User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 

levinhtho

Trước khi “thơ mới” xuất hiện, nhiều người đã ý thức phải tìm một lối thoát cho thi ca Việt Nam, phải tìm một lối thơ khác – thơ mới – dù họ chưa biết đó là lối thơ gì. Trong khi chờ đợi, việc làm cần thiết đầu tiên là “giải phóng” thơ Việt khỏi sự “đô hộ” của thơ Đường. Nhiều học giả, nhà văn, nhà báo đã chỉ trích hay công kích thơ Đường một cách nặng nề. Phạm Quỳnh trên Nam Phong tạp chí, Phan Khôi trên Đông Pháp thời báo, và Trịnh Đình Rư trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy đã liên tiếp đánh phá thành trì thơ Đường. Ông Trịnh Đình Rư còn đề nghị chỉ nên dùng Lục bát và Song thất lục bát là những thể thơ thuần túy Việt Nam.

Năm 1932, “thơ mới” ra đời mà người khởi xướng chính là Phan Khôi với bài “Tình Già”, mở ra cuộc cách mạng thi ca, gây phản ứng dữ dội qua các cuộc bút chiến và diễn thuyết. Kẻ thù số một của thơ mới là thơ Đường. Bốn năm sau, thơ mới toàn thắng. Một điều đáng ghi nhận là những người làm thơ mới hay ủng hộ thơ mới không hề đả động đến lục bát. Trái lại, lục bát vẫn được tôn trọng và hầu hết những nhà thơ mới – trong đó có những người chịu ảnh hưởng sâu đậm của thơ Pháp - đều làm lục bát và để những tác phẩm giá trị.

Một trong những nạn nhân của phong trào thơ mới là:

Tản Đà (1888-1939).

Sau những năm tháng âm thầm cuối đời ông, và sau khi Tản Đà bị Tự Lực Văn Đoàn chế giễu bằng thơ văn và hí họa, ông đã mất trong sự thương tiếc và ngậm ngùi của nhiều người. Người ta cảm hối hận vì đã đối xử bất công và tệ bạc đối với một nhà thơ lớn đã mở đường cho thi ca của thế kỷ 20.

Hai năm sau khi Tản Đà mất, trong Thi Nhân Việt Nam, Hoài Thanh đã “cung chiêu anh hồn Tản Đà”: “Tiên sinh gần chúng tôi lắm. Tiên sinh không mang lốt y phục, lốt tư tưởng của chúng tôi.Nhưng có làm gì những cái lốt. Tiên sinh đã cùng chúng tôi chia sẻ một nỗi khát vọng thoát ly ra ngoài cái tù túng, cái giả dối, cái khô khan của khuôn sáo, Đôi bài của Tiên sinh ra đời từ hơn hai mươi năm trước đã có một giọng phóng túng riêng. Tiên sinh đã dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đang sắp sửa” (1) và Hoài Thanh đã trân trọng mời Tản Đà khai hội Thi Nhân Việt Nam với bài thơ:

Thề Non Nước

Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ nhời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại non còn đứng không

Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương

Giời tây chiếu bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước, nước mà quên non!

Dẫu rằng sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa
Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn

Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi!
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui

Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề

Phan Khôi (1887-1959)

người khởi xướng Thơ Mới, nhà phê bình, nhà thơ cứng cỏi, bất khuất và xông xáo, luôn luôn chiến đấu

Hồng Gai

Hồng nào hồng chẳng có gai 
Miễn đừng là thứ hồng rày không hoa 
Là hồng thì phải có hoa 
Không hoa chỉ có gai mà ai chơi? 

Ta yêu hồng lắm hồng ơi! 
Có gai mà cũng có mùi hương thơm. (16.3.1951)

Địa vị lục bát không lay chuyển, tình cảm không thay đổi nhưng sắc thái và cường độ, tình cảm đã đổi thay. “Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có thể vui cái vui ngày trước, buồn cái buồn ngày trước, yêu ghét, giận hờn nhất nhất như ngày trước. Đã đành là chỉ có chừng ấy mối tình, như con người muôn nơi và muôn thuở. Nhưng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ hai mươi, những mối tình của ta không khỏi có cái màu sắc riêng, cái dáng dấp riêng của thời đại. “…Các cụ ta ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt… Các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng già lúc đúng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn, ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì ta cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân; nhưng đối với ta thì trăm hình, muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi… cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu… Mấy câu nói xa bồ, liều lĩnh mà tha thiết của ông Lưu Trọng Lư ở nhà học hội Qui Nhơn Juin 1934 đã vạch rõ tâm lý cả lớp thanh niên chúng ta”.

Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm u uất, “cái khát vọng được thành thực” (Hoài Thanh: Sđd-tr 11-12).

Lưu Trọng Lư:

Là người đầu tiên đã hưởng ứng sáng kiến làm thơ mới của ông Phan Khôi. Cùng với Phan Văn Dật, Nguyễn Bính, Nguyễn Đình Thư, Vũ Hoàng Chương, Hằng Phương, Mộng Huyền… Lưu Trọng Lư đã được Hoài Thanh xếp vào một trong ba dòng thơ mới “dòng những thơ tuy có chịu ảnh hưởng phương Tây nhưng rất ít và cũng không chịu ảnh hưởng thơ Đường. Thơ của họ có tính cách Việt Nam rõ rệt” (HT: Sđ d tr 36)

Thơ Sầu Rụng

Vừng trăng từ độ lên ngôi,
Năm năm bến cũ em ngồi quay tơ.
Để tóc vướng vần thơ sầu rụng,
Mái tóc buồn thơ cũng buồn theo.

