User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
tuvnch
 
"Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!“
 
Câu thơ bất hủ ấy, chinh phụ nào không biết, ngay cả nhà thơ Hữu Loan cũng còn viết:
 
Lấy chồng đời chiến binh
Mấy người đi trở lại?
 
Bởi vậy, khi chấp nhận làm người chinh phụ, Lãm Thuý đã chuẩn bị sẵn cho mình những tình huống’ đau thương:
 
Nếu Anh chết khi chúng mình chưa cưới
Em mang thân đi phục vụ cho đời
Dạy học trò: "Quê hương mình lửa khói
Các em lớn lên nối lại tình người."
 
Nếu Anh chết khi chúng mình mới cưới
Cho em xin một viên đạn chung tình
Dù với Mẹ Cha – Em thành trọng tội
Với đàn em – Không trọn nợ gia đình!
 
Nếu Anh chết khi con chưa chào đời
Em sẽ nén lòng nuốt lệ làm vui
Nói với con thơ còn trong bụng mẹ:
“Chưa biết Cha – Con đã mất cha rồi!"
 
Nếu Anh chết khi con còn trong nôi
Em sẽ buồn đau đến suốt kiếp người
Nhưng còn có con, là còn lẽ sống
Nó như hiện thân của kẻ qua đời
 
Chiến trường giết dần những người tuổi trẻ
Súng đạn còn hơn định mệnh khắt khe
Nếu phải bỏ lại một phần thân thể
Em vẫn thiết tha mong đón Anh về.
 
Vậy mà Lãm Thuý đã lầm, những người chiến sĩ ấy không chết giữa sa trường mà bị đày đoạ trong chốn ngục tù đói lạnh, để người vợ trẻ mòn mỏi trong nỗi nhớ thương, đau xót:
 
Từ ta thôi mặc áo len
Để cơn lạnh nhắc đừng quên có người:
Áo không đủ ấm đêm dài
Cơm không no dạ những ngày lao lung …
 
Những người đàn bà trẻ ấy mới hơn hai mươi tuổi, lòng đầy mộng mơ, cơn quốc biến cuốn người chồng đi vào nơi rừng sâu núi thẳm, tù ngục đoạ đày, để lại đám con thơ. Nàng vừa nuôi con, vừa nuôi chồng, vừa chịu đựng nỗi cô đơn, vừa chống chọi với những nỗi cám dỗ. Đêm đêm nằm nghe thanh xuân trôi đi…:
 
Dẫu không thể chờ nhau mà hoá đá
Thì mười năm đâu phải chỉ vài đêm
Bao nhan sắc cùng thanh xuân tàn tạ
Lòng xót xa từng buổi nắng qua thềm!
 
Thời gian nào mà chẳng vô tình với nhan sắc của phụ nữ, cho nên:
 
Dẫu chưa bạc tóc thề xưa óng mượt
Nhưng thời gian đâu phải chẳng vô tình
Những năm tháng cách xa và chờ đợi
Chắt cạn đời ta trọn vẹn xuân xanh!
 
Chờ đợi, chờ đợi trong vô vọng, không mong có ngày về, không mong còn tương phùng, thế nhưng vẫn chờ vì dù thân phận đàn bà, chẳng biết gì về chính kiến, nhưng có một điều những “Ngục Phụ” ấy không bao giờ quên. Đó là chồng nàng chiến đấu cho lý tưởng Quốc Gia và nàng đứng cùng chồng trên một chiến tuyến.
 
Cũng chính lý do đó, khi đang dạy học dưới mái trường “Xã hội chủ nghĩa", Lãm Thuý_dù sức yếu thế cô, bị trù dập phũ phàng vì lý lịch, cũng đã đứng lên hùng dũng đính chính rằng: "Chồng tôi bị bắt ngoài mặt trận, chồng tôi là Tù Binh chứ không phải Hàng Binh!"
 
Và người cô phụ ấy luôn luôn nghĩ về nỗi đói’ lạnh, nỗi đoạ đày cuả chồng mình:
 
Chăn chiếu vô tình không đủ ấm
Làm sao chia bớt lạnh phương Người?
 
Thay chồng để nuôi dạy con thơ, người đàn bà nhiều lúc quá yếu mềm, không đủ uy dũng để làm cho con nghe lời, đã phải giả lời nhắn nhủ cuả chồng để dạy con ngoan hơn:
 
Con ơi! Con ở lại nhà
Nghe lời Mẹ dạy, cho Cha vui lòng
Cha đi cách núi, xa sông
Nói con Thuý Trúc nó không có lỳ
Cha đi, mai mốt Cha về
Mua bánh, áo đẹp đủ đầy cho con.
 
