User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
tran hung dao 1
Đền thờ tại Kiếp Bạc, trên có đề “Trần Hưng Đạo Vương Từ,” do Nguyễn Văn Cương chụp năm 1940. (Hình: Viên Linh cung cấp)
 
Trần Hưng Đạo (1231-20 tháng 9, 1300)
 
Có những danh nhân Việt Nam đã trở thành danh nhân thế giới, như Nguyễn Trãi qua “Bình Ngô Đại Cáo” xua đuổi quân Minh, như Trần Hưng Đạo qua “những trận đánh làm thay đổi thế giới,” ba lần đập tan quân Mông Cổ, sau khi đoàn quân này đã làm cỏ Á Châu và Âu Châu, nên tự nhủ phải có một bài về vị anh hùng dân tộc đời Trần, vào 20 tháng 8 âm lịch (nhằm ngày 09 tháng 10 dương lịch 2017). Đại vương mất ngày 20 tháng 8 canh tý nhằm 20 tháng 9, 1300. Ngày và năm sinh không rõ, nhưng là em ruột của Thượng Trung Tuệ Sĩ sinh năm 1230 thì vương phải sinh sau đó, 1231 trở đi một hai năm. Mất năm 1300, vậy tuổi đời khoảng 70.
 
Người viết thực tình không biết phải viết điều gì trước, đáng tiếc hơn cả là các trước tác, binh thư của Trần Hưng Đạo tới nay còn lại vỏn vẹn “Hịch Tướng Sĩ” và “Di Huấn lúc lâm chung.” Xin sao lược hai tài liệu dưới tay cho bài viết tưởng niệm này.
 
1- Tác phẩm “Trần Hưng Đạo” của Hoàng Thúc Trâm (1)
 
Tháng 9 năm 1950 nhà xuất bản Vĩnh Bảo Sài Gòn phát hành cuốn “Trần Hưng Đạo” của Hoàng Thúc Trâm, dày 134 trang, ở cuối sách tác giả ghi: “Nhặt tài liệu từ 28 tháng 3, 1949. Viết xong ngày 4 tháng 4,1950,” mất hơn một năm. Trong sách có bản đồ ba trận đại thắng quân Mông Cổ và đền thờ “Trần Hưng Đạo vương từ” ở Kiếp Bạc do Nguyễn V Cương chụp năm 1940.
 
2- “Trần Hưng Đạo,” trong Văn Học Đời Trần của Phạm Khắc Hàm (2)
 
Chúng tôi sao lục bản dịch “Lâm chung di huấn” của Vô Ngã như sau:
 
Di huấn lúc lâm chung (trích dẫn)
 
“Đại khái kẻ kia cậy trận dài, ta cậy binh ngắn, lấy ngắn trị dài là lẽ thường của binh pháp. Nếu thấy quân bên kia nóng lòng, như lửa như gió, thì thế ấy dễ chế ngự. Nếu chúng dùng kế tằm ăn dâu, hành quân từ tốn, không tham của dân, không mong thắng gấp, thì phải dùng tướng giỏi, quan sát quyền biến, như đánh cờ, phải tùy tình thế mà chống đỡ cho thích hợp. Có được đạo quân sĩ thương nhau như cha con thì mới có thể dùng được. Phải nới lỏng sức dân để làm kế gốc sâu rễ vững, đó là kế hoạch giữ nước tốt nhất.” (Văn Học Đời Trần, trang 160)
 
Trước đó, năm 1284, Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lui về Vạn Kiếp. Vua Nhân Tông thấy giặc mạnh, nói đại ý hay là ra hàng, Trần Hưng Đạo nói: “Bệ hạ vì nhân đức muốn hàng để cứu dân, nhưng nếu hàng xin chém đầu thần đi đã!” Vua Nhân Tông trao hết binh quyền cho Trần Hưng Đạo. Ông thảo hịch kêu gọi tướng sĩ có những đoạn như sau:
 
Hịch Tướng Sĩ (trích dẫn)
 
“Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín 紀 信 liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế; Do Vu 由 于 lấy mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vượng; Dư Nhượng 豫 讓 nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái 申 蒯 chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức 敬 德 là một chức quan còn nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát vòng vây; Kiểu Khanh 杲 卿 là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn 祿 山 là quân nghịch tặc. Các bậc trung thần nghĩa sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường tình, chết già ở xó nhà thì sao cho lưu danh sử-sách đến nghìn muôn đời như thế được?”
 