Năm năm tiếng lụa xe đều...
Những ngày lạnh rớt, gió vèo trong cây.
Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay,
Mùi hương hàng xóm bay đầy mái đông.
 
Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng,
Thời gian lặng rớt một dòng buồn tênh. (Tiếng Thu)

Thế Lữ:

Tác giả tập Mấy Vần Thơ, (tập thơ mới đầu tiên), “người đầu tiên chịu ảnh hưởng Pháp rất đậm đà” đã có thời được tôn làm đệ nhất thi hào. “Thơ Thế Lữ là nơi hẹn hò của hai nguồn thi cảm. Thế Lữ đã băn khoăn trước hai nẻo đường: nẻo về quá khứ với mơ mòng, nẻo tới tương lai và thực tế… Nhưng hình như có hồi Thế Lữ đã đi lầm đường. Bởi người ta nói quá nhiều, nên thi nhân tưởng quê hương mình là tiên giới và quên rằng đặc sắc của người chính ở chỗ tả những vẻ đẹp thực của trần gian” (TNVN – tr62)

Tiếng Sáo Thiên Thai

Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi,
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng.
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng,
Buồn ơi! Xa vắng, mênh mông là buồn...

Tiên Nga tóc xoã bên nguồn.
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu;
Mây hồng ngừng lại sau đèo,
Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi.

Trời cao, xanh ngắt. - Ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng Lai.
Theo chim, tiếng sáo lên khơi,
Lại theo giòng suối bên người Tiên Nga.

Khi cao, vút tận mây mờ,
Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh,
Êm như lọt tiếng tơ tình,
Đẹp như Ngọc Nữ uốn mình trong không.

Thiên Thai thoảng gió mơ mòng,
Ngọc Chân buồn tưởng tiếng lòng xa bay...

Xuân Diệu: 

“Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời sống vội vàng, sống cuống quít, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình. Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết” (TNVN-tr116)

Chiều

Hôm nay, trời nhẹ lên cao,
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn...
Lá hồng rơi lặng ngõ thuôn,
Sương trinh rơi kín từ nguồn yêu thương.

Phất phơ hồn của bông hường,
Trong hơi phiêu bạt còn vương máu hồng.
Nghe chừng gió nhớ qua sông,
E bên lau lách thuyền không vắng bờ.

- Không gian như có dây tơ,
Bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu.
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều,
Lòng không sao cả, hiu hiu khẽ buồn... (Thơ Thơ)

Huy Cận:

“Nguồn thơ đã sẵn lòng, đời thi nhân không cần có nhiều chuyện. Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng người luôn luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong. Huy Cận triền miên trong cảnh xưa, trò chuyện với người xưa, luôn luôn đi về trên con đường thời gian vô tận. Có lúc hình như thi nhân không phân biệt mộng với thực, ngày trước với ngày nay. Cảnh trước mắt người mơ màng như đã thấy ở một kiếp nào; tình với nhóm người tưởng chừng đã hẹn hò đâu “từ vạn kỷ””. (TNVN-tr136-137)

Ngậm Ngùi

Nắng chia nửa bãi, chiều rồi...
Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.
Sợi buồn con nhện giăng mau,
Em ơi! Hãy ngủ... anh hầu quạt đây.

Lòng anh mở với quạt này,
Trăm con chim mộng về bay đầu giường.
Ngủ đi em, mộng bình thường!
Ru em sẵn tiếng thuỳ dương mấy bờ...

Cây dài bóng xế ngẩn ngơ...
- Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?
Tay anh em hãy tựa đầu,
Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi..(Lửa Thiêng)

Các tác giả khác:

Nguyễn Bính: Tình Giấc Chiêm Bao

Chín năm đốt đuốc soi rừng,
Về đây ánh điện ngập ngừng bước chân.
Cửa xưa mành trúc còn ngăn,
Góc tường vẫn đọng trăng xuân thuở nào
 
Làng xa, bản nhỏ, đèo cao
Gió bay tà áo chiêm bao nửa chừng
Anh về luyến núi, thương rừng,
Nhớ em đêm sáng một vừng Thủ – đô.
 
Bồi hồi chuyện cũ năm xưa,
Gặp nhau lần cuối… trang thư lệ nhòa.
Thư rằng: “thôi nhé đôi ta.
Tình sao không phụ mà ra phụ tình.
 
Duyên nhau đã dựng Trường đình.
Mẹ em đã xé tan tành gối thêu…
Trăng khuya sang núi gươm đèo,
Anh đi, thư vẫn nằm đeo bên mình.
 
Lửa sàn nét chữ chênh vênh
Nếp thư đến rách chưa lành vết thương.
Đằm đằm hoa sữa lên hương
Chân anh đương bước giữa đường cái đây.
 
Nẻo hồ, song cửa, lá bay,
Sáng chưng bóng dạng bao ngày yêu xưa
Trăm năm đã lỡ hẹn hò,
Cây đa bến cũ con đò còn không?
 
Tình cờ gặp giữa phố đông,
Em đi ríu rít tay chồng tay con.
Nét cười âu yếm môi son
Áo bay nhăc buổi trăng tròn sánh vai…
 
Chín năm bão tối mưa ngày
Nước non để có hôm nay sáng trời
Em đi hạnh phúc hồng tươi,
Anh nhìn tận mắt cuộc đời đẹp thay?
 
