User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
japan
 
Chúng ta vẫn biết tiếng Việt dùng rất nhiều chữ Hán. Nhưng điều ít bàn đến là một số rất lớn từ ngữ tiếng Trung Hoa hiện đại và do đó một số rất lớn từ ngữ tiếng Việt có nguồn gốc từ những từ ngữ ghép mới do người Nhật sáng tạo từ các chữ Hán gốc (Hoà chế Hán ngữ/ wasei kango 和製漢語, Japan-made Chinese words).

Số lượng các từ được du nhập từ Nhật vào tiếng Trung Hoa tăng nhanh trong thời Minh Trị Thiên Hoàng (Emperor Meiji 1852-1912) và chững lại (plateau) khoảng năm 1920. Hiện nay, đa số (chừng 70%) những từ ngữ Nhật du nhập vào Trung Hoa là những từ áp dụng cho cuộc sống hàng ngày (daily life terms), trái ngược với thời 1840-1920 lúc đó chỉ có chừng 8% là áp dụng cho đời sống hàng ngày và chừng 64% là cho các thuật ngữ chuyên môn (terminologies). Nói cách khác, thế kỷ 19 bước qua thế kỷ thứ 20, vì cùng dùng chung chữ Hán Trung Hoa dùng các thuật ngữ của Nhật để học khoa học của phương Tây, xây dựng hệ thống thuật ngữ khoa học, và trong những thập niên gần đây, một khi tiếng quan thoại đã được cải tổ và định hình, Trung quốc không còn là một nước nghèo khó và lạc hậu nữa, thì người Trung quốc lại vẫn cần vay mượn những từ ngữ gốc Nhật (hay nước khác như Anh ngữ) áp dụng cho cuộc sống mới để hội nhập vào cuộc sống toàn cầu hoá. (Chen Haijing) (1)
 
Theo công trình của Wang Binbin về chủ đề vay mượn từ tiếng Nhật sang tiếng Trung Hoa (1998), 70 phần trăm các từ tiếng Trung Hoa hiện đại liên quan đến xã hội học, nhân văn và khoa học tự nhiên có nguồn gốc từ tiếng Nhật. (2)
 
Tôi xin tạm dịch đoạn trích sau đây từ khảo cứu của một nhà ngôn ngữ Đài Loan, Karen Steffen Chung, Tiến Sĩ tốt nghiệp Đại Học Leiden, Hòa Lan, Phó Giáo Sư Ngoại ngữ và Văn chương tại Đại Học Quốc Gia Đài Loan, bàn về sự hiện diện của các từ mượn từ tiếng Nhật trong tiếng quan thoại dùng ở Đài Loan.
 
Điều này khá thú vị đối với người Việt hải ngoại. Chúng ta còn chịu ảnh hưởng của văn hoá Pháp rất “elitist”, muốn bảo vệ tiếng Việt của giữa thế kỷ 20, nặng về khuôn phép và tự tôn dân tộc, hai đặc tính mà chúng ta thừa hưởng từ một thế kỷ làm thuộc địa. Chúng ta đang băn khoăn trước những thay đổi mạnh mẽ của tiếng Việt được dùng ở Việt Nam trước thử thách tạo nên bởi nhu cầu hội nhập với toàn thế giới. Một bên là Đông Á (Nhật, Trung Hoa, Hàn quốc, Đài Loan, Singapore) với truyền thống Hán ngữ chung với Việt Nam trước đây trong cả ngàn năm nhưng đang không ngừng đổi mới, và bên kia là thế giới ngôn ngữ Âu Mỹ gồm tiếng Anh năng động, sáng tạo hủy diệt không ngừng, uyển chuyển thích ứng với mọi hoàn cảnh và đang làm bá chủ toàn thể giới.
 
Some Returned Loans: Japanese Loanwords in Mandarin (3)
 
Anyone familiar with the languages of East Asia is aware of the huge scale of linguistic borrowing from Chinese into Japanese that started in the Tang dynasty, and has resulted in a modern Japanese vocabulary that is around 50 percent Chinese in origin.
 
But the direction of borrowing between China and Japan has not been one-way. In the late nineteenth and early twentieth centuries, Chinese borrowed extensively from Japanese as part of its effort to modernize and Westernize. What were borrowed, however, starting from the late 1860s, were mainly Japanese coinages of Chinese character compounds used to translate Western academic and abstract concepts. Japan, in a continuation of the Edo intellectual tradition, placed heavy emphasis on things Chinese during this period, so it is natural that Chinese played such an important role in new word coinages (Seeley 1991: 136).
 
