Bình phong trong kiến trúc Huế xưa
Ở Việt Nam, có lẽ không nơi nào vẫn còn giữ được nhiều kiểu bình phong như ở Huế. Đến Huế, mọi người có thể dễ dàng bắt gặp muôn hình vạn trạng hình ảnh của những bức bình phong từ các cung đình, phủ đệ, đình làng, miếu mạo,… cho đến những ngôi nhà vườn xưa của người dân.
Tuy chỉ là một yếu tố nhỏ trong tổng thể kiến trúc nhà xưa, nhưng bình phong được sử dụng nhiều trong các công trình kiến trúc khác nhau đã cho thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của nó đối với đời sống tinh thần của người dân nơi đây.
Bức bình phong cổ tại đình làng Kim Long (phường Kim Long, TP Huế)
Bình phong là hiện thân của lối kiến trúc mang đậm tính dân gian. Theo quan niệm tâm linh, phong thủy và trong đời sống văn hóa Huế, những bức bình phong tạo thành các yếu tố “triều”, “án” có chức năng gia tăng tính bền vững của đất cuộc, ngăn chặn các uế khí, độc khí, hỏa khí xâm nhập nội thất, làm hại gia chủ, khiến cho căn nhà trở nên ấm cúng, an toàn hơn. Cũng vì lý do này mà trong kiến trúc, các bức bình phong được xây dựng ngay trước mặt tiền của nhà, nằm ngay sau cửa ngõ.
Xét về cấu tạo, thông thường mỗi bức bình phong gồm có ba phần khác nhau. Phần đế thường được xây cao bằng bể cạn đặt phía trước, nếu không có bể cạn thì có thể xây thấp hơn. Phần nhiều đều được xây thành khối chữ nhật đơn giản hoặc thêm hình vân mây sóng nước.
Phần thân thường được xây dựng đối xứng, trên đó thường ghi câu đối với các biểu tượng theo mô típ tứ quý, bát quả,.. ở giữa ghi chữ Thọ, chữ Phước hoặc hình tứ linh (Long, lân, qui, phụng). Phần đỉnh có thể có hoặc không, nhưng nếu có thường có họa tiết “song Long chầu nhật”.
Theo nhận xét của các nhà nghiên cứu, bình phong không dùng để cầu lộc, tiền tài mà chỉ cầu sự may mắn, trường tồn. Đây là lý do tại sao từ trước nay không hề thấy chữ Lộc được dùng trang trí trên các bình phong.
Bức bình phong của nhà thờ họ Mai Văn (đường Nguyễn Phúc Nguyên, TP Huế) được làm tinh xảo từ kỹ thuật khảm sành sứ dưới đôi tay các nghệ nhân xứ Huế.
Dù giàu hay nghèo, trong khuôn viên nhà của Huế xưa thường có cho mình một bức bình phong án ngữ ngay mặt tiền ngôi nhà. Tùy theo nhu cầu, điều kiện, những bức bình phong cũng được làm từ những chất liệu khác nhau như gỗ, gạch, mây, đá, cây cảnh, tre, trúc.. nhưng phổ biến nhất vẫn là những bức bình phong xây bằng gạch đá được trang trí, chạm trổ công phu bằng cách ghép sành sứ.
Những mảnh gốm sứ, mảnh chai được cắt tỉa theo hình dáng và màu sắc khác nhau sau đó được các nghệ nhân gắn lại bằng những chất kết dính như vôi hàu, mật mía tạo nên những hình tượng cầu kỳ, đẹp mắt. Đây là một trong những kỹ thuật xây dựng độc đáo thể hiện bàn tay tài hoa của những nghệ nhân khảm sành xứ Huế.
Hiện nay ở Huế, những bức bình phong được làm theo cách này còn khá nhiều tại Kim Long hay lăng Tự Đức. Đó đều là những bức bình phong khảm sành sứ được đánh giá đẹp nhất nước. Không chỉ có ý nghĩa về mặt phong thủy, về sau bình phong còn kiêm thêm chức năng trang trí mỹ thuật trong kiến trúc nhà cổ truyền thống.