Vậy mà có kết quả mới hay chứ!
 
Rồi thì “Cách Mạng" cũng “Khoan hồng", trả người về. Nhưng đó hoàn toàn là một người mới. Con người mới này nếu không bệ rạc về thân xác thì cũng chán chường về tinh thần, không yếu đau bnh tật thì cũng ngơ ngẩn, yếm thế và người vợ sau bao nhiêu năm dài thăm nuôi, chờ đợi đã phải thất vọng mà than rằng:
 
Có những lúc gặp nhau ta phải đổi
Nghìn gian nan đường diệu vợi, sơn trường
Hơn ai hết, ta tưởng mình sẽ hiểu
Thế nào là giá trị của trùng hoan
Nhưng cuộc sống những con người thất chí
Sự mỏ mòn chai san. với đau thương
Đã biến chúng ta thành người ích kỷ
Và đánh mất đi những nỗi dịu dàng
 
Chính cuộc sống chung đầy ngỡ ngàng ấy đã khiến ngươì vợ tự hỏi:
 
Có thật lòng vẫn yêu như ngày cũ?
Rất ngọt ngào từng tiếng nói, bàn tay
Hay ta đã tặng nhau nghìn thác lũ
Những đắng cay, hằn học của cuộc đời?
 
Và rồi nàng chợt hiểu: Hệ lụy cuả ngày 30-4, hệ luỵ của cuộc đổi đời là trùng trùng đổ nát, tang thương. Đổ vỡ tận tâm hồn!
 
Rồi đến cuộc tái định cư sang Hoa Kỳ, thêm một cuộc đổi đời nữa, lần này thì xa lắc, xa lơ. Nỗi hệ lụy vươn dài cánh tay bi đát.
 
Người Anh hùng xưa, với tháng năm đoạ đày với niềm đau tủi khôn nguôi của kẻ chiến bại, với lòng ngao ngán, chán chường, dường như không thể nào thích ứng được với cuộc sống mới, người vợ, thay vì là người được bảo bọc, che chở, lại phải cố gắng biến mình thành vững mạnh, một sức mạnh mà mình không hề có, để nâng đỡ cho chồng, nương nhau mà sống qua những năm tháng khó khăn, lạ lẫm giữa xứ người bơ vơ:
 
Em biết Anh nhiều đêm không ngủ
Giấc mơ còn đói lạnh, gian nguy
Em biết Anh xứ người thua thiệt
Sống như người câm điếc mà đi!
Em biết Anh một đời bất toại
Anh hùng mạt lộ đứng chôn chân
Công danh, lý tưởng thành mây khói
Tâm sầu bạch phát, hận muôn năm
 
Chính sự cảm thông sâu sắc ấy làm trái tim người vợ xót xa vô hạn:
 
Em nghĩ trên đời này nếu có
Một người cảm hiểu được hồn Anh
Thì em chắc hẳn là người đó
Thương Anh đến xót cả tim mình!
Em muốn làm sao bù đắp lại
Những gì Anh để mất trong đờì
(Mười năm cô phụ sầu tê tái
Trái tim em cũng héo khô rồi!)
 
Nhưng cái hệ lụy đau thương ấy bi thảm ở chỗ nó làm cho mọi thứ trở thành khô héo, lạnh lùng, chai sạn:
 
Mà khổ nỗi lòng em nguội tắt
Tấm thân khô giờ cũng mỏi mòn
Ngọn lửa cũ đã không còn thắp
Trái tim buồn nhịp đập héo hon!
Em nói đây thay lời tạ lỗi
Đã vô tình làm tủi buồn Anh
Biết làm sao khi lòng đã nguội
Đêm xuân tàn đã lạnh gối chăn!
 
Sống với những đa đoan hệ lụy, những cay đắng ngậm ngùi như vậy, nơi mà:
 
Quanh đi quẩn lại bốn bề người dưng
 
thực cuộc sống cũng chẳng biết lấy chi gọi bằng thú vị.
 
