet, Suffolk, Hampshire v.v.
 
Trừu cho nhiều thịt là Trừu Suffolk, Hampshire, Texel, Dorper, Poll Dorset, Awasi.
 
duongtoctamsu 10
Trừu Suffolk (Ảnh: hetschaap.nl)
 
Trừu cho nhiều sữa là Trừu East Friesian, Awasi, Lacaune. Phô-mai sữa Trừu nổi tiếng là phô-mai Roquefort (Pháp), Feta (Hy Lạp), Manchego (Tây Ban Nha), Perorino Romano và Ricotta (Ý). Phô-mai sữa Trừu đắt giá hơn phô-mai làm từ sữa Bò.
 
duongtoctamsu 11
Trừu Merino (Ảnh: peers.nl)
 
Trừu cho nhiều len là Trừu Merino, Rambouillet. Miên Dương nam dòng Merino cho từ 5kg - 10kg len mỗi năm. Miên Dương nữ dòng này cho từ 4kg đến 6kg len/năm.
duongtoctamsu 12
Trừu Rambouillet (Ảnh: naturalfibrearts.com)
 
Mỡ Trừu (tallow – suif) dùng để chiên xào trong nhà bếp, dưỡng da, làm xà bông hay kem, kem tạo ẩm độ cho da.
 
Vê phương diện kinh tế Trừu mang nhiều lợi nhuận cho nhà chăn nuôi hơn Dê. Trừu cung cấp nhiều thịt, sữa, mỡ và len hơn Dê. Len được dùng để sản xuất nón len, vớ len, áo ấm “len” ngự hàn vào mùa đông. Ở các xứ nhiệt đới không có len người ta mặc áo nhồi bông gòn (5) để ngự hàn.
 
Thức ăn thịt Trừu thường thấy ở các quốc gia Trung Á, Trung Ɖông và Nam Á là Gyro, Shawarma, Doner kebab.
 
Gyro là thức ăn xuất phát từ Hy Lạp gồm thịt Trừu + thịt Gà + thịt Heo (người Hy Lạp không theo đạo Hồi) + thịt Bò. Người Do Thái và Hồi Giáo ăn Gyro không có thịt Heo. Thức ăn thuần thịt Trừu mà người Hồi giáo dùng là Shawarma Doner kebab.
 
***
Tổng số Dê và Trừu trên thế giới trên 2 tỷ đơn vị. Dê chiếm 1 tỷ + và Trừu chiếm một tỷ +. Á Châu chiếm khoảng 58% số Dê trên thế giới. Phi Châu chiếm 35%. Tỷ lệ còn lại (7%) thuộc các quốc gia Âu Châu, Mỹ Châu và Úc Ɖại Lợi. Các quốc gia nuôi nhiều Dê được sắp xếp theo thứ hạng sau đây:
 
depdl3
 
Mức sản xuất thịt Dê trên thế giới lối 7 triệu tấn (7 tỷ kí-lô). Trung Hoa sản xuất 35% tổng số thịt Dê nhưng cũng là quốc gia tiêu thụ nhiều thịt Dê. Lục địa Phi Châu đứng hạng nhì trong việc sản xuất thịt Dê. Nhưng Úc Ɖại Lợi là quốc gia xuất cảng nhiều thịt Dê nhất thế giới (40% tổng số lượng thịt Dê xuất khẩu trên thị trường quốc tế).
 
Sau đây là các quốc gia sản xuất nhiều thịt Dê trên thế giới:

depdl4
 
Các quốc gia nuôi nhiều Trừu trên thế giới là:

depdl5
Có hai điều đáng lưu ý:
 
1- Các quốc gia nuôi nhiều Dê cũng là các quốc gia nuôi nhiều Trừu.
 