Một bức bình phong hàng trăm năm tuổi tại phủ thờ Khoái Châu Quận Công
Cần bảo tồn một nét kiến trúc độc đáo
Bình phong là một nét kiến trúc đặc trưng, thể hiện nét văn hóa riêng độc đáo của người dân Cố đô Huế. Nói về bình phong cổ xứ Huế, không thể không kể đến “Bình phong long mã”, một trong những kiểu bình phong được sử dụng phổ biến nhất.
Trong nhận thức của mình, người Huế xưa nay thường hiểu “long mã” (ngựa hóa rồng) là hóa thân của kỳ lân, một trong bốn tứ linh. Đây là con vật mình ngựa, đầu rồng, lưng mang bát quái tiên, là con vật không có thật mà là sản phẩm trí tưởng tượng của con người. Long mã cũng được xem là linh vật của Phật giáo khi cõng trên lưng Luật Tạng, một trong ba bộ phận của Tam tạng kinh.
Trải qua thời gian, hình ảnh của Long mã có nhiều biến đổi về cách thể hiện nhưng đều mang ý nghĩa là linh vật báo hiệu điềm tốt lành, là biểu tượng của sự thông thái, trường thọ. Sự nguy nga đường bệ, hạnh phúc vô song.
Chính vì vậy hình tượng Long mã được sử dụng nhiều ở đình chùa, miếu mạo của Huế. Được thể hiện trên các bức hoành phi, các bức bình phong vừa để trang trí vừa có ý nghĩa phong thủy trừ tà, khử trược.
Hình tượng Long mã (ngựa hóa rồng) được sử dụng nhiều trong kiến trúc bình phong ở Huế.
Bức “Bình phong long mã” nổi tiếng có thể dễ dàng bắt gặp khi đến Huế có lẽ là bức bình phong trước Trường Quốc Học Huế với hình tượng Long mã màu xanh trong tư thế tung vó cưỡi mây vẫn ngoái đầu nhìn lại.
Được xây dựng từ thời vua Thành Thái (1896), nằm tọa lạc ở địa thế đẹp, hướng mình ra sông Hương, Phu Văn Lâu, Đại nội.
Bức bình phong trước Trường Quốc Học Huế được xây dựng từ thời vua Thành Thái (1896)là một trong những bức “Bình phong long mã” nổi tiếng.
Hiện nay ở Cố đô Huế vẫn còn rất nhiều bức bình phong cổ có nhiều giá trị về mặt kiến trúc và văn hóa. Tuy nhiên cũng có thể nhận thấy một thực tế đáng lo ngại là dưới sự ảnh hưởng của đô thị hóa cùng sự mất dần đi nhà vườn truyền thống, số lượng các bình phong cũng giảm dần thấy rõ.
Bên cạnh đó, việc cải tạo hay xây mới nhưng không nắm rõ, hài hòa với tổng thể kiến trúc ngôi nhà cũng làm giảm đi ít nhiều giá trị và ý nghĩa của những bức bình phong.
Để gìn giữ nét kiến trúc dân gian độc đáo này, việc nghiên cứu và tìm cách bảo tồn là việc làm cần thiết và đáng được lưu tâm. Bảo tồn kiến trúc bình phong Huế không chỉ là bảo tồn, gìn giữ một nét kiến trúc Huế xưa mà còn phát huy một nét đẹp trong lối sống và tâm thức của người dân xứ Huế.
Ý Nghĩa Của Những Bức Bình Phong Xứ Huế
Trong kiến trúc xưa, có lẽ không nơi nào có nhiều bức bình phong như ở Huế. Khắp các cung đình, phủ đệ, đến các đền chùa, am miếu, đình làng, nhà thờ họ và nhà thường dân…đều hiện hữu những bức bình phong.
Muôn màu, muôn vẻ… bình phong
Xưa nay, người Huế vẫn tin theo “dịch lý” và “phong thủy” vào hàng nhất nước. Nhà vườn ở Kim Long, Vỹ Dạ, Phước Tích luôn luôn tập hợp một hệ thống kiến trúc sắp xếp theo chiều Bắc-Nam. Tuy rộng hẹp khác nhau, nhưng nhà nào cũng có kiến trúc tổng thể giống nhau, từ cổng, ngõ, bình phong, hòn non bộ, bể cạn, sân, nhà.
