User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 

louise labe 126 68 18

Louise Labé, (1524-1566) còn được biết qua tên La Belle Cordière (The Beautiful Ropemaker), là một nhà thơ nữ người Pháp của thời kỳ Phục Hưng (Renaissance) sinh ra ở Lyon, con gái của một thương gia chuyên sản xuất dây thừng Pierre Charly và người vợ thứ hai của ông, Etiennette Roybet.

Hồ sơ cho thấy cha của Labé, mặc dù khởi đầu khiêm tốn, dần dần đã có uy tín trong xã hội. Trong thời kỳ niên thiếu, có lẽ trong một trường tu viện, Labé nhận được một nền giáo dục đa ngữ (tiếng Hy Lạp, tiếng Latin, tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha) và âm nhạc với đàn lute.

Là một phụ nữ trẻ, Labé được đề cao như một nữ kỵ sĩ và bắn cung. Trong bài viết tiểu sử đầu của cô, cô được gọi là "người đẹp Amazon" Cô mặc quần áo nam và chiến đấu như một hiệp sĩ trên lưng ngựa trong hàng ngũ của Dauphin of France (sau đó là vua Henry II) tại cuộc bao vây của Perpignan. Cô cũng được biết đã từng tham gia vào giải cưỡi ngựa đấu thương (jousts) ở Lyon để chào mừng chuyến vua Henry II của Pháp đến thăm thành phố này.

Giữa năm 1543 và 1545, cô kết hôn với Ennemond Perrin, Lyon theo ý muốn trong di chúc của cha cô, chồng cô (lớn hơn Labé 30 tuổi) cũng là một thương gia trong ngành sản xuất dây thừng.

Lyon là trung tâm văn hóa của nước Pháp trong nửa đầu của thế kỷ thứ mười sáu và Labé thường là người tổ chức những buổi họp văn học với rất nhiều những nhà thơ nổi tiếng ở Lyon và văn nhân tham gia.

Nhà thơ Olivier Magny, vào năm 1555 đi qua Lyon trên đường đến Rome, trong thời gian này đã gặp và đã yêu Labé, và là chủ đề của những bài sonnet tình yêu của Labé.

Có lẽ lấy cảm hứng từ các ấn phẩm lưu lại của bộ sưu tập các bài thơ tình của Pernette Du Guillet, năm 1545 Labé bắt đầu làm thơ. Mười năm sau, vào tháng 3, 1555 Labé chính thức cho xuất bản tác phẩm của mình. Trong tác phẩm này có chứa hai mươi bốn bài thơ sonnets tình cảm của Labé. Năm 1557, chồng Labé qua đời.

Năm 1564 bệnh dịch hạch bùng phát ở Lyon, và vì sức khoẻ kém dần, Labé qua đời ngày 25 tháng 4,1566, với tuổi 42, và được chôn cất tại vùng Parcieux-en-Dombes, ngoài Lyon.

Mặc dù vẫn có những bàn cãi về cuộc đời riêng tư của Labé, nhưng những nhà phê bình văn học thường chỉ trú trọng đến những bài văn của Labé, nhất là đến những bài thơ. Tác phẩm của bà gồm có hai bản văn xuôi: một về lời nói của nữ quyền, khuyến khích, thúc giục phụ nữ viết, cuốn này để tặng cho một nữ lưu quý phái của Lyon, Clemence de Bourges; và cuốn thứ hai mang tên Sự tranh luận về điên cuồng và tình yêu /Débate de Folie et d’Amour, thuộc truyền thống lâu đời với những ví dụ từ thời cổ đại cho đếnTrung cổ, một truyền thống đã tạo đuợc tiếng tốt trong cận đại qua tác phẩm trào phúng của Eramus, đó là Praise of Folly/Khen ngợi Dại dột. Tác phẩm Débate de Folie et d’Amour trên đã được dùng làm nguồn cho một trong những chuyện ngụ ngôn của Jean de la Fontaine vào cuối thế kỷ thứ 16.