2- Dân số và số Trừu được nuôi:
  • Tân Tây Lan (New Zealand) là quốc gia có số Trừu lớn gấp 4 lần dân số nước này. Dân số Tân Tây Lan lối 5,5 triệu người trong khi số Trừu nuôi lên đến 24 triệu đơn vị, tức nhiều hơn gấp 4,36 lần!
  • Dân số Úc lối 28 triệu người. Số Trừu nuôi ở Úc là 75 triệu, tức cao hơn dân số trong nước này 2,67 lần.
  • Hai quốc gia Trung Hoa và Ấn Ɖộ có tổng cộng 3 tỷ dân. Hai nước này nuôi 170 + 115 = 285 triệu Trừu. Số Trừu nuôi quá nhỏ so với tổng số 3 tỷ người Ấn và Trung Hoa (0,095 lần so với tổng số dân hai nước).
Về phương diện kinh tế Trừu vượt hẳn Dê về số lượng thịt, len và sữa. Mức sản xuất thịt Trừu trên thế giới gần 17 triệu tấn, tức 17 tỷ kí-lô, gấp 2,42 lần mức sản xuất thịt Dê (7 tỷ kí-lô). Trung Hoa, Ấn Ɖộ và Pakistan là ba quốc gia sản xuất nhiều thịt Trừu nhưng Úc Ɖại Lợi và Tân Tây Lan là hai quốc gia dẫn đầu về việc xuất cảng thịt Trừu trên thế giới. Trung Hoa sản xuất nhiều thịt Trừu nhất thế giới nhưng cũng là quốc gia nhập cảng nhiều thịt Trừu nhất thế giới.
 
Mức sản xuất len trên thế giới lối 2 triệu tấn/năm. Thương vụ lên khoảng 7 - 8 tỷ Mỹ kim/năm. Ba quốc gia sản xuất nhiều len trên thế giới là:
 
1. Trung Hoa.
 
2. Úc Ɖại Lợi.
 
3. Tân Tây Lan.
 
Việt Nam là một nước nông nghiệp. Ɖất đai dùng để trồng lúa hay các loại khoai củ, thực vật để ăn hơn là tạo đồng cỏ để chăn nuôi. Người Việt Nam ăn nhiều cá và thủy sản bắt được dưới sông, suối, ao hồ và biển cả. Nước mắm, mắm nêm, mắm ruốc, mắm tôm đều làm từ cá, tôm. Người Việt Nam ăn thịt Gà, thịt Vịt, thịt Heo nhiều hơn thịt Trâu, thịt Bò. Bò và Trâu dùng để giúp nông dân trong việc đồng án và chuyên chở nông sản. Phần lớn người Việt Nam hiếm khi có dịp ăn thịt Dê, thịt Trừu. Dê được xem là động vật nhai lại rất hiếu động nên phá phách mùa màng dữ dội lắm!
 
Trong ngôn ngữ Việt Nam có từ Dê Xồm ám chỉ kẻ hay ve vãn đối tượng khác phái để làm tình. Ở điểm này, tôi, trưởng lão Dương tộc Boer, cực lực phản đối người Việt Nam. Trong công tác truyền giống thì ai cũng là Dê Xồm cả! Mã tộc, Trư tộc, Khuyển tộc,… có thua kém gì Dương tộc và Miên Dương tộc đâu.
 
Tôi cũng không hiểu người Việt Nam ám chỉ gì khi nói:
 
Dê xồm ăn trái khổ qua
Ăn nhằm đậu đũa chết cha Dê Xồm.
 
Ai cũng biết Dương tộc chúng tôi ăn các loại cây có mùi vị khó chịu như là cây bù-xít, lá bã đậu, lá dâm dương hoắc, lá sắc bén như lá mía, lá tre, cây gai xương rồng thì đậu đũa, khổ qua có nghĩa lý gì với Dương tộc chúng tôi! Vậy hai câu thơ trên muốn nói điều gì? Ɖó là cách mô tả sự oán ghét và rủa sả của nông dân Việt Nam đối với Dương tộc phá phách rau cải, hoa quả và khoai củ họ trồng?
 
Cũng không hiểu đâu người Việt Nam gọi anh chị Trừu là Cừu. Cừu có nghĩa là thù hận, kẻ thù như:
 
Cừu bất cộng đái Thiên (Thù không đội Trời chung).
 
Cừu nhân kiến diện phân ngoại nhãn hồng (Thấy mặt kẻ thù tự nhiên mắt đỏ).
 