Sắc hương muôn nẻo tuôn trào
Tiếc mà chi giấc chiêm bao một mình
Anh về viết lại thơ anh
Để cho bến mát cây xanh đôi bờ
 
Cho sông cho nước tự giờ
Chẳng còn lỡ chuyện con đò sang ngang
Lứa đôi những bức thư vàng
Chẳng còn chữ chữ hàng hàng lệ rơi
 
Chim hồng, chim nhạn, Em tôi
Trên nền gối cưới đời đời yêu nhau. (8-1956)

Hồ Dzếnh: Nhà thơ mẹ Việt, cha Tàu nhưng yêu quê Ngoại hơn quê nội.

Duyên Ý

Đừng buồn nhưng cũng đừng vui,
Êm êm nắng nhẹ qua trời rộn mưa.
Hỡi người, tôi nói gì chưa?
Tôi đương sắp nói, hay vừa nói ra?
 
Trời đừng cho búp lên hoa,
Cho khi gần đến tôi xa mãi nàng
Cho tôi thoảng cảnh mùi nhang,
hình dung xa vắng cung đàn rồi thôi.
 
Chập chờn bướm nửa hoa đôi
Tình nên chỉ mộng khi đời sẽ thơ.
Ước gì bạn mãi là cô
Để duyên hai đứa bao giờ cũng tươi
 
Đừng buồn nhưng cũng đừng vui
Êm êm nắng nhẹ qua trời rộn mưa… (Quê Ngoại)

Đoàn Văn Cừ:

“Trong các nhà thơ đồng quê, không ai có ngòi bút dồi dào mà rực rỡ như Đoàn Văn Cừ. Những bức tranh trong thơ Đoàn Văn Cừ không phải chỉ đơn sơ vài nét như các bức tranh xưa của Á Đông. Bức tranh nào cũng đầy đẫy sự sống và rộn ràng những hình sắc tươi vui. Mỗi bức tranh là một thế giới linh hoạt. Người xem tranh hoa mắt vì những nét, những màu hình như rối rít cả lại; nhưng nhìn kỹ thì màu nào, nét nào cũng ngộ nghĩnh, vui vui” (TNVN – tr 187)

Lá Thư Xuân

Quê người bưởi đã ra hoa
Ai về chợ Mụa, ai qua chợ Dầu
Nhắn rằng có lá thư xuân
Gửi người anh dũng thôn Vân năm nào
 
Thôn Vân tên gọi đẹp sao
Chỉ nghe đã thấy ngọt ngào, mến yêu
Ngày xuân đình rộn tiếng chèo,
Đu làng say dải yếm điều tung bay
 
Ai từ buổi ấy chia tay
Tám năm khoái lửa bao ngày ước mơ:
Hội làng kéo chữ năm xưa
Thôn Vân người đẹp quân cờ còn không?
 
Còn không lòng hẹn với lòng.
Đánh Tây quyết giữ đến cùng thôn Vân?
Hòa bình, gió biếc, trăng ngân
Thôn Vân mở hội đón xuân tưng bừng.
 
Đêm vui rực rỡ pháo bông
Lửa hoa xanh đỏ nở tung khắp trời
Thôn Vân yêu quý muôn đời
Trong quân cờ lại gặp người năm nao
 
Vẫn đôi mắt luyến trăng sao
Bồ quân làn má, anh đào nét môi
Mừng vui lời chẳng trao lời
Tình ai khóe mắt, nụ cười thân yêu
 
Ai xưa lòng vẫn ước ao
Mùa xuân mở hội ta chào thôn Vân
 
Mùa xuân mở hội thôn Vân đã đành.

Vũ Hoàng Chương:

Nhà thơ vang bóng một thời và chưa muốn vắng bóng. Nàng thơ của ông vẫn thoi thóp thở những hơi cuối cùng…

Bức Khăn Mừng Cưới

Giờ đây phu trạm vừa đem
Lá thư anh gửi mừng em lấy chồng
Lá thư phấn đượm hương nồng
Kèm theo một bức khăn nồng cho anh
 
Nên quen vì một chuyến đò
Anh ơi bèo nước hẹn hò chi đâu
Kẻ xuôi người ngược bấy lâu
Hàng năm một buổi thấy nhau họa là
 
Tình thân sao khác người ta
Không ai thề thốt sao mà nhớ mong
Chia tay dù mấy năm ròng
Xa xôi đâu dám nhạt lòng mến tin
 
Ấu thơ buổi ấy đầu tiên
Trọn đời chưa dễ ai quên được vào
Từ xưa muốn ngỏ mà sao
Bâng khuâng chẳng biết rằng trao gửi gì
 
Đến nay gần lúc vu quy
Gối chăn sắm sửa mang đi theo chồng
Nhận thư ướm bức khăn hồng
Em buồn với cả tấm lòng anh ơi.

Phan Văn Dật:

“Thơ Phan Văn Dật không rực rỡ, không rắt réo, không hùng tráng, không làm ta bồi hồi ngây ngất nhưng vẫn khiến ta ưa đọc: nó là những vần thơ dễ thương. Ta không cảm phục mà lưu luyến, cũng như ta lưu luyến đất Kinh đô là nơi quê hương của thi sĩ. Người yêu văn sẽ xem thi nhân như bạn nếu không thể xem như thầy” (TNVN – tr 328)

Nàng Con Gái Họ Dương

Năm xưa ta lại chốn này
Hồ thu nước mới chau mày với thu.
Nàng Dương mười bốn hái dâu,
Hoa non đâu đã biết sầu vì thu
 
Năm nay ta đến chốn này,
Nàng Dương tóc đã đến ngày cài trâm
Chiều xuân hoen hoẻn trăng rằm,
Con ong lén gửi thơ ngầm ngoài hiên
 
Qua năm ta lại chốn này
Ngựa xe in bước, giấu giày in sân.
Phòng Khuê cửa đóng máy tầng
Chim xanh mõi cánh mấy lần về không
 
Rồi năm ta lại chốn này,
Nàng Dương mở của suốt ngày đợi tin
Thềm ba khách vắng rêu in,
Cành hoa năm ấy si vin năm này?
 