Xa quê hương, như đàn chim thiên di, bỏ lại quê nhà có cha mẹ già mong đợi, có bầy em nhỏ ngóng trông:
 
Ta bỏ đời giông bão
Bay tìm trời tự do
Bỏ quê nghèo nương náu
Khói lam vương giọng hò
Cha mẹ già mong đợi
Đàn em thơ mong chờ
Chán đời ra nông nổi
Bỏ thâm tình bơ vơ
 
Nỗi đau xót, nhớ thương ấy biết làm sao nói hết. Đó là nỗi ước mơ:
 
Cuối một đời luân lạc
Ta lại về quê xưa
Như thuở còn ấu thơ
Vùi trong lòng từ mẫu
 
Hay đó là niềm lo sợ khôn nguôi:
 
Tưởng tượng một ngày con trở lại
Không còn Mẹ đợi bến sông xưa
Trước ngõ, bùi ngùi con đứng mãi
Nghe lạnh trường giang tiếng gió lùa
 
Hay là sự ám ảnh thường xuyên:
 
Tưởng tượng con quì bên mộ vắng
Lòng đau khôn tả, lệ như mưa
Mơ hồ nghe lá âm thầm rụng
Lặng người con tưởng bước chân xưa
 
Cũng chính bởi sống cuộc đời lưu lạc tha hương, nên niềm hướng vọng quê nghèo thật quá đổi thiết tha, nồng ấm:
 
Xin gửi qua giùm chút nắng Xuân
Bên này đã lạnh thuở thu phân
Bây giờ trời đất tràn băng giá
Không biết làm sao để ấm lòng?...
 
Và có lẽ nỗi nhớ quê quá mãnh liệt, nên lòng có sự bất công chăng?
 
Gió Bấc quê mình – Lạnh dễ thương
Có đâu tàn nhẫn – Sắc như gươm
Hay là ta vốn luôn thiên vị
Bạc lòng nguyền rủa gió tha hương?
 
Không biết nữa, chỉ biết nhớ quá, nhớ đến quặn lòng:
 
Nhớ gửi giùm qua: Âm vang Xuân
Tiếng Mẹ cười rung tối cuối năm
Nghìn phương thực chẳng hề mơ ước
Quê nghèo một hướng nhớ rưng rưng.
 
Nói làm sao cho hết niềm nhớ thương. Ca dao có câu:
 
Chiều chiều ra đứng ngõ sau
Trông về quê Mẹ, ruột đau chín chiều
 
Lãm Thuý, sống xứ người, nhà không có ngõ sau, nên:
 
Quê hương ngàn dặm còn xa
Ngõ sau không thấy, nhớ nhà đứng đâu?
Đỗ Quyên khản giọng kêu sầu
Những hồn ứa máu còn thâu đêm chờ
 
Và dù không có ngõ sau, nỗi nhớ cũng chín chiều đau tủi:
 
Chín chiều đau khúc phân ly
Bờ sông, cố quận, trời chia nghìn trùng…
 
Như thế, niềm hệ lụy vẫn rộng khắp, khôn cùng:
 
Vẫn là ta - với riêng ta
Nói – Hay không nói – Cũng là vậy thôi
Đành thôi. Xứ lạ, quê người
Xót thân lưu lạc, lệ ngùi đêm Xuân!
 
Nỗi nhớ âý không đo, không lường, không biên giới:
 
Vô cùng, vô tận, vô biên
Nỗi thương nhớ gửi về em, quê nhà
 
Nhớ quá, cả những điều rất nhỏ nhặt, rất tầm thường:
 
Còn xanh lá những con đường
Hoa cau, hoa bưởi sau vườn còn thơm?
Con đò neo bến chiều hôm
Còn nghe tiếng gọi bên vàm sông xưa?
 
Vậy đó, nhớ cả những điều không đáng nhớ, có khi chỉ là tiếng gió lùa:
 
Người có nghe buồn tiếng gió qua?
Chốn đây phòng kín, gió không luà
Vậy mà đôi lúc ta nghe rõ
Tiếng gió reo buồn vọng cõi xưa!
 
Trong cõi nhớ mênh mông đó, có người cha già bên vườn Cam hoa nở trắng:
 
Ta nhớ vườn xưa hoa nở trắng
Chiều thơm ngây ngất dịu hương Cam
Cha ta thơ thẩn qua từng nhánh
Gõ nhẹ cho rơi những cánh tàn
 
Sống giữa đời bon chen, vật chất, nhiều khi thèm một chút hương quê:
 
Dẫu về không kịp mùa hoa nở
Vườn xưa còn trắng đến thiên thu
Ở đây đời sống bon chen quá
Ta thèm về lại góc vườn xưa
 
Năm tháng đã qua đi, bỗng giật mình nhớ lại:
 
