
I. Hồ Xuân Hương, Người Khiến Cho Các Thi Sĩ Đời Sau, Phải Nghiêng Mình Nể Phục
Sinh năm 1772 và mất năm 1822, đến nay, tính ra đã hơn hai trăm năm, vậy mà người đời sau, vẫn còn tiếp tục các cuộc tranh cãi, xoay quanh về cuộc đời và các sáng tác của bà.
Bà là thi sĩ Hồ Xuân Hương.
Thậm chí, người ta còn cho rằng, liệu, có thật hay không, một thi sĩ tên là Hồ Xuân Hương.
Theo một chuyên gia người Mỹ, nghiên cứu về văn học Việt Nam, ông John Balaban thì tên thật của bà là Hồ Phi Mai, được sinh ra ở Khán Xuân, Hà Nội. Khi làm thơ, bà lấy bút hiệu là Cổ Nguyệt Đường, đây là tên của dinh thự, nằm cạnh Hồ Tây, mà cha bà đã xây cho gia đình mình ở.
Sự thực về tình yêu và hôn nhân của bà, lại càng là một vấn đề nan giải cho các nhà nghiên cứu, vì có quá nhiều các thông tin khác nhau, mà không phải thông tin nào cũng chứng thực được.
Thơ bà, luôn được viết, hoặc thất ngôn bát cú, hoặc thất ngôn tứ tuyệt. Khoan nói đến nội dung của những bài thơ thể hiện sự sắc sảo, thông minh, hiếm có của tác giả, chỉ nội nói đến, chỉ nội đề cập đến - với bút pháp điêu luyện, bà không chỉ giữ được niêm luật chặt chẽ mà còn khiến các sáng tác của mình luôn cân đối, hoàn mỹ, khó ai bằng, khó ai sánh bằng - là cũng đủ cho các thi sĩ đương thời cũng như hậu bối ngàn sau phải nghiêng mình nể phục.
Và, nể trọng!
******
II. Hồ Xuân Hương Và Bài Thơ Canh Khuya
Một trong những bài thơ “tục mà thanh” của bà, mang đầy khí chất của việc đòi hỏi nữ quyền, tranh đấu nữ quyền, đó là bài:
Canh Khuya
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan mấy nước non
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình son trẻ tí con con.
Có người phân tích, cho rằng hai câu đầu của bài thơ là bày tỏ sự bẽ bàng của thân phận một cách dữ dội. Rồi thì tính từ “trơ” là mô tả sự tủi hổ, chai lì, không còn cảm giác. Rồi thì chữ “cái” là rẻ rúng, mỉa mai. Rồi cay đắng, rồi bạc phận, xót xa, bi kịch, vân vân và mây mây, toàn những từ ngữ yếm thế, mô tả một tính cách yếm thế.
Rồi quay ngoắt ba trăm sáu mươi độ, lại nói trong những câu sau, Xuân Hương bày tỏ sự phẫn uất, bướng bỉnh, ngang ngạnh, với cảnh chồng chung vợ chạ, rồi kết luận: bi thảm, chán chường như vậy mà Xuân Hương vẫn khát khao.
Chèn ơi.
Thiệt là tội cho bà Xuân Hương của tui quá chừng chừng.
Tính cách Xuân Hương vốn mạnh mẽ. Bà là người đả phá đến cùng sự phân biệt đối xử, trọng nam khinh nữ trong chế độ phong kiến.
Thơ bà không chỉ mang tính châm biếm rất thi vị mà bà còn luôn tỏ ra thách thức, không ngại những thị phi, không sợ những điều tiếng, thì sao lại có thể đau buồn, tủi phận, cố tạo ra một vẻ ngoài thê thảm và đáng thương như vậy chớ?
******
II.1. Trơ Cái Hồng Nhan Mấy Nước Non
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan mấy nước non
Chén rượu hương đưa say lại tỉnh
Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn
Khuya, thời xưa, thì lúc nào mà chẳng có tiếng trống điểm canh, trống tuần canh. Nhưng nghe được nó, chứng tỏ tác giả, đến giờ ấy, vẫn chưa say giấc mộng đẹp. Bà còn thức. Thức cùng chén rượu đang uống dở dang.
Hương rượu ngan ngát đưa thơm, khiến say rồi lại tỉnh, tỉnh rồi lại say, như vầng trăng trên cao kia, khi khuyết khi tròn vậy đó.