Năm nay ta lại chốn này
Lầu không chim vắng, chim bay đằng nào?
Hỏi người có biết tăm hao
Láng giềng rằng có cô nào đâu đây! 29.10.1927 (Bâng Khuâng)

Nguyễn Đình Thư: “Thơ Nguyễn Đình Thư không nói chuyện gì lạ: một chút tình thoáng qua, một đêm trăng lạnh, vài con bướm vẽ vành, một buổi chia ly, nỗi lòng người bị tình phụ, đi lại chỉ những buồn thương, những vui sướng rất quen… Riêng trong lối lục bát, thỉnh thoảng ta gặp lại những câu phản phất giọng Kiều hay giọng ca dao lẫn với một tí phong vị mới” (TNVN – tr 376-377)

Đến Chiều

Tôi yêu là bởi tôi yêu
Cầm tay cô hỏi, hỏi nhiều làm chi?
Khi yêu không đắn đo gì
Phân phô chừ biết nói vì cớ sao.
 
Huống hồ yêu tự khi nào,
Hôm qua lòng thấy ngọt ngào mới hay.
Gạn gùng mong cạn phơi bày,
Họa chăng có một điều này đơn sơ:
 
- Thuyền tình đã gặp người đưa,
Giọng khơi chẳng lẽ đôi giờ rồi thôi.
Tin nhau ai nói bằng lời,
Và mai ai biết xa vời bao nhiêu.

- Một thương là sự đã liều,
Thì theo cho đến xế chiều chứ sao! (Hương màu)

Hằng Phương.

Vợ ông Vũ Ngọc Phan, con ông Lê Dư… Thơ Hằng Phương cùng một giọng êm dịu, ngọt ngào như thơ Vân Đài. Nhưng dấu tích thơ Đường và thành thực hơn… lời thơ dễ thương (T.N.V.N.tr354).

Lòng Quê

Chiều chiều mây phủ Ải Vân
Sóng xô Cửa Đại mấy tầng lao xao
Ngây thơ còn nhớ ngày nào
Trên đầu tóc để trái đào xinh xinh
 
Dong chơi ngõ chợ sân đình
Tung tăng bạn trẻ đặm tình dăm ba
Có hôm chiều đã tà tà
Đường làng chợt thấy sang lòa lưỡi lê.
 
Tây đem lính tập kéo về
Soát nhà lục hết bốn bề vườn sân
Nghe rằng năm trước Duy Tân
“Xin xâu”, “xin thuế” toàn dân đồng lòng
 
Kẻ thù người chết đã xong
Giặc còn theo đuổi lăm lăm rình mò
Xóm làng cơm đã chẳng no
Tai bay họa gửi những lo hết đời
 
Trăng lên đã bạc trái đồi
Bờ tre bạn nhỏ còn ngồi ôm nhau
Tiếng trùng tiếng dế kêu nhau
Chậm run, chậm đói, ngõ sau, tìm về…
 
Bao năm thao thức lòng quê
Bạc đầu vẫn nhớ lưỡi lê quân thù!
Trông về Cửa Đại trăng lu
Ải Vân mây dựng mịt mù quê ta.
 
Bữa cơm không đũa quên và
Đêm dài chợp mắt, tiếng gà tan canh
Tơ lòng một sợi mỏng manh
Quyết đem chung sức dệt nhanh đường về.

Đưa Thư

Ngày xưa em tặng thơ anh
Ngày nay tóc bạc – tuổi xanh qua rồi.
Nhớ khi bến nước cùng ngồi,
Mơ thuyền Lưu Nguyễn bồi hồi mộng xưa.
 
Nhìn chim bay lượn say sưa
Ước mong chắp cánh sơm trưa lưng trời.
Thấy trăng lấp ló bên đồi
Bảo nhau xem cuội ngồi chơ đợi ai?
 
Núi cao, biển rộng, sông dài
Hỏi nhau sông núi của ai bây giờ?
Phòng văn vương vấn duyên thơ
Bâng khuâng như kẻ trong mơ lạc đường…
 
Giờ đây đầm ấm văn chương
Cởi lòng gởi khắp tình thương bốn trời.
Yêu nhau, yêu cả bao người
Thiên thai âu cũng như đời tự do
 
Chim bay còn sợ lưới dò
Ta dù không cánh, cõi bờ của ta
Trồng chừng biển bốn trời ba
Trời cao biển rộng bao la của mình.
 
Tuyết dù có điểm tóc xanh
Tóc ghi năm tháng bóng hình có nhau
Quê anh Kinh Bắc đồng màu
Quê em Vĩnh Điện con tàu chạy ngang
 
Tàu chạy ngang, nối đàng Nam Bắc
Lòng không chia, ai cắt núi sông?
 
Anh ơi, quê cũ chờ mong.