Common examples of this are歷史lìshǐ/rekishi ‘history’, 哲學zhéxué/tetsugaku ‘philosophy’, 手段shŏuduàn/shudan ‘manipulation, means’, 積極jījí/sekkyoku ‘positive, active’, and 目的 mùdì/mokuteki ‘goal’. Some, such as 革 命 gémìng/kakumei ‘revolution’ and 文 化 wénhuà/bunka ‘culture’ already existed in ancient Chinese texts or Chinese translations of Buddhist sutras; Wang (1988: 685) comments that a Chinese translator might have come up with the same ones if the Japanese had not chosen them first. And some of the compounds adopted by the Japanese came from contemporary English-Chinese dictionaries, like W. Lobscheid’s English and Chinese Dictionary, with Punti and Mandarin Pronunciation (Hong Kong, 1866-9); including perhaps the compounds 數學 shùxué/sūgaku ‘mathematics’, 電氣 diànqì/denki ‘electricity’, 立法 lìfǎ/rippō ‘legislation’, and 合眾國 hézhòngguó/gasshūkoku ‘United States of America’ (Seeley 1991: 136). Others, like 科學 kēxué/kagaku ‘science’ and 系統 xìtŏng/keitō ‘system’ were new creations based on Chinese morphemes previously borrowed into Japanese (Norman 1988:21). This method of using Chinese characters as modular “building blocks” had in fact been used during the Edo period in translation exercises encountered in Dutch scientific texts (Seeley 1991: 137). Wang (1988: 685) says that a Chinese might well not have chosen the particular combinations of characters used to form the compounds in this category; but since the Japanese had already created them, and since in most cases they did not “offend Chinese sensibilities”, they were conveniently adopted.
 
Because the form of the loans was completely Chinese – the “Japanese” contribution was the choice of character combinations, not the morphemes themselves – these “loans” are seldom even recognized as being “assembled in Japan from Chinese components”. They are for the most part deeply assimilated in the modern Chinese language. A similar process takes place in modern Greek when it “reborrows” words coined in other languages such as English from ancient Greek roots, like cosmonaut κοσµοναυτηζ (kosmonautis) and telegram τηλεγραφηµα (tilegrafima) (Browning 1969: 116)–except that two distinct writing systems are involved, whereas Chinese and Japanese share written Chinese kanji, at least for most borrowed/loaned vocabulary.
 
Chinese reform leader Kang Youwei 康有為 once said: “I regard the West as a cow, and the Japanese as a farmhand, while I myself sit back and enjoy the food!’” Early Japanese translations made large numbers of important scholarly works and concepts from the West widely available to Chinese audiences; the Chinese felt that Japanese was an “easier” language than Western ones for a Chinese to learn. The Qing court sent increasing numbers of students to Japan – 13,000 in 1906. Between 1902-1904, translations from Japanese accounted for 62.2 per cent of all translations into Chinese. The great majority of these works were themselves translations from English and other Western languages (Hsu 1975: 522).
 
The choice to borrow ready-made Japanese renderings of foreign concepts was not an automatic one, and others did try to come up with and promote original Chinese translations. Scholar and translator Yan Fu 嚴復 (1853-1912), for example, made a such an effort, and suggested such translations as 名學 míngxué for ‘logic’ (‘name study’; now 邏輯 luójí, a phonetic loan from English, though it was also previously called 論理學 lùnlǐxué, a Japanese coinage, and 理則學 lǐzéxué), 計學 jìxué (‘calculation study’) for ‘economics’ (intellectual Liang Qichao 梁啟超 suggested 資產學 zīchǎnxué ‘assets study’) and 界說 jièshuō for ‘definition’ (now 定義 dìngyì, from the Japanese) (Wang 1988: 691, Wang 1955: 94). But the Japanese off-the-rack translations were greatly preferred over such expressions as 量天尺 liángtiānchǐ (measure + sky + ruler) ‘sextant’, now 六分儀 liùfēnyí (six-part-instrument); and 銀館 yínguǎn (silver + building) ‘bank’, now 銀行 yínháng (silver + business firm) (Wang 1988: 684). Today, on the other hand, Chinese tends to come up with its own translations of foreign concepts, rather than relying on Japan for this “service” (Norman 1988: 21).
 
From: Some Returned Loans:
Japanese Loanwords in Taiwan Mandarin
Karen Steffen Chung
National Taiwan University
The original version of this paper was presented at the Workshop on Language Change in Japan and East Asia, Sheffield University, Sheffield, UK. May 21-22, 1999.
 