Tác giả cảm thấy buồn. Nỗi buồn của trống vắng, một mình, cô đơn, dù trong bốn câu thơ, không hề xuất hiện từ cô đơn hay buồn chán.
Cô đơn, xưa nay, chẳng phải là chuyện lạ lùng gì. Cô đơn là cái thứ mà ông trời hào phóng tặng ban cho loài người. Sinh vào đời, cô đơn. Từ giã đời, cô đơn. Và suốt trăm năm cùng cuộc đời, cô đơn cũng vẫn đi đi về về cùng nhân loại, vạn vật, không ngơi nghỉ.
Nỗi cô đơn ấy, được bộc lộ rất rõ nét qua câu thứ hai của khổ thơ - trơ cái hồng nhan mấy nước non. Nếu đêm nay có hai mình, thì đã hẳn, cái hồng nhan ấy được ủ ấm rồi, đâu có lạnh lùng, quạnh quẽ đến nỗi phải trơ ra thế kia.
Từ “cái” ở đây, không có nghĩa là bà đang tự rẻ rúng “cái” của mình. “Cái” là chiếc, là số từ, số đếm. “Cái” là một, là duy nhứt, đang vô cùng lẻ loi và trơ trọi.
Trơ trong ấm ức, trơ trong bực bõ. Nó khác lắm với những bài phân tích trên mạng, mười như một, đều cho rằng, nước non này, là nói đến non sông, nói đến núi sông, đất nước.
Rồi hô hoán, la làng lên, bà Xuân Hương, sao mà bả so sánh táo bạo quá.
Chèn ơi.
Một mình trong cảnh khuya, một mình bên chén rượu, nếu là nam nhi, nghĩ đến chuyện non sông, thì may ra, còn có lý. Đằng này, cụ thể trong bài Canh Khuya này, bà Xuân Hương có bận tâm gì đến núi sông đâu mà so sánh với không so sánh. Là bà nói về tình cảnh của bà thôi. Tình cảnh của một người đàn bà thơ, trẻ, đẹp, mà lại một mình, mà lại cô đơn.
Và bà cảm khái, bà không đáng phải cô đơn như thế một chút nào.
Trơ cái hồng nhan mấy nước non, nghĩa là, bà quá chừng nước non, mấy bận nước non luôn, đêm ấy!
******
II.2. Mảnh Tình Son Trẻ, Tí Con Con
Xiên ngang mặt đất rêu từng đám
Đâm toạc chân mây đá mấy hòn
Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại
Mảnh tình son trẻ, tí con con
Tôi thích thơ bà Hồ Xuân Hương lắm, không chỉ thích mà còn nể phục bà nữa. Nể phục cách tạo ra trong thơ những hình ảnh rất khơi, rất gợi, rất hấp dẫn, rất xinh đẹp, ngộ nghĩnh và đáng yêu.
Giới làm thơ xưa nay, mấy ai sánh được với bà.
Rất đẹp. Các bạn thấy không, xiên ngang cái mặt đất này, cái quả đất này, chính là cỏ rêu từng đám, từng đám - là nói phụ nữ chúng tôi đó. Xiên ngang, ngang ngược, mà rất xinh, rất ngộ, có phải thế không.
Vậy mà nhiều bài phân tích trên mạng lại quả quyết - đâm toạc chân mây đá mấy hòn, là nói phụ nữ phải mạnh mẽ như rêu, rắn chắc như đá, rồi thì, đây là tâm trạng phẫn uất, oán hờn, phản kháng quyết liệt với tạo hóa.
Đọc mà phát chóng mặt luôn. Sao lại nỡ gán cho bà Xuân Hương nhiều tính cách kỳ quái, khiến bà trở thành một nữ nhơn trong bộ dạng méo mó - cộc cằn, cáu kỉnh, cau có, khó chịu, trong khi, bà Xuân Hương, bả duyên hết biết luôn.
Sau xiên ngang mặt đất rêu từng đám, là đâm toạc chân mây đá mấy hòn. Mấy hòn nha các bạn. Hòn chớ không phải tảng, tảng đá, hòn chớ không phải cục, cục đá. Hòn đá, đâm toạc chân mây. Hòn đá, xuyên qua lớp cỏ rêu, xé tan bức mây phía cuối trời.