Ngân Giang:

Mùa cưới ướm lòng
Mùa thu cho bưởi nhớ lòng
Cho cốm anh ngát, cho hồng anh thơm
Em về cho rẻo niêu cơm
 
Cho ngon canh cải, cho thơm đĩa vừng
Chín năm kháng chiến trên rừng
Ba năm kiến thiết chưa từng biết nhau
Kể từ gắn bó bấy lâu
 
Như cau với trầu, như đũa có đôi
Đũa có đôi như người có bạn
Cau với trầu như hạn gặp mưa
Ví dù phận đẹp duyên ưa
 
Áo rách em vá, đèn mờ em khêu
Đêm qua chăn gối lạnh nhiều
Bao nhiêu mong nhớ bấy nhiêu bồi hồi
Nếu như ai có thương ai
 
Thì về cho ấm gian ngoài gian trong
Ví dù lòng có phụ lòng
Thì cầu lỗi nhịp, mà sông xa bờ
Em ơi đằm thắm duyên tơ
 
Sông lại gần bờ, cầu mấy nhịp sang
Em về nhận họ nhận hàng
Mẹ cha thấy mặt xóm làng thêm vui
Nói chi năm tháng còn dài
 
Vì anh chểnh mảng cho ai đau lòng
Cho bưởi lại nhớ thương bòng
Cho cốm anh mốc, cho hồng anh chua
Cho tằm biếng chịu nhả tơ
 
Dòng sông vẫn đấy, còn đò không sang
Em về cho ấm ổ rơm
Bát canh cũng ngọt, niêu cơm cũng bùi
Giàn bầu dây bí xanh tươi
 
Đêm đêm trăng sáng vườn ngoài vườn trong
Tình quê rượu ngát môi hồng
 
Đêm đêm trăng sáng vườn trong vườn ngoài.

Xuân Diệu:

Hỏi

Một năm, thêm mấy tháng rồi
Thu đi, đông lại, bồi hồi sắp xuân
Gặp em, em gặp mấy lần
Tưởng quen mà lạ, tưởng gần mà xa
 
Ai làm cách trở đôi ta
Vì anh vụng ngượng, hay là vì em?
Trăng còn đợi gió chưa lên
Hay là trăng đã tròn trên mái rồi?
 
Hằng ngày em nói bao lời
Với cha, với mẹ, với người xung quanh
Với đường phố, với cây xanh
Sao em chưa nói với anh một lời
 
Tương Tư ăn phải miếng mồi
Đứng đi trên lửa nằm ngồi trong sương
Phải duyên, phải lứa thì thương
Để chi đêm thẳm, ngày trường, hỡi em!

Mộng Duyên

Trong lời thơ hiu hắt một linh hồn yểu điệu và buồn buồn., hay thương người mà cũng rất dễ thương. Nó không tràn ngập, không lấn áp hồn ta. Nó chỉ nhẹ nhàng, chỉ âm thầm và e lệ. (T.N.V.N – tr.374)

Vườn Hoang

Hôm nay trở lại vườn xưa
Nên tim rộn rã ngăn ngừa nhớ thương.
Cồ lan mặt đất bên đường
Cành cây nghiêng gửi mùi hương bay rồi
 
Hình em còn ở hồn tôi.
Sầu em lẫn quất bồi hồi đâu đây…
Rào xiêu, heo héo, cây gầy,
Em từ trần vội một ngày năm xưa.
 
Vườn hoang, nhà vắng, cây thưa,
Lòng tôi sầu tủi đã vừa mấy xuân!
Ngày kia tôi sẽ từ trần,
Vườn hoang liêu lại mấy lần hoang - liêu… (Rung động)

Bùi Giáng:

Đọc một số thờ Bùi Giáng, ta cảm thấy vui vui, ngộ ngộ rồi chợt buồn buồn như nghe một người điên nói lảm nhảm ngoài đường phố. Lời nói của người điên xũng vần vè, nhịp nhàng và không kém phần lý thú. Tuy nhiên, Bùi Giáng cũng có những bài lục bát rất bình thường.

Em Về

Em về trăng nước mai sau
Gót dời phố thị làng đau trong mình
Nỗi niềm xưa đã ai quên
Sầu gieo ngang ngửa đi ghềnh đá se
 
Máu tim tù ngục mang về
Với mong ước đã ê chề với thân
Em về nhìn tháng theo năm
Chân mòn duỗi rạc rời nằm dưới thông
 
Một vùng nắng phủ mai thôn
Sương trùm nước ruộng lá dồn xuống khe
Mai sau dù có đi về
Xin nhìn gió rụng nhành tre thưa rằng.

Nguyên Sa:

Cũng như Xuân Diệu thời tiền chiến, Nguyên Sa của thời bây giờ là nhà thơ của tình yêu rào rạt. Tập thơ Nguyên Sa là một trong số ít tập thơ bán chạy nhất. Riêng tôi, tôi thích Nguyên Sa của tập thơ Những năm sáu mươi hơn. Tác phẩm này chứng tỏ trái tim ông không phải là cây đàn một điệu, Nguyên Sa ít làm lục bát. Đây là một trong vài bài thơ mới nhất của ông:

Dặn Dò

Yêu anh đứng ở ven đường
Lúc anh ngó xuống em đừng nói năng
Yêu anh chờ lúc anh nằm
Cắn bên má trái chỗ gần cuối môi
 
Hai tay cấu chặt lấy vai
Mai anh tỉnh dậy còn vài vết đau.

Cung Trầm Tưởng

Muốn làm mới thơ lục bát nhưng lục bát của ông bây giờ cũng đã cũ.

Thu Biệt

Về đây tôi uống rượu sầu
Bỏ lên phố núi ngắm màu thông xanh
Phận người vách đá vây quanh
Biển xa còn vỗ bồng bềnh cơn đau
 
Đời vào như thoáng chim mau
Bay đi trời xế còn sầu vẫn theo
Tàu đi xuyên hút đem đèo
Mai sau thôi nhé đừng chèo thương đau. Monterey 9 – 74 (Trích văn – Số đầu năm)

Trần Dạ Từ:

Tác giả của hai tập thơ tình thuần túy Tơ Tình Trong ĐêmThuở Làm Thơ Yêu Em.