Cổng xây bằng gạch, lối vào ngõ thường được trồng những hàng râm bụt hoặc chè tàu cắt xén cẩn thận. Lối đi vào không bao giờ nhìn trực diện vào nhà chính, che cho lối đi là tấm bình phong, người vào nhà phải rẽ hướng khác để vào sân nhà.
Bức bình phong xứ Huế thường được làm bằng vôi, gạch, hay chè tàu, bông cẩn. Sau bức bình phong thường là hòn non bộ và bể cạn – yếu tố minh đường trong phong thủy làm nên một vũ trụ thu nhỏ theo quan niệm hướng nội. Vẫn còn rất nhiều bình phong cổ rải rác trên địa bàn Thừa Thiên Huế.
Một nhà vườn hơn 100 năm, ở xã Phú Thượng, huyện Phú Vang còn giữ đầy đủ: cổng, ngõ, bình phong, hòn non bộ, bể cạn, sân, nhà.
Bạn nên đến thăm Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, đây vẫn còn giữ được một số ít bức bình phong cổ (bằng gỗ quý) tuyệt đẹp, càng ngắm, càng có cảm giác như bị mê hoặc, do chúng hội tụ được những điều thần bí của phong thủy.
Trong thuyết phong thủy, bình phong tạo thành các yếu tố “triều”, “án”, có chức năng chủ yếu là gia tăng tính bền vững của cuộc đất, ngăn chặn khí xấu và các yếu tố bất lợi cho gia chủ. Về sau bình phong còn thêm chức năng trang trí mỹ thuật trong kiến trúc nhà cổ truyền thống.
Sau bình phong là hòn non bộ và bể cạn (yếu tố phong thủy)
Bức bình phong cổ ở xứ Huế gồm đủ loại chất liệu như gỗ, đan mây, vải, đá, gạch… song phổ biến nhất là loại bình phong xây bằng gạch đá, có kích thước lớn, ở ngoài trời.
Thường được trang trí công phu bằng cách chạm trổ, ghép sành sứ với các biểu tượng và mô típ: phúc- lộc- thọ- hỷ hay các linh vật như long, lân, quy, phụng, long mã… Làm nên giá trị mỹ thuật của bình phong cổ xây bằng đá gạch, không thể không kể đến công lao sáng tạo, truyền nghề của các nghệ nhân khảm sành sứ “giỏi nhất” thời Nguyễn, trên đất Phú Xuân- Thuận Hóa, như cụ Bát Mười, ông Trương Cửu Lập.
Nghệ thuật trang trí khảm sành sứ thường được sử dụng để trang trí ở cổng chùa đình, nóc mái, cửa sổ, đặc biệt là bình phong.
Bình phong long mã tại đình làng Dưỡng Mông, xã Phú Mỹ
Đỉnh cao của nghệ thuật khảm sành sứ là sử dụng những mảnh gốm sứ, mảnh chai cắt tỉa theo hình dáng và màu sắc, được gắn khảm rất tinh tế, bằng những chất kết dính (vôi hàu, mật mía đường) cùng những phụ gia kết nhuyễn (giấy dó, nhựa bông cẩn, dây tơ hồng).
Hiện nay tại lăng Tự Đức còn giữ được nhiều bức bình phong khảm sành sứ đẹp nhất nước, tiêu biểu là chiếc bình phong phía sau Ích Khiêm Các- thuộc Khiêm Cung, còn khá nguyên vẹn.
Nghệ thuật đan xen phong thủy
Người xưa tin rằng “long mã” là hóa thân của kỳ lân, một trong tứ linh (long, lân, quy, phụng), là linh vật báo hiệu điềm lành; là biểu tượng của sự thông thái, trường thọ, hạnh phúc.
Thời Nguyễn, từ cung đình đến dân gian, đều chịu ảnh hưởng truyền thuyết “long mã” khá sâu đậm, hình nó được thêu trên võ phục hàm “nhất phẩm”. Ngoài ra, trong Phật giáo, long mã là linh vật cõng trên lưng Luật Tạng, một trong ba phần cốt tủy của kinh sách nhà Phật (Tam Tạng Kinh).