Xiên ngang đối với đâm toạc. Mặt đất đối với chân mây. Rêu đối với đá. Từng đám đối với mấy hòn. Từng cặp, từng cặp như thế, đối xứng, chặt chẽ, hài hòa, đọc lên nghe rất thích và cảm thấy rất hay.
Tuyệt tác.
Song, bà cũng than. Hồng nhan thì hồng nhan, nhưng nếu cứ hết tháng tận rồi lại năm qua, cứ hết tết này rồi lại đến tết kia, cứ hết xuân đi rồi xuân lại trở lại, ngán lắm, chớ chẳng chơi.
Ngán đây là ngán cái tuổi già ấy mà. Già, ai mà không ngán. Nói không ngán, chỉ là tự dối lòng mình thôi. Đàn ông đàn ang kia còn quắn quíu, huống hồ gì.
Huống hồ gì - mảnh tình son trẻ, tí con con!
******
III. Hồ Xuân Hương Và Bài Thơ Đánh Đu
Đánh đu là một trò chơi dân gian đã có từ lâu đời, ở nước ta. Trong các lễ hội làng quê, đặc biệt là những lúc xuân về, trò chơi đánh đu của trai gái luôn được diễn ra trong cảnh tưng bừng, náo nhiệt.
Là tôi google, thấy giải thích thế, thì biết thế, chớ thế hệ tôi, có thấy trò chơi này bao giờ đâu, cả thành phố lẫn làng quê.
Đánh Đu
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông
Trai co gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân đã biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.
******
III.1. Bài Thơ Cây Đánh Đu Của Vua Lê Thánh Tông
Trong Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, tập thơ quốc âm thứ hai, sau quốc âm thi tập thứ nhứt của Nguyễn Trãi, xuất hiện ở nửa cuối thế kỷ XV, có bài thơ chữ Nôm, Cây Đánh Đu, được viết bởi vua Lê Thánh Tông:
Bốn cột lang nha cắm để trồng
Ả thì đánh cái, ả còn ngong
Tế hậu thổ, khom khom cật
Vái hoàng thiên, ngửa ngửa lòng.
Tám bức quần hồng bay phơi phới
Hai hàng chân ngọc đứng song song
Chơi xuân hết tấc xuân dường ấy
Nhổ cột đem về để lỗ không.
Bài Đánh Đu của bà Xuân Hương khá giống với bài thơ Cây Đánh Đu của Lê Thánh Tông, nhưng đọc kỹ sẽ thấy nội dung hai bài khác nhau.
Bài của vua Lê Thánh Tông thì nói rõ, hai người trên cây đu, đều là nữ. Còn bài của bà Xuân Hương thì tả về một đôi nam nữ đánh đu. Trong bài, bà sử dụng nhiều từ táo bạo, gợi ra những hình ảnh đụng chạm của hai người khác giới, dẫn người đọc đến những liên tưởng phồn thực, sinh động, cuốn hút.
Phồn thực, sinh động, cuốn hút, nhưng không tục tĩu. Đọc, chỉ thấy buồn cười. Là buồn cười với những hình ảnh tả thực, tả chân, trong trò chơi đánh đu ấy!
******
III.2. Trai Co Gối Hạc Khom Khom Cật, Gái Uốn Lưng Ong Ngửa Ngửa Lòng
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người thì lên đánh kẻ ngồi trông
Trai co gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bà Xuân Hương khen khéo là khen thiệt. Trong cái khen thiệt đó, bà cũng có chút chọc ghẹo, chớ chẳng phải không. Kiểu như là, khéo ghê ta, khéo ghê ha, bốn cây tre trồng để treo đu. Khéo ghê ta, khéo ghê ha, bốn cái giò, bốn cái cẳng chưn, leo lên đánh đu.
Áp vào nhau, vừa khít. Ấp vào nhau, vừa sít.
Trò đánh đu này coi vậy mà dzui, coi vậy mà tếu hết sức. Tếu, trước hết ở chỗ, leo lên cây đu, như trong bài tả, là một trai, một gái, cứ hết ngửa lên rồi sấp xuống, bay qua bay lợi, quần áo phất phơ, tóc tai dựng đứng. Tếu, sau đó, còn nằm ở chỗ, một đống luôn, gái trai đứng ngồi lổm ngổm phía dưới, vừa cười, vừa lấy tay chỉ trỏ, bình phẩm, khen chê.