Buổi Hẹn Đầu

Biết yêu người, thuở mười lăm
Trong vườn ngây dại, ta nằm xót xa
Cỏ cây ồ ạt ra hoa
Chùm môi bông phượng la đà tới lui
 
Khi không da thịt cả cười
Cùng ta trộn dẫn đất trời với em.

Viên Linh: Thành công ở thơ với tập Hóa thân hơn là tiểu thuyết.

Phượng Liên

Anh đi hồn tiếc thương nhiều
Ngọn xoan thưa lấp bóng chiều cuối sân
Não sầu đôi dạ phân vân
Nửa thân yên ngựa nửa thân tay mình
 
Có hoài tuổi dại không em
Trời thôi rán đỏ thu phiền không gian
Mắt em đầy muộn điêu tàn
Yên nghe ván ấy xuôi tràng giang xa
 
Thôi cồn với tháp bao la
Ngựa đi bước nhỏ mây là cửa ô
Mai quen với dạ bơ thờ
Hơi nghe lãng đãng sương mù nhớ nhau
 
Thôi còn giấc ngủ canh thâu
Một hành lang rộng vây sầu Phượng Liên. (Hóa thân)

Luân Hoán:

Nhà thơ của tình yêu êm đềm và ngậm ngùi như trong ca dao nhưng những tập thơ “chìm” của ông như: Viên Đạn Cho Người Yêu Dấu, Hòa Bình Ơi Hãy Đến…  mới nói lên được lương tâm của một nhà thơ trong thời máu lửa.

Về Nằm Lại Nơi Mới Cưới

Ta về nằm lại bên ta
Ngày xưa em nhỏ như là chim sâu
Ta về nằm lại bên nhau
Ngày xưa em gối nặng đầu bên vai
 
Ta về nằm lại bên ai
Ngày xưa đứt nút áo dài kim găm
Ta về nằm lại chỗ nằm
Chật vừa đủ cựa âm thầm bên nhau
 
Ta về nằm lại bên màu
Má thơm em tập làm dâu thuở nào
Ta về nằm đọc ca dao
Đã ru em ngủ như sao giữa trời
 
Ta về nằm lại trong lời
Em thưa thỏ thẻ như mời suốt đêm
Ta về nằm lại trong em
Nghe như hoa nở êm đềm trong ta
 
Ta về nằm lại trong ta
Mới hay ta cũng chẳng gì bao nhiêu.(Rượu Hồng Đã Rót)

Dương Kiên:

Nổi tiếng về văn hơn là thơ mặc dầu tác phẩm đầu tay của ông là tập thơ Thú Đau Thương xuất bản năm 1991.

Hồn Thơ Lục Bát

Lời yêu anh khẽ nói thầm
Hồn thơ lục bát bâng khuâng chưa về.
Mái đêm trời thắp sao khuya,
Sương mười ba tỏa bốn bề khói trăng.
 
Tóc em anh dọn chốn nằm,
Để nghe lá cỏ mọc dần nhớ thương.
Thân ngà áo mỏng dầm hương,
Anh ru em ngủ với buồn riêng em.
 
Vai anh trái mộng ủ mềm,
Em ơi hãy dựa đây miền anh dâng.
Tay dài ôm một vòng xuân,
Chân ngà bước nhỏ vẫn gần cô đơn.
 
Em đi khối nhạc nguyên tròn,
Sắt son vàng đá cũng mòn tri âm.
Lời yêu anh khẽ nói thầm,
Hồn thơ lục bát bâng khuâng chưa về. (Thú Đau Thương)

Thành Tôn:

Thơ Thành Tôn rất khác xa với khuôn mặt và nụ cười của tác giả lúc nào cũng ngoan và hiền. Quảng Tín vừa di tản. Không biết Thành Tôn đi về đâu và ra sao? Cầu chúc bình yên để tiếp tục “Thắp Tình”.

Ranh Giới

Vui riêng, cười lẻ, khóc thầm
Đời sao sống vậy hồi âm cõi nào
Vô ra nhạt bóng lao đao
Co thân thủ thế trông vào nơi đâu
 
Nhện buồn chỉ đó canh thâu
Lưới chăng hồn dựng mắt sầu nhặt thưa
Tới lui chân lạc tay thừa
Mẹ cha cũng vậy nên chưa hiểu giùm
 
Xuống lên trời tận đất cùng
Anh em ngày một muôn trùng cách xa
Máu hồng mạch sẽ lần qua
Bàn chân vỉa phố một ta kẻ chờ
 
Dây thưa chắp nẻo ơ thờ
Ngọn đèn chứng giám cũng mờ bóng quen
Sống không tiếng động thân hèn
Lại qua cũng vậy chi bèn thiêu thân
 
Đi, về bóng lạ bàn chân
Dòng sông nghiệp dĩ tiếp dần biển khơi
Quanh co nghĩ rộng đất trời
Cái tôi hiện hữu một thời vong nô
 
Khép dần cánh cửa hư vô
Anh chưa nhập thế cơ hồ cách xa (Thắp Tình)

Hoài Khanh:  

Người yêu thơ lục bát “Lục Bát” là nhan đề một tập thơ của ông.

Mặn Nồng

Em đi tóc cũng như rừng
Ngày khu phố đó mịt mùng bóng tăm
Vai nghiêng những bước âm thầm
Hoang chiều đã gọi chuông trầm lạnh tanh
 
Đèn trong ánh mắt tang tành
Nhìn nhau rồi chỉ lặng thinh cúi đầu.
Quay về soi bóng dòng sâu
Nước kia cứ chảy về đâu – biết gì?
 