Món Nợ Trả Lại: Các Từ Ngữ Nhật Cho Mượn Trong Tiếng Quan Thoại
 
Bất cứ ai quen thuộc với các ngôn ngữ Đông Á đều nhận thức được quy mô lớn của sự vay mượn ngôn ngữ từ tiếng Trung Hoa sang tiếng Nhật bắt đầu từ triều đại nhà Đường, và đã dẫn đến khoảng 50% từ vựng tiếng Nhật hiện đại có nguồn gốc tiếng Trung Hoa.
 
Nhưng hướng vay mượn giữa Trung Hoa và Nhật Bản không phải là đường một chiều. Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tiếng Trung Hoa vay mượn nhiều từ tiếng Nhật như một phần của nỗ lực hiện đại hóa và phương Tây hóa. Những gì đã được vay, tuy nhiên, bắt đầu từ cuối thập niên 1860, chủ yếu là những từ ngữ kép mới được Nhật Bản tạo nên từ các chữ Hán để dịch các khái niệm học thuật và trừu tượng của phương Tây. Nhật Bản, trong sự tiếp nối của truyền thống trí thức Edo (Giang Hô), đặt trọng tâm vào bất cứ những gì đến từ Trung Hoa vào thời kỳ này, vì vậy việc tiếng Trung Hoa đóng một vai trò quan trọng như vậy trong việc tạo nên các từ mới cũng là chuyện tự nhiên. (Seeley 1991: 136).
 
Các ví dụ phổ biến về điều này là 歷史 lìshǐ / rekishi ‘history’ (“lịch sử”); 哲學 zhéxué / tetsugaku/philosophy ‘triết học’; 手段 shŏuduàn / shudan/manipulations, means (“thủ đoạn”), 積極jījí / sekkyoku/‘positive, active’ (“tích cực”) và 目的 mùdì / mokuteki ‘goal (“mục đích”). Một số, chẳng hạn như 革 命 gémìng / kakumei / revolution (“cách mạng”) và 文 化, wénhuà / bunka/culture (“văn hóa”) đã tồn tại trong các văn bản cổ của Trung Hoa hoặc các bản dịch tiếng Trung Hoa của Kinh điển Phật giáo; Wang (1988: 685) bàn luận rằng một có thể một phiên dịch viên người Trung Hoa nào đó cũng có thể đã đưa ra những từ ngữ tương tự nếu người Nhật không đứng ra chọn chúng trước. Và một số từ ngữ ghép được người Nhật chọn dùng lấy từ các từ điển Anh-Hoa đương thời, như cuốn Từ Điển Anh-Hoa của W. Lobscheid (W. Lobscheid’s English and Chinese Dictionary), với cách phát âm tiếng Quảng Đông (Punti – Bản Địa) và tiếng Quan Thoại (Hồng Kông, 1866-9); có lẽ bao gồm các từ ngữ ghép như 數學 shùxué / sūgaku ‘math’ (số học), 電氣 diànqì / denki (điện khí), 立法 lìfǎ / rippō/legislation (lập pháp)’, và 合眾國 hézhòngguó / gasshūkoku/United States of America (Hợp-chủng-quốc) (Seeley 1991: 136). Những từ ngữ khác, như 科學 kēxué / kagaku/science (khoa học) và 系統 xìtŏng / keitō ‘system’(hệ thống) là những sáng tạo mới dựa trên các đơn vị ngôn ngữ (morpheme) mà trước đây tiếng Nhật mượn của Trung Hoa (Norman 1988: 21). Phương pháp sử dụng các ký tự Trung Hoa như là những đơn vị "khối dùng để xây dựng lắp ráp" trên thực tế đã được sử dụng trong thời kỳ Edo trong các bài phiên dịch các văn bản khoa học Hà Lan (Seeley 1991: 137). Wang (1988: 685) nói rằng đúng là người Trung Hoa đã không chọn các tổ hợp ký tự cụ thể được sử dụng để tạo thành các từ ngữ ghép loại này; nhưng vì người Nhật đã tạo sẵn ra chúng, và vì hầu hết các trường hợp các từ ngữ này không làm người Trung Hoa nghe chói tai (không "xúc phạm sự nhạy cảm" của họ), chúng đã được thông qua một cách thuận tiện.
 