Nghĩ lợi, thấy ông bà mình hồi xưa cũng bạo lắm chớ bộ. Bạo ở chỗ, leo lên đu mà không cần bảo hiểm, té một cái, chấn thương sọ não chắc luôn. Sau nữa, cũng va chạm, đụng này đụng nọ, lúc đu. Vậy mà đó giờ, cứ ngỡ ông bà mình, luôn tuân theo - nam nữ thụ thụ bất thân, không hà.
Chữ bà Xuân Hương dùng, thì khỏi nói rồi, xổ toẹt, gọi thẳng tên, chỉ đích danh, không lòng vòng, không uốn éo, không bày biện, hoa mỹ. Có trai thì có gái. Có co thì có uốn. Có gối thì có lưng. Có hạc thì có ong. Có khom khom thì có ngửa ngửa. Có cật thì có lòng.
Đối nhau từng cặp một. Ngắn gọn mà giòn giã, mà hay.
Trai thì cao quý như hạc, gái thì xinh xắn, đẹp đẽ, đáng yêu, thắt đáy lưng ong. Thế nhưng, trong tư thế khêu gợi công khai, lộ liễu này, thì hạc hay ong gì, cũng đều một giuộc, như nhau cả thôi.
Ấy chính là nét tếu táo của bà, mà ngay cả bậc nam nhi, sống lui về hai trăm năm trước, mấy ai đã dám làm thơ tả thực như thế.
Nhưng bà thì dám!
******
III.3. Cọc Nhổ Đi Rồi, Lỗ Bỏ Không
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân đã biết xuân chăng tá
Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không.
Bốn mảnh đối với hai hàng, quần hồng đối với chân ngọc, bay đối với duỗi, phấp phới đối với song song - Xuân Hương thật tuyệt.
Câu thơ viết rất chắc tay, chứng tỏ người viết rất tự tin, viết xuống rồi là như thơ khắc trên đá, khó lay khó chuyển, khó thay thế, khó mất đi.
Nữ mà làm thơ như thế này, tôi cho là rất hiếm, trăm năm chỉ một. Ngoài tài chữ, Xuân Hương còn là một người hết sức thông minh.
Thông minh, mạnh mẽ, nhưng lại kèm theo dí dỏm, nên - thi vị.
Hai câu: Chơi xuân đã biết xuân chăng tá / Cọc nhổ đi rồi, lỗ bỏ không - nhiều người cho rằng, đây là lời trách móc, nuối tiếc. Trách móc người đời là đào lỗ lên, rồi nhổ cọc đi mà không lấp lại, thật là vô tâm. Và nuối tiếc, cuộc vui sao mà qua nhanh quá.
Lý giải như vậy thì cũng chẳng sai. Kiểu như là thơ tục mà cố giảng cho thanh, giảng sao cho thiệt thanh. Tuy nhiên, tôi nghĩ, có cố giảng thanh đến mức nào đi nữa, thì chữ nghĩa vẫn ràng ràng ra đó. Càng làm cho nhẹ đi, khác đi, có khi, lại càng phản tác dụng.
Theo tôi, đây là kinh nghiệm của Xuân Hương. Không cứ gì phái nam hay phái nữ, cuộc vui nào rồi cũng đến lúc phải ngừng. Câu thơ là câu nhắc nhở: chơi xuân mà đã biết cách chơi xuân chưa? Đừng tưởng rằng, chơi xuân chỉ toàn là những niềm vui.
Bên cạnh những niềm vui, sau những niềm vui, bao giờ cũng là những nỗi buồn, nỗi lo âu, phiền muộn!
******
IV. Mối Tình Thơ Giữa Bà Hồ Xuân Hương Và Nguyễn Du
Cho đến bây giờ, Hồ Xuân Hương vẫn còn là một ẩn số, chưa rõ ràng, chưa sáng tỏ, nhiều điều. Bà vẫn còn là một thách thức với các nhà làm văn học sử, các nhà nghiên cứu văn học.
Vì thế cho nên, giai thoại về bà cũng nhiều, thêu dệt về bà cũng nhiều, đoán này rồi đoán nọ về bà cũng lắm. Nhưng trong các hư hư thực thực ấy, thú vị nhứt vẫn là chuyện bà Hương với ông Du, hai người, có thiệt là từng có một tình yêu với nhau không? Và các chuyên gia, các học giả, vẫn đương ráo riết giải mã cái vụ này.