“Nay các ngươi vốn dòng vũ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện cổ tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nữa; ta hãy đem chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói: Vương Công Kiên 王 公 堅 là người thế nào? Tỳ tướng của Vương Công Kiên là Nguyễn Văn Lập 阮 文 立 lại là người thế nào, mà giữ một thành Điếu ngư (núi tỉnh Tứ xuyên) nhỏ mọn, chống với quân Mông-kha (Mungke vua Mông Cổ, anh Hốt Tất Liệt) kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu. Đường Ngột Ngại là người như thế nào? Tỳ tướng của Đường Ngột Ngại là Xích Tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi, đánh được quân Nam chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân trướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt. Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu nhương, gặp phải buổi gian nan này, trông thấy những ngụy sứ đi lại rầm rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tổ phụ, lại cậy thế Hốt Tất Liệt 忽 必 烈 mà đòi ngọc-lụa, ỷ thế Vân-Nam-Vương (Hốt Tất Liệt phong cho con là Hốt Kha Kích là Vân-Nam-Vương) để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau!
tran hung dao 2Tượng Trần Hưng Đạo ở Nam Định. (Hình: Wikipedia.org)
 
Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười, những cách cư xử so với Vương Công Kiên, Đường Ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì.”
 
“Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo giáp; mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái-ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui vẻ, phỏng có được hay không?”
 
“Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn thận như nơi củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công danh. Chẳng những là thái ấp ta được vững bền, mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng lộc; chẳng những là gia quyến của ta được yên ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên nhân ta được vẻ vang, mà các ngươi cũng được phụng thờ tổ phụ, trăm năm vinh hiển; chẳng những là một mình ta được sung sướng, mà các ngươi cũng được lưu truyền sử sách, nghìn đời thơm-tho; đến bấy giờ các ngươi dầu không vui vẻ, cũng tự khắc được vui vẻ.”
 
“Nay ta soạn hết các binh-pháp của các nhà danh-gia hợp lại làm một quyển gọi là ‘Binh thư yếu lược.’ Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo, thì mới phải đạo thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo, thì tức là kẻ nghịch thù.
 
Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm-nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình lỗ[4] mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt-mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta.”
 
Trước sau Mông Cổ qua đánh ta 3 lần, cả ba lần chúng đều thảm bại, phần lớn dưới tay Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Từ bảy thế kỷ nay, người ta đồn có nhiều nhà phong thủy Tầu lén lút qua vùng Tức Mặc thuộc tỉnh Hà Nam để yểm các ngôi đất sinh vua đời Trần, không rõ hư thực ra sao, chúng tôi sẽ trở lại đề tài này trong một bài khác.
Viên Linh
 
Chú thích
1-Trần Hưng Đạo, biên khảo của Hoàng Thúc Trâm, Vĩnh Bảo Sài Gòn xuất bản tháng 9, 1950, 134 trang. Ông Hoàng Thúc Trâm bút hiệu Hoa Bằng (1902 – 5 tháng 3, 1977), người Hà Đông, nguyên chủ bút tạp chí Tri Tân, nhà văn, nhà biên khảo, tác giả tiểu thuyết Gia Ling Công Chúa.
2-Nhà thơ Vô Ngã Phạm Khắc Hàm, tác giả Gối Gốc Mai (thơ), văn học Lê Lý Trần, Khởi Hành xuất bản, 2013), văn học Đời Trần, Khởi Hành xuất bản, 2015.
 
 

Add comment


Tìm các bài LỊCH SỬ khác theo vần ABC . . .

Tống Phước Hiệp

Địa chỉ E-Mail để liên lạc với chúng tôi: trangnhatongphuochiep.com@gmail.com
Web Analytics