Các con của anh chị Trừu gọi là con Chiên hay Cừu Non, lại tượng trưng cho sự ngây thơ, hiền hòa, ngoan ngoãn và non kinh nghiệm
 
Năm con Dê được gọi là năm Mùi, sau năm Ngọ (Ngựa) và trước năm Thân (Khỉ). Năm Mùi là năm Âm (-) với các năm Ất Mùi, Ɖinh Mùi, Kỷ Mùi, Tân Mùi và Quí Mùi.

depdl6
 
Trong Ɖề 40 số Dê mang số 35 sau con Nai (số 34) và trước con Chồn (số 36). Từ đó số 35 trở thành hình dung từ gán cho người hiều sắc, hiếu dâm.
 
Trong lịch sử Trung Hoa thời Han Wu Di (Hán Vũ Ɖế tức Liu Che – Lưu Triệt – lên ngôi năm 141 trước Tây Lịch đến 87 trước Tây Lịch) có chuyện nhà ngoại giao SuWu (Tô Vũ) đi sứ sang Ɖại Nguyệt Chi (Da Yueh Zhi nằm về phía bắc nước Trung Hoa để thuyết phục nước này liên minh với Trung Hoa đánh Hung Nô. Trên đường về nước Su Wu bị Hung Nô bắt và đày đi chăn Dê trên những thảo nguyên băng giá ở Bắc Á. Su Wu sống bần hàn trong hang đá, cơm không đủ no, áo không đủ ấm với một người vợ Hung Nô.
 
Alphonse Daudet, văn sĩ Pháp, viết La Chèvre de Monsieur Seguin. 
 
Katharine Pyle, nữ văn sĩ Hoa Kỳ, viết chuyện thần thoại Three  Billy Goats Gruff.
 
Văn sĩ Tamil Perumal Murugan viết The Story of a Goat.
 
Văn sĩ Hoa Kỳ Mark Jude Poirier viết quyển Goats.
 
Trong Ngụ Ngôn của La Fontaine có bài Le Loup et L’Agneau với câu mở đầu La raison du plus fort est toujours la meilleure (Lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng) quá thực và vô cùng thấm thía với thời gian và không gian.
 
Trong Thánh Kinh, Dê, Trừu là vật tế Thần. Dê tiêu biểu cho tội lỗi, sự nổi loạn, sự tách rời khỏi Ɖấng Tối Cao.
 
Trừu (Chiên) được nhắc đến 500 lần trong Thánh Kinh. Con chiên tượng trưng cho dân của Chúa, nhu cầu được che chở, được chăm sóc và được sự hướng dẫn siêu nhiên. Chúa Jesus mô tả ngày phán xét cuối cùng trên thế gian khi người “chăn Chiên” tách rời đàn Chiên công chính ra khỏi đàn Dê bất chính. Trong Cựu Ước Kinh, sách Genesis 22:13 (Sáng Thế Ký 22:13) có đề cập đến Abraham dùng con Chiên đực làm lễ thiêu thay cho con trai của Người là Isaac.
 
Huyền thoại Hy Lạp có cái nhìn khoan dung đối với Dương tộc hơn. Thần Amalthea là một Dương nữ nuôi Thần Zeus bằng sữa của mình.
 
duongtoctamsu 13
Tranh Thần Amalthea là một Dương Nữ nuôi Thần Zeus bằng sữa của mình (Ảnh: picryl.com)
 
Thần Pan là Thần có chân và sừng Dê. Ɖó là Thần của thiên nhiên hoang dã, của những người chăn Dê, Trừu.
 
Trong Tinh Tú Học có sao Capricornus (sao Ngưu mặc dù chữ Capricornus không có nghĩa là Ngưu tức Trâu hay Bò) dịch nguyên từ là Dê Sừng (Giác Dương) nhưng người ta thường gọi là Dê Biển (Sea Goat – Hải Dương) được minh họa thành hình Dê có đuôi Cá.
 
Trên thực tế  loài người quan tâm ít nhiều đến Dê, Trừu chúng tôi.
 