Người ta đi tìm Cổ Nguyệt Đường của nàng Hồ Xuân Hương, là khu đất nằm bên bến Nghi Tàm, cạnh chùa Kim Liên. Rồi người ta phát hiện ra, Nghi Tàm có đài Khán Xuân. Cạnh đài Khán Xuân là gác tía của chàng Nguyễn Du.
Trúng phóc luôn.
À, trúng phóc là tôi nói vui thôi, chớ người ta vẫn đang tiếp tục cái việc vừa kỳ công vừa vô cùng khó khăn ấy. Họ đang cố đi tìm những dữ liệu để chứng minh, ba năm (1790 - 1793), có phải là thời gian của mối tình đẹp như mơ giữa chị Hương và anh Du hay không?
Tôi là tôi ủng hộ mối tình này lắm lắm. Nghe không, cũng đủ thích rồi, đủ muốn tác hợp họ thành đôi rồi, huống hồ chi, đó là sự thực. Dễ thương xiết bao.
******
V. Hai Bài Thơ Của Hai Người Thơ, Hồ Xuân Hương Và Nguyễn Du
Tương truyền, bài thơ chữ Hán, Mộng Đắc Thái Liên dưới đây, của Nguyễn Du (Nhất Uyên dịch thơ) là viết cho Hồ Xuân Hương:
Xắn gọn quần cánh bướm
Chèo thuyền nan hái sen
Nước hồ dâng lai láng
Bóng người soi nước trong
Tây Hồ, hái, hái sen
Hoa gương chất mạn thuyền
Hoa tặng người mình kính
Gương tặng người mình thương
Sáng nay đi hái sen
Hẹn láng giềng đi với
Nàng đến tự bao giờ
Cách hoa nghe cười nói
Hoa sen ai cũng yêu
Cọng sen nào ai thích
Trong cuống có tơ bền
Vấn vương hoài không dứt
Lá sen màu xanh xanh
Hoa sen đẹp xinh xinh
Hái chớ làm lìa ngó
Năm sau, sen chẳng sinh.
Người ta cũng đồ rằng, bài Hỏi Trăng của Xuân Hương là bài thơ viết về buổi chớm phải lòng của bà với Nguyễn Du:
Trải mấy thu nay vẫn hãy còn
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn
Hỏi con bạch thố đà bao tuổi
Hỏi chị Hằng Nga đã mấy con
Đêm tối cớ chi soi gác tía
Ngày xanh còn thẹn với vừng son
Năm canh lơ lửng chờ ai đó
Hay có tình riêng với nước non.
******
VI. Mở Toang Ra Cho Thiếu Nữ Rước Xuân Vào
Nếu ai nói rằng, thơ Hồ Xuân Hương là thơ sex, thơ tục, thì quả là nói ẩu, nói bừa, nói vô căn cứ, nói mà chẳng hiểu gì về cuộc đời cũng như là sự nghiệp sáng tác của bà.
Bà có tập thơ mang tên Lưu Hương Ký, bao gồm những bài viết về mối tình thiết tha của đời một nữ lưu, tài hoa rất mực, dành cho Nguyễn Du - kỳ tài bậc nhất ở thế kỷ mười tám, mười chín.
Và còn rất nhiều bài thơ, được cho là làm vì nhau, được cho là dành để gởi tặng đến nhau, của đôi tình nhân tuyệt tài Hồ Xuân Hương - Nguyễn Du. Nhưng vì trang viết có hạn, tôi xin gác lại những lá thơ tình, đồng thời cũng là những bài thơ tình thiết tha, nồng cháy ấy.
Hẹn các bạn vào một dịp khác.
Trước khi dừng bài viết, xin gởi đến các bạn một Câu Đối Tết, rất rất hay của bà Hồ Xuân Hương:
Tối Ba Mươi Sáng Mồng Một
Tối Ba Mươi, khép cánh kiền khôn, ních chặt lại kẻo ma vương đưa quỷ tới
Sáng Mồng Một, lỏng then tạo hoá, mở toang ra cho thiếu nữ rước xuân vào
Tối và sáng là thời gian. Âm và dương, xấu và đẹp, là nhận định. Đóng và mở, đưa và rước, là thái độ, hành động.
Tròn trịa một vòng tạo hóa, kiền khôn!
Sài Gòn 14.05.2025
Phạm Hiền Mây
Nguồn: Fb Phạm Hiền Mây