Bỗng nhiên lệ ướt vào mi
Sông đêm nào đó vẫn đi buồn buồn
Nước trôi nước có về nguồn?
Và đôi bờ bến có thường nhớ nhau?
 
Chiều nay chẳng biết vì đâu
Hai dòng nước mắt chìm sâu mặn nồng.

Nguyễn Đức Sơn: Một ngôi sao lạ, cô đơn và lạc lõng.

Đốt Cỏ Ngoài Rừng

Xem cha đốt cỏ ngoài rừng
Nâng niu mẹ ẵm theo mừng không con
Có vài chiếc lá còn non
Gió xua lửa khói nổ giòn trên không
 
Nắng ta trải xuống mênh mông
Bước theo chân mẹ cha bồng hư vô.

Hoàng Lộc:

Như Thuở Mưa Bay

Trăm con nước chảy trên mùa
Nhạt nhòa chăng nỗi buồn xưa hỡi người!
Vô cùng tiếng động trong tôi
Cũng xin qua hết một đời lênh đênh
 
Chắc rồi chưa kịp nguôi quên
Linh hồn đã rụng ưu phiền đầy tay
Áo người thuở đó mưa bay
Sầu ta giạt mấy chân ngày lãng da. (Trái Tim Còn Lại)

Chu Vương Miện:

Xuân Cao Nguyên

Mùa xuân bướm đỏ hoa vàng
Rừng sao trụi lá ngỡ ngàng dáng xưa
Cây xanh bóng rũ đôi bờ
Trời xanh mây trắng hững hờ về xuôi
 
Đêm đêm tiếng cú u hoài
Vườn hoang cỏ ngủ trọn đời héo hon
Đá xanh nước chảy hao mòn
Mưa xuân từng giọt mang hồn cô sở

Phạm Thiên Thư:

Nhà thơ sở trường về lục bát, đã sử dụng lục bát để thi hóa một số kinh Phật và có tham vọng lớn hơn hoặc như Nguyễn Du với tác phẩm Đoạn Trường Vô Thanh. Từ sau Nguyễn Du, ta mới được đọc những tác phẩm lục bát dài hơi và trau chuốt như thế. Mong ông đưa lục bát từ “Động Hoa Vàng” bước xuống cuộc đời…

Động Hoa Vàng

Tình cờ anh gặp nàng đây
Chênh chênh gót nguyệt vóc gầy liễu dương
Qua sông có kẻ chợt buồn
Ngó hoa vàng rụng bên đường chớm thu
 
Mốt mai em nhớ bao giờ
Bãi dâu vãn mộ cho dù sắc không
Chân chim nào đậu bên cồn
Ngựa xui có kẻ lại buồn dấu chim
 
Đợi người cuộc mộng thâu đêm
Sông ngân trở lệ dài thêm dòng nhòa
Anh nằm gối cỏ chờ hoa
Áo em bạch hạt là đề thái hư
 
Em từ rửa mặt chân như
Nghiêng soi hạt nước mời hư không về
Thau hương hiện kính bồ đề
Phấn son chìm lắng hạt mê luân hồi.

Du Tử Lê:

Hạnh Phúc Cho Hưyền Châu

Nghìn đêm lửa đỏ ghế ngồi
Em trong trí tưởng tôi ngoài chuyến đi
Yêu em tôi chả có gì
Một thân nhão nhẹt hồn trì đáy sâu
 
Cho em trăm giọt lệ sầu
Xác tôi giòng tấp chân cầu nhân gian
Hãy nghe lời hát của chàng
Hãy cao tiếng gọi phượng hoàng thiên thâu
 
Yêu em đêm đỏ lửa cầu
Sáng ra nước mắt chuyến tàu xe tôi

Nhã Ca:

Đêm Nghe Tin Chiến Sự

Cổ tay lạnh, ngón tay rời
Máu ra mạch đuổi  theo người đã xa
Sử buồn mở sẵn trong ta
Nước tôi thân thể thịt da nhão dần
 
Xác tôi còn đủ tay chân
Có ôm nổi mẹ có cầm nổi em
Nuốt cơn máu chảy ruột mềm
Trong muôn chiến sự những phiền con hư
 
Tuổi tôi bom đạn nát nhừ
Đêm đêm tiếng mẹ sa mù bóng ai (Thơ Nhã Ca)

Tuệ Mai:

Ly Ca Hồng

Thôi đừng nhắc nữa tên nhau
Phương trăng sau đó mây sầu đã cho
Lối nào tóc ấm sương khuya
Đường nào hoa nắng quen tà áo bay
 
Lòng còn đọng chút hương say
Tôi xin gìn giữ tới ngày cuối tôi
Năm năm là chuyện ngậm ngùi
Năm năm là tiếng thở dài xót nhau
 
Người dù bước thả những đâu
Tôi nghe vẫn nhịp tim sầu bên tôi
Đã thương đã hiểu nhau rồi
(Tình người phải thế - lòng tôi xin đành)
 
Gió Đà Lạt, gió biển xanh
Với bao chiều gió Ngân – đình đam mê
Quấn vào khói thuốc người đi
Bay vào thơ nối khúc ly ca hồng. (Bay Nghiêng Vòng Đời)

Khuôn khổ của bài viết này không cho phép tôi trích dẫn và giới thiệu dài dòng và đầy đủ các tác giả và các tác phẩm. Xin cáo lỗi và xin hẹn một dịp khác.