Nước Ý có một loại xe gắn máy hiệu CAPRI. Capri có nghĩa là Dê. Capri cũng là tên gọi của một hòn đảo xinh xắn trong Vịnh Naples (vùng Campania). Theo Hy Lạp ngữ cổ, Capri có nghĩa là Heo Rừng.
 
Xe Dodge truck của Hoa Kỳ có dấu hiệu đầu Trừu với cặp sừng to và chữ RAM tượng trưng cho sức mạnh và sự bền bỉ của loại xe truck này.
 
Từ chữ CAPRI của Ý, Pháp có danh từ CAPRICE và tỉnh từ CAPRICIEUX có nghĩa là hay thay đổi bất thường như loài Dương tộc chúng tôi.
 
Trong Thực Vật Học có nhiều loại thảo mộc mang chữ Dương, Chèvre, Goat, Sheep như:
  • Dâm Dương Hoắc Epimedium acuminatum.
  • Dương Mộc (Cây Argan) Argania  spinose.
  • Dương Nãi Quả (Goat’s milk fruit) Grewia occidentalis .
  • Dương Nãi Tử  (Nanny berry) Viburnum lentago .
  • Dương Thảo (Goat grass) Aegilop longissimi.
  • Dương Xỉ Cyclosorus parasiticus.
  • Chèvrefeuille (Kim Ngân Hoa) Lonicera japonica.
  • Goat Head (Quỷ Kiến Sầu – Bạch Tật Lê) Tribulus terrestris.
  • Goat Horn (Cây Sừng Dê Hoa Vàng) Strolantus divergens.
  • Goat-rue (Dương Cửu Lý Hương) Tephosia virginiana .
  • Goat Beard (Rau Sò – Bạng Thảo) Tragopogon porrifolius.
  • Goat’s Foot Morning-glory (Rau Muống Biển) Ipomoea pes-caprae.
  • Goat Nur (Cây Jojoba) Simmondia chinensis.
  • Goat Weed (Cỏ Thánh John)  Hypericum perforitum.
  • Goat’s Beard (Hoa Dương Tu) Tragopogon pretenses.
  • Sheep laurel (Cừu Nguyệt Quế) (6) Kalmia augustifolia. Trừu ăn lá cây này thì chết!
  • Sheep Bush (Cây Liễu Úc Ɖại Lợi) Geijera parviflora.
  • Sheep sorrel (Cây Chút Chít Ɖỏ) Rumex acetosella.
  • Cừu Nhục Mộc(Muttonwood) Myrsine variabilis.
  • Cừu Thảo Festuca longifolia.
***
Thưa quí vị,
 
Tất cả động vật trên Ɖịa Cầu đến tuổi già đểu phải chết.
 
Loài người là động vật
 
Ɖến tuổi già loài người cũng phải chết.
 
Loài người chết vì già, vì bịnh tật, đói rét, vì nghề nghiệp (sinh nghề tử nghiệp), vì tự quyên sinh, vì si, hận, vì thất bại trong cuộc sống, vì bị đồng loại giết hại,… và vì muôn ngàn nguồn gốc khác dẫn đến cái chết.
 
Trong trạng thái hoang dã Dương tộc và Miên Dương tộc chết vì thời tiết khắc nghiệt, thiếu dinh dưỡng, bị bọn Chó Sói xé xác. Ɖược thuần hóa, Dương tộc và Miên Dương tộc bị loài người xẻ thịt sau khi được ăn uống và chăm sóc sức khỏe đầy đủ.
 
Dương tộc và Miên Dương tộc được loài người nuôi và bị loài người giết để lấy thịt, da, lông, mỡ và xương. Xương Dê, đặc biệt là xương chân, dùng để nấu cao. Dương tộc chúng tôi chết đau đớn vì bị đánh đập cho toát mồ hôi, chỉ vì mồ hôi của chúng tôi có mùi nồng khó chịu ảnh hưởng đến mùi vị của thịt, trước khi loài người kết liễu cuộc sống của chúng tôi bằng búa hay bằng lưỡi dao sắc bén. Khỏi phải nói quí vị cũng biết, có sự giết chóc nào được xem là hiền hòa và phúc hậu bao giờ. Nhưng Dương tộc chúng tôi luôn luôn tự hào có được cái chết lúc nào cũng thơm tho và được nhiều người đưa tiễn. Nhân loại trên Ɖịa Cầu không thể nào quên được món Cà-ri Dê Ấn Ɖộ và Cà-ri Dê miền biển Caribbean, món Soc Kavurnia (Thịt Trừu Áp Chảo Thổ Nhĩ Kỳ) và món Kuzu Tandir Kebab (Thịt Trừu nướng Thổ Nhĩ Kỳ).
 