Huế vốn là kinh đô của nhà Nguyễn, lại là nơi tập trung nhiều chùa chiền Phật giáo, nên trong nghệ thuật kiến trúc Huế, hình ảnh long mã xuất hiện rất nhiều. Hình ảnh “long mã” vừa để trang trí, vừa có công dụng phong thủy, ngăn chặn khí xấu và các yếu tố bất lợi cho gia chủ.
Chữ “thọ” được lồng vào hình tròn nằm giữa bình phong.
Trên bình phong cổ, có một điều không mấy ai chú ý về chữ “thọ” được lồng vào hình tròn nằm chính giữa trung tâm. Đây là điểm nhấn vừa trang trí vừa là cái gương, qua đó người khách có thể báo trước với chủ nhà về sự hiện diện của mình.
Đồng thời, người chủ nhà khi đã sửa soạn xong việc đón tiếp, sẽ đứng trước cửa, người khách nhìn qua ô tròn đó và biết mình nên đi vào, tránh sự cập rập cho việc tiếp đón. Chi tiết này là một sự tinh tế trong văn hóa ứng xử.
Cho đến nay, những bức bình phong xứ Huế vẫn giữ chức năng mỹ thuật đan xen với phong thủy, một phong cách độc đáo trong kiến trúc nhà Huế. Nhà giàu sang thì xây dựng bình phong bằng gạch, đá kiên cố.
Nghèo khó thì làm bình phong bằng cây kiểng như chè tàu, dâm bụt, tre trúc… Nhà cửa có thể sửa sang, nâng cấp nhưng các bức bình phong hàng trăm năm tuổi, đều được con cháu gìn giữ nguyên trạng…
Bình phong Phủ Đệ ở Huế
Nơi lưu giữ những ánh hào quang quá vãng
Phủ đệ là tên gọi chung chỉ những ngôi nhà được dựng lên khi các hoàng tử, công chúa đến tuổi trưởng thành, được phép ra ở riêng. Phủ là nơi ở của các hoàng tử sau khi lập gia đình.
Tùy theo tước vị của chủ nhân được Triều đình phong là tước công hay tước vương mà phủ ấy được gọi là Công phủ hay Vương phủ. Đệ là lối gọi tắt của từ đệ trạch, là nơi ở của Công chúa sau khi hạ giá, tức là Công chúa đã được gả chồng.
Khi những ông hoàng, bà chúa ấy qua đời, tòa chính đường trong phủ, nơi ở của các ông hoàng, bà chúa lúc sinh thời trở thành nơi thờ tự vong linh của chính họ. Do vậy, phủ đệ là chứng nhân lịch sử của thời vàng son danh gia vọng tộc của lớp vương tôn, công nữ quyền quý xưa.
Điển hình các phủ đệ Tùng Thiện vương, Tuy Lý vương, Kiên Thái vương, Mỹ Hóa công luôn được xem là di sản văn hóa sống động của đất cố đô, có từ Triều Nguyễn và vẫn còn tồn tại khá nguyên vẹn cho đến ngày nay.
Bình phong Phủ thờ Khánh Quận Công
Nghệ thuật đan xen phong thuỷ
Bình phong bắt nguồn từ các yếu tố “triều”, “án” trong phong thủy, chức năng chủ yếu là gia tăng tính bền vững của cuộc đất, ngăn chặn khí xấu và các yếu tố bất lợi xâm nhập vào phủ đệ.
Ngoài ra, bình phong còn thực hiện chức năng trang trí mỹ thuật và trở thành một nhân tố không thể thiếu trong kiến trúc phủ đệ. Tuy có quy mô diện tích rộng hẹp khác nhau tùy theo tước vị của chủ nhân phủ đệ nhưng phủ đệ nào cũng có kiến trúc tổng thể giống nhau, từ cổng, ngõ, bình phong, hòn non bộ, bể cạn, sân và nhà thờ.
Bình phong phủ đệ là một công trình kiến trúc mang nhiều giá trị về mặt thẩm mỹ, văn hoá nghệ thuật; đồng thời tập hợp các yếu tố tạo hình, các yếu tố này kết hợp chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất.