Thương cha tuổi bảy mươi rồi,
Hiểu câu tóc bạc, da mồi mà đau…
 
Nhớ, thèm,… dù chỉ là một tiếng gáy gà trưa, dù chỉ là một câu Mẹ hát, dù chỉ là một lời vu vơ cha nói:
 
Thèm nghe tiếng gáy gà trưa
Thèm nghe Mẹ hát ầu-ơ ví dầu
Thèm nghe cha nói vài câu…
 
Nỗi mơ ước thường xuyên đeo đuổi, làm mình tưởng như mọi thứ vẫn còn nguyên đó:
 
Những bông hoa tím trong vườn cũ
Nở từ dạo đó đến nay chăng?
Ở giữa hôm nay và quá khứ
Dường như chẳng có mấy mươi năm
 
Và thương nhớ những đoá hoa tím trong vườn xưa, là thương nhớ nhà cũ, bờ sông, là nhớ Mẹ, nhớ Cha, nhớ em…
 
Vẫn tưởng như ta còn ở đó
Sông chiều ráng nhuộm tím hoàng hôn
 
Và:
 
Dường như ta chẳng hề đi khỏi
Vẫn ở nhà xưa mái lá nghèo
Mẹ quét sân chiều vang tiếng chổi
Đàn em cười nói điệu vui reo
Cứ tưởng chỉ cần ta gọi khẽ
Vẫn tiếng thân yêu Mẹ đáp lời
Chao ôi! Cách biệt nhau là thế
Nhớ xót xa lòng quá, Mẹ ơi!
 
Xa xôi quá, xa đến nỗi đứa em gái qua đời cũng không kịp về vuốt mắt:
 
Chị không về bởi mịt mù
Mà em đi vội không từ tạ nhau
 
Để rồi lòng cứ hối tiếc mãi:
 
Cái giờ chị gọi nửa đêm
Biết tin đất lạnh vùi em đời đời
Lửa từ đâu dậy lửa ơi!
Tim ta cháy bỏng một trời đớn đau!
 
Cứ hối tiếc, cứ đớn đau như vậy và rồi đành phải tự an ủi mình:
 
Cứ hối tiếc, cứ “Giá như…"
Cũng không gọi được em về từ mộ sâu
Vậy mà vẫn tiếc làm sao
Giá như còn được với nhau một lần!
 
Nỗi hệ lụy của ngày 30 tháng 4 trải dài khắp quê hương đất nước, trên bao số phận con người, số phận của hàng triệu đồng bào bỏ xác ngoài biển Đông, trong đó có những chiến sĩ can trường, những giai nhân trinh liệt, những trẻ thơ vô tội,…:
 
Hỡi ơi! Chiến sĩ đời ngang dọc
Tiếc chẳng phơi thây giữa chiến trường
Máu chẳng nhuộm màu cờ tổ quốc
Mà lại pha hồng sóng đại dương
Đâu những hồn ngây thơ non dại
Tay bạo tàn cũng đẩy ra khơi
Những linh hồn nhỏ hồn nhiên ấy
Đã bặt thiên thu những giọng cười!
Xương trắng đã vùi sâu lớp lớp
Mà trang chiến sử máu còn hoen
Ai nghe biển động ngoài sông nước
Còn rền trong gió tiếng oan khiên!
 
Những cái chết đau thương oan khuất ấy, đã biến biển Đông thành một ngôi mộ khổng lồ, thành một Thủy Mộ Quan, như tên gọi của nhà thơ Viên Linh:
 
Ngậm ngùi trong Thủy Mộ Quan
Có muôn dòng lệ chảy ngàn năm xưa
 
Ở đó;
 
Mơ hồ trong Thuỷ Mộ Quan
Trùng trùng máu lệ mang mang hải tần
 
Và:
 
Những hồn ma dậy biển Đông
Trăng tàn thuỷ huyệt ngậm dòng thơ đau…
Xưa người nát ngọc trầm châu
Giờ kinh thiên địa nhịp cầu máu xương.
 
Nói lên tất cả những hệ lụy ấy là bao tâm huyết đã đổ ra, là bao đớn đau đã trải, bao ngậm ngùi đã mang, Lãm Thuý thành tâm gửi đến quí thân hữu như một tiếng than ai oán khi nhớ về những kỷ niệm đau buồn chung của thân phận lưu vong.
 
Xin chân thành đa tạ ông anh Dương Quân kính mến đã gợi ý cho Lãm Thúy viết bài này.
Lãm Thúy

 

Tống Phước Hiệp

Địa chỉ E-Mail để liên lạc với chúng tôi: trangnhatongphuochiep.com@gmail.com