Tôi xin chấm dứt tâm sự của Dương tộc và thân thuộc tại đây. Kính chúc toàn thế quí vị hiện diện hôm nay một ngày vui trọn vẹn.
 
Một nữ ca sĩ Hoàng Yến nháy giọng Doris Day khi hát bài What Will Be, Will Be? Que Sera, Sera? Tất cả đều quên chuyện Dương tộc bị đánh đập cho toát mồ hôi có mùi nồng khó chịu trước khi nhận những nhát dao ân huệ để giã biệt cuộc sống nghiệt ngã trên Ɖịa Cầu. Tất cả các đại biểu Ɖộng Vật đều say sưa hát What will be, will be. Que sera, sera. What ever will be, will be. The future’s not ours to see….
 
Trưởng Lão Dê Boer hay Boerbok Capra aegagrus hircus South Africa.
   
Phạm Ɖình Lân, F.A.B.I.
_________
Chú thích:
 
(1): Boer là tiếng Hòa Lan, có nghĩa là nông dân. Chiến tranh Boer (1880 - 1881 và 1889 - 1902) là cuộc chiến tranh đẫm máu và dai dẳng giữa Anh và người Boer, tức người Hòa Lan đến Nam Phi từ thế kỷ XVII và những người Âu Châu mang huyết thống Ɖức, Pháp, Huguenots (người Pháp theo đạo Tin Lành), tức người bạch chủng theo đạo Christ.
 
(2): Bịnh Thomsen hay Myotonia congevita là chứng rối loạn thần kinh cơ bắp.
 
(3): Tên khoa học của cây bù-xít (bọ-xít) là Ageratum conyzoides, gia đình Compositae. Người Anh gọi cây bù-xít là goatweed (Dương thảo), billy goat weed; Pháp: herbe de bouc. Cây bù-xít có mùi khó chịu nhưng những hoạt chất trong cây và lá bù-xít kháng trùng, kháng khuẩn, kháng dị ứng như alkaloids, flavonoids, terpenoids (C5H8)n, steroids C26H44N2O, glycosides C29H44O12, coumarins C9H6O2, eugenol C10H12O2.
 
(4): Người Trung Hoa gọi Dâm Dương Hoắc là Yin yang huo. Dâm: tình dục giữa phái nam và phái nữ, Dương: Dê, Hoắc: một loại cỏ. Tên khoa học của Dâm Dương Hoắc là Epimedium acuminatum, gia đình Berberidaceae. Cây Dâm Dương Hoắc được tìm thấy nhiều ở Hoa Bắc, Mông Cổ, Triều Tiên, Nhật Bản. Lá Dâm Dương Hoắc rất đắng. Dược tính của Dâm Dương Hoắc cho thấy nó là thuốc Viagra tự nhiên. Viagra tạo sự cường dương nhưng không trị được chứng bất lực sinh lý (impotence). Dâm Dương Hoắc có thể đảm nhiệm hai nhiệm vụ trên do sự hiện diện của Icariin C33H40O15, epimedoside C32H38O15, magnoflorin C20H24NO4 + quercetin C15H10O7, bilobano C15H22O2 và nhiều loại acids khác. Ngoài ra Dâm Dương Hoắc còn được dùng để trị tiểu đường, đau lưng, suyễn v.v..
 
(5): Bông gòn lấy từ trái cây gòn Ceiba pentandra, gia đình Malvaceae (Kapok tree – Kapokier).
 
 

Tìm các bài BIÊN KHẢO khác theo vần ABC . . .