Phủ đệ có thể trùng tu, tôn tạo qua các giai đoạn khác nhau nhưng các bức bình phong hàng trăm năm tuổi đều được con cháu gìn giữ nguyên trạng. Các đề tài trang trí bình phong phủ đệ ẩn luôn chứa nhiều giá trị tạo hình độc đáo, đi kèm là ý nghĩa tâm linh tinh tế với những biểu trưng nhất định.
Các đề tài trang trí bình phong được thể hiện trên chất liệu nề vữa, khảm sành sứ nên dù bị phôi pha theo thời gian nhưng vẫn nhận ra nét tinh tế, tỉ mỉ, khéo léo ở từng chi tiết được các nghệ nhân sắp xếp một cách chính xác, phối màu hài hòa và có tính nghệ thuật cao.
Bình phong Phủ thờ Kiên Thái Vương
Kiểu thức trang trí và những ý nghĩa biểu tượng
Trong quan niệm người Việt, rồng luôn là con vật linh thiêng, biểu tượng cho quyền uy, sức mạnh. Môtip rồng trang trí trên bình phong phủ Tùng Thiện vương, Kiên Thái vương được thể hiện khá đa dạng, có bố cục đơn hoặc xuất hiện cùng nhiều môtip khác. Hình rồng về cơ bản mang nét tạo hình: miệng rồng hé mở lộ răng nhọn, tóc xõa hình nan quạt, thân chạm vảy đơn hoặc kép.
Người xưa tin rằng “long mã” là hóa thân của kỳ lân, một trong tứ linh (long, lân, quy, phụng), là linh vật báo hiệu điềm lành; là biểu tượng của sự thông thái, trường thọ và hạnh phúc nên hình tượng của long mã xuất hiện nhiều trong kiến trúc bình phong.
Đề tài trang trí hình lân hay long mã, người nghệ nhân cung đình xưa luôn tạo dáng cho chúng như đang chạy trên mặt nước, thể hiện biểu cảm của con vật linh. Trong cấu trúc long mã ở bình phong phủ Tuy Lý vương, Phú Bình quận vương, các nhịp điệu của hình thể long mã được tính toán thật tỷ lệ sao cho khép kín mặt phẳng của bình phong và tạo được ấn tượng sinh động, phản ánh chức năng biểu tượng cho chủ nhân của công trình.
Bình phong Phủ thờ Tuy Lý Vương.
Môtip phụng xuất hiện không nhiều bằng hình tượng long mã, rồng nhưng cũng được người ta tin rằng nó mang biểu tượng của phụ nữ. Dưới ý thức hệ Nho giáo, vai trò của người phụ nữ không được đề cao nên hình tượng phụng cũng được trang trí một cách khiêm tốn trên bình phong, thường xuất hiện trong dáng ngậm hàm thư đang bay, nằm trong biểu tượng của hệ thống bát bửu.
Môtip rùa xuất hiện ít nhưng ở các vị trí khác nhau, chúng được tạo dáng khác nhau. Lúc thì trên lưng rùa đội hòm sách hoặc cuốn thư, thanh gươm, cây bút… Đôi khi rùa được tạo dáng đội hình bát quái theo quan niệm vũ trụ quan Đông phương.
Phần trang trí ô vuông chữ nhật trên bình phong phủ đệ được đặt đăng đối, hài hòa về kích thước và màu sắc. Những vị trí này thường được trang trí bằng các môtip như hoa mai, hoa cúc, phật thủ, đề tài bát bửu và một số môtip hoa lá thiêng có tính chất tượng trưng, mang theo những biểu tượng ý nghĩa riêng.
Tuy được cách điệu bằng nghệ thuật tạo hình nhưng hình bát bửu là hình ảnh của các vật cụ thể như đồng tiền, ô trám, gương đàn, sáo sách, tù và, hình quạt, lá, khánh, mang ý nghĩa gắn với sự giàu sang.
Những loại hình của bộ bát bửu nêu trên đều được tạo hình bằng kỹ thuật điểm dải lụa uốn lượn bay bổng trong không gian, làm giảm đi sự khô cứng. Hình ảnh các loại quả như đào, lựu, quả Phật thủ biến thể thành đầu rồng, phụng cũng được thể hiện rất trau chuốt.