Tập thơ duy nhất của Labé gồm ba bài hát ta thán (elegies) theo phong cách của tác phẩm Heroides của Ovid, và hai mươi bốn bài sonnets viết theo lối cổ truyền. Chủ đề của tập sonnet là sự khao khát, sự dằn vặt thống khổ, và sự hài lòng của một tình yêu nồng nàn, say mê. Văn phong của Labé có thể nói rất trực tiếp, sống động, không màu mè và gần với đương đại hơn là với thế kỷ 16. Và vì thế thơ văn của Labé được công nhận và tán thưởng nhiều hơn trong những thế kỷ cận đại.

"Le plus grand plaisir qu'il soit après l'amour, c'est d'en parler".

Ngày 22 tháng 5, 2015 Pháp đã cho phát hành một con tem mang hình Louise Labé và đàn lute do Elmoise Oddos sáng tạo, tem đuợc lưu hành ngày sau đó 23 tháng 5, 2016.

Trong con tem, có hình phía sau là nhà thờ Saint Jean de Lyon, France.

louise

Giới thiệu một bài thơ sonnet của Louise Labé

Sonnet III

Ô longs désirs, ô espérances vaines, 
Tristes soupirs et larmes coutumières 
A engendrer de moi maintes rivières, 
Dont mes deux yeux sont sources et fontaines ! 
Ô cruautés, ô duretés inhumaines, 
Piteux regards des célestes lumières, 
Du cœur transi ô passions premières, 
Estimez-vous croître encore mes peines ?  
Qu'encore Amour sur moi son arc essaie, 
Que nouveaux feux me jette et nouveaux dards, 
Qu'il se dépite, et pis qu'il pourra fasse:  
Car je suis tant navrée en toutes parts 
Que plus en moi une nouvelle plaie 
Pour m'empirer, ne pourrait trouver place. Louise Labé. (1555)

Thi khúc số 3

Ðau Thương Tình Ái

Ôi khát vọng đằng đẵng, hy vọng hão huyền, 
Thở dài thườn thượt nước mắt tràn trề 
Biến thành dòng sông chảy miết, 
Từ đôi mắt tuôn ra như suối nước phun!  
Ôi tàn nhẫn cứng rắn vô nhân thế, 
Ban phát thương hại từ ánh sáng trần gian, 
Giáng vào niềm đam mê nồng cháy ban đầu, 
Liệu có lường được nỗi đau đớn tôi đeo?  
Ấy thế mà Ái tình còn bắn cung tên, 
Lửa tình nồng và phi tiêu mới, 
Chẳng chịu buông thả tôi ra: 
Tôi đang khốn khổ vô vàn 
Con tim này đã ngút ngàn sầu đau, 
Tổn thương còn có chỗ nào đèo thêm. Sóng Việt Đàm Giang phóng tác

Sonnet III.

Wounds of Love

Long nurtured desires to vainglorious hopes 
Causing sad sighs and customary tears 
Flowing into me in tumultuous rivers 
Likened to my eyes as original springs and fountains! 
Inhuman hardships, fathomless cruelties, 
A pity cast from sad celestial lights, 
As my first passions benumbed my heart. 
Could love again increase my pains? 
Or Cupid on my heart aim its arrow 
Setting me on fire and throwing its new knives 
As it is vexed and capable of such deed: 
I am so grieved within all my limbs 
A new wound on me I could no longer sustain 
And not endure any more mortal hurts. Translated by Quoc Sung Ducam

Ghi chú.

Sonnet. Từ ngữ sonnet/thi khúc xuất phát từ chữ sonetto (tiếng hát dịu dàng) hay có thể từ cổ ngữ suono /sound (âm thanh) mà ra.

Thi khúc là thể thơ 14 câu, nói chung được soạn với bốn phân đoạn (quartozain) có cấu trúc hai đoạn âm stanza 4/4 (abba, abba) và một kết âm stanza 4/2.

Sóng Việt Đàm Giang 
24 September, 2016
 

Tìm các bài VĂN khác theo vần ABC . . .

Tống Phước Hiệp

Địa chỉ E-Mail để liên lạc với chúng tôi: trangnhatongphuochiep.com@gmail.com