Để kết luận, tôi xin mượn những lời trong bài diễn văn Nguyễn Du một niềm tin  của ông Vũ Hoàng Chương đọc Ngày Mười Tám Tháng Tám Năm Kỷ Dậu (11/9/1969) tức là ngày kỵ thứ 149 của thi hào: “Người tuy đã mất của tin vẫn còn, vẫn được trân trọng gìn giữ và phát huy từng khía cạnh hào quang. Không phải trước tiên sinh, dân tộc ta coi thường tiếng mẹ đẻ, không phải trước tiên sinh thể ca Lục bát chưa lưu hành và được ưa thích; nhưng phải nhần rằng từ sau lúc tập truyện nôm mang nhau để Kim Vân Kiều truyện” dưới triều vua Minh Mạng,  rồi nhau đề “Đoạn Trường Tân Thanh” dưới triều vua Tự Đức, dân tộc ta vững tin vào ngôn ngữ của mình hơn và tin vào khả năng truyền cảm đặc biệt của thể văn vần “trên sáu dưới tám” chẳng còn nghĩ đó là thể “vè” thuận miệng là đọc ra được “nôm na mách qué”, trẻ con cũng làm nổi…

Chứng cứ là sau khi “Đoạn Trường Tân Thanh” bay vút lên như một Tiếng ho tiếng vang dậy núi sông đã có biết bao nhiêu tiếng hưởng ứng tạo nên một hợp tấu vĩ đại chưa từng thấy bao giờ. Nào “Mai Đình Mộng Ký” của Nguyễn Huy Hổ, “Nhị Thập Tứ Hiếu” của Lý Văn Phức, “Lục Văn Tiên” của Nguyễn Đình Chiểu. “Hà thành Chánh Khí” của Nguyễn Văn Giai. Sang thế kỷ 20, Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu chẳng đã được đưa lên tột đỉnh danh vọng nhờ những bài lục bát đó sao? … Rồi phong trào Thơ Mới bừng lên như sấm sét, lật đổ cái địa vị gần như chánh thức của Thơ Đường luật Thất ngôn bát cú, để thay thế bằng những thể thơ gieo vần khác hẳn, đặt câu khác hẳn, lựa chữ khác hẳn… Phong trào đã thành công rực rỡ quả là một cuộc cách mạng thơ ca khơi nguồn cảm hứng mới vào những bài “thơ mới”. Nhưng nếu tôi nhớ không lầm thì nhiều độc giả chỉ mê Thế Lữ qua bài “Tiếng Sáo Thiên Thai” và chỉ thưởng thức Huy Cận trong những bài “Ngậm Ngùi”, “Thu Rừng”, “Đẹp Xưa”. Nghĩa là nhưng bài viết theo thể “trên sáu dưới tám”!... Thì ra các nhà thơ mới cũng đã hiểu cái giá trị độc đáo tỏa ra từ “chút của tin” mà thi hào Nguyễn Du về cho họ để trân trọng gìn giữ, phát huy rồi trao lại cho nhưng ai đến sau học.

Cùng một lúc với Thế Lữ, Huy Cận còn có cả Đinh Hùng, Hồ Dzếnh, Lưu Trọng Lư, Bàng Bá Lân và nhất là Nguyễn Bính. Tập “Lỡ Bước Sang Ngang” của nhà thơ này chẳng đã làm rơi lệ biết bao sinh viên, học sinh, thôn nữ và được in đi in lại không biết lấn thứ mấy mươi bất chấp mọi chủ nghĩa, mọi chia cắt… Từ năm 1956, Thơ Tự Do nổi lên thành phong trào, nhất định gạt bỏ những thể thơ đã có từ trước. Nhưng chỉ một vài người là thực sự có can đảm quay lưng lại thể Lục bát cố hữu mà thôi. Và cũng chỉ một vài năm sau, trên thi đàn miền Nam lại tràn ngập những tiết điệu quen thuộc, do những cây bút trẻ nhất, hăng hái đổi mới nhất: Cung Trầm Tưởng, Huy Lực, Tuệ Mai v.v… hàng ngũ vô cùng đông đảo. Rồi Trần Tuấn Kiệt, Bùi Giáng, hai nhà thơ hầu như chỉ gắn bó với “Lục Bát” coi đó là ngôn ngữ chính thức của mình. Đến hôm nay thì có thể bảo thơ Lục bát đã trở thành “Thơ hôm nay”, vì lớp trẻ đang mê nó hơn cả sự nghiệp, mê giai nhân. Tập “Lục Bát Ca” của Luân Hoán và Lê Vĩnh Thọ do Vĩnh Điện phổ nhạc trình bày tại Đà Nẵng ngày 27 tháng vừa qua, đông đảo người dự thính, gây xúc động đến mức được coi như buổi “Thơ nhạc quê hương”, thiết nghĩ chẳng còn bằng chứng nào xác đáng hơn thế. Không phải Thơ Tự do bị rơi! Không! Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa vẫn được ưa chuộng lắm. Nhưng điều cần ghi nhận là thơ Lục bát chẳng bao giờ ngớt tuôn trào tiếng nhạc trầm dịu tha thiết của nó trong mạch máu dân tộc này. “Chút của tin” mà Nguyễn Du trao lại chẳng bao giờ bị lãng quên. Nhất là trong lòng những cuộc bể dâu tàn khốc đau đớn, nó càng sáng lên, như mặt trời mặt trăng, hay nói cho đúng hơn, như hàng hàng châu lệ của đất nước.

Lê Vĩnh Thọ

 

Tìm các bài BIÊN KHẢO khác theo vần ABC . . .

Tống Phước Hiệp

Địa chỉ E-Mail để liên lạc với chúng tôi: trangnhatongphuochiep.com@gmail.com