Các mảng trang trí về đề tài tứ thời ở các ô, hộc trên bình phong phủ Tuy Lý vương đã tạo nên cảm giác hài hoà giữa trang trí và hình khối thẩm mỹ của kiến trúc một cách rõ nét với tính định hướng tâm linh lắng đọng.
Trang trí chữ Thọ cách điệu kỹ hà và hoa văn dây trong ô hộc dài kết hợp với hoa văn mai rùa tượng trưng cho sự bền vững trường tồn mãi mãi. Thêm vào đó, hình hổ phù cũng được đắp nổi, gắn sành sứ bằng nề ngõa tạo hình cùng với mây xoắn trở thành biểu tượng của sự no đủ, bền vững.
Bình phong Phủ thờ Phú Bình Quận Vương
Trên đỉnh mái bình phong phủ Mỹ Hóa công, hình tượng đôi rồng chầu về biểu tượng mặt trời, các nét khảm sành sứ tỉ mỉ, tinh xảo, đuôi và vẩy rồng ở đây mang dáng vẻ hiền hòa, gần gũi. Đó là sự kết hợp lưỡng long chầu nhật, lưỡng long chầu nguyệt đi cùng với môtip mây.
Với kiến trúc bình phong, hình tượng rồng, mặt trăng, mặt trời, mây là những biểu tượng gắn với tầng trên, hoạt động của trời. Việc trang trí trên kiến trúc những môtip này cũng là thể hiện mong ước của con người có cuộc sống mưa thuận gió hòa, đảm bảo cho sự tồn tại và sinh trưởng của cư dân trồng lúa nước có đời sống gắn liền với thiên nhiên. Phía dưới đế bình phong có các họa tiết trang trí hoa văn mây, sóng nước, các hoa dây đan vào nhau trải dài phía dưới chân.
Đỉnh cao của nghệ thuật khảm sành sứ
Nghệ thuật khảm sành sứ được sử dụng phổ biến trên bình phong phủ đệ Tuy Lý vương, Tùng Thiện vương, Kiến Thái vương... Đó là những mảnh gốm sứ, mảnh chai cắt tỉa theo hình dáng và màu sắc, được gắn khảm rất tinh tế, bằng những chất kết dính (vôi hàu, mật mía đường) cùng những phụ gia kết nhuyễn (giấy dó, nhựa bông cẩn, dây tơ hồng).
Các nghệ nhân cung đình xưa đã sử dụng kỹ thuật ghép khảm sành sứ trên chất liệu nề ngõa, tạo ra mối quan hệ khăng khít như chất kết dính, làm tăng thêm nét thẩm mỹ cho tổng thể kiến trúc bình phong, xóa đi ranh giới cứng nhắc, xù xì của chất liệu để làm toát lên tinh thần mềm mại, sinh động dưới mỗi môtip trang trí.
Các chất liệu trong kỹ thuật nề ngõa, khi được kết hợp với nhiều chất liệu khác, tạo nên một bức tranh có vẻ đẹp hấp dẫn. Để tạo được hình tượng sống động, nghệ nhân phải có những chuẩn bị công phu về vật liệu, màu sắc nề họa, các vật phẩm trang trí khác.
Bình phong Phủ thờ Tùng Thiện Vương.
Qua các kiểu thức trang trí tạo hình tại bình phong phủ đệ, chúng ta có thể nhận thấy hoa văn trang trí đa dạng về kiểu thức, khác biệt, tinh tế và rất phong phú về đề tài.
Những giá trị nghệ thuật trang trí bình phong phủ đệ bổ sung một phần đáng kể trong nghệ thuật trang trí Triều Nguyễn được thể hiện trên nhiều chất liệu tạo hình như nề vữa, khảm sành sứ.
Sự kết hợp này khá nhuần nhuyễn và tạo nên một tổng thể tạo hình nhất quán, hợp lý trên cùng một công trình kiến trúc, góp phần vào việc mở rộng hơn nữa về ngôn ngữ nghệ thuật trang trí Triều Nguyễn nói riêng, trong mạch nguồn nền mỹ thuật truyền thống dân tộc nói chung.