Bởi vì hình thức của sự vay mượn hoàn toàn là của Trung Hoa - đóng góp của "Nhật Bản" là sự lựa chọn các kết hợp ký tự, không phải bản thân các đơn vị ngôn ngữ - những "vay mượn" này thậm chí hiếm khi được công nhận là “được lắp ráp tại Nhật Bản từ các linh kiện Trung Hoa”. Hiện nay, phần lớn chúng đã được đồng hóa sâu sắc trong ngôn ngữ Trung Hoa hiện đại. Một quá trình tương tự đã diễn ra trong tiếng Hy Lạp hiện đại khi nó "vay lại" các từ ngữ được tạo ra bởi các ngôn ngữ khác như tiếng Anh từ các ngữ căn Hy Lạp cổ đại, như κοσµοναυτηζ (kosmonautis/ nhà du hành vũ trụ hay "phi hành gia") và τηλεγραφηµα (tilegrafima/ điện tín) (Browning 1969: 116) - chỉ khác ở điểm họ dùng hai hệ thống chữ viết khác nhau (ký tự Hy lạp và La tinh), trong khi người Trung Hoa và Nhật Bản chia sẻ chữ Hán của Trung Hoa, ít nhất là đối với hầu hết từ vựng vay mượn.
 
Nhà lãnh đạo cải cách Trung Hoa Kang Youwei 康有為 (Khang Hữu Vi) từng nói: “Tôi coi phương Tây như một con bò, và người Nhật như một người nông dân, trong khi bản thân tôi ngồi lại và thưởng thức món ăn!" Các bản dịch đã tạo nên một số lượng lớn tác phẩm và khái niệm học thuật quan trọng từ phương Tây được phổ biến rộng rãi cho khán giả Trung Hoa; người Trung Hoa cảm thấy rằng học tiếng Nhật "dễ dàng hơn" là ngôn ngữ phương Tây đối với người Trung Hoa. Triều đình nhà Thanh gửi ngày càng nhiều sinh viên đến Nhật Bản - 13.000 vào năm 1906. Từ năm 1902-1904, bản dịch từ tiếng Nhật chiếm 62,2% tổng số bản dịch sang tiếng Trung Hoa. Phần lớn những tác phẩm này chính nó là bản dịch từ tiếng Anh và các ngôn ngữ phương Tây khác (Hsu 1975: 522). Sự lựa chọn mượn các "bản vẽ" của Nhật Bản đã làm sẵn về các khái niệm từ nước ngoài không phải là tự động xảy ra, và đã có những người khác cố gắng tạo ra và quảng bá các bản dịch gốc tiếng Trung Hoa. Ví dụ, học giả và dịch giả Yan Fu 嚴復 (Nghiêm Phục) (1853-1912), đã nỗ lực như vậy, và đề nghị các cách dịch như là 名 學 míngxué cho ‘logic’ (“danh học”); bây giờ là 邏輯 luójí, (logic) (Hán Việt: la tập), mượn phiên âm từ tiếng Anh, mặc dù trước đây nó còn được gọi là 論 理學 lùnlǐxué, từ ngữ mới tiếng Nhật (luận lý học), và 理則學 lǐzéxué) (lý tắc học), 計學 jìxué (calculation studies) (kế học) cho ‘kinh tế học’ (nhà trí thức Liang Qichao 梁啟超 - Lương Khải Siêu - đề nghị 資產學 zīchǎnxué ( tư sản học/nghiên cứu tài sản) và 界說 jièshuō (giới thuyết) cho định nghĩa (definition) (nay là 定義 dìngyì, từ tiếng Nhật, Hán Việt: định nghĩa) (Wang 1988: 691, Wang 1955: 94).
 
Nhưng các cách dịch tiếng Nhật có sẵn được ưa chuộng hơn rất nhiều so với các cách diễn đạt như 量天尺 liángtiānchǐ (lượng thiên xích [đo + bầu trời + thước]) để dịch ‘sextant’, bây giờ là 六分儀 / liùfēnyí (lục phân nghi); và 銀 館 yínguǎn (“ngân quán”/ =ngân hàng), nay là 銀行 yínháng (ngân hàng) (Wang 1988: 684). Mặt khác, ngày nay, tiếng Trung Hoa có xu hướng đưa ra các cách dịch của riêng mình cho các khái niệm của nước ngoài, thay vì dựa vào Nhật Bản cho “dịch vụ” này (Norman 1988: 21).
Hồ Văn Hiền
Ngày 4 tháng 12 năm 2020
Mùa Đông Covid-19
 
Tham khảo:
 
1) Chen Haijing: A Study of Japanese Loanwords in Chinese (University of Oslo)   https://www.duo.uio.no/bitstream/handle/10852/43028/A-Study-of-Japanese-Loanwords-in-Chinese.pdf?sequence=1
 

Tìm các bài BIÊN KHẢO khác theo vần ABC . . .

Tống Phước Hiệp

Địa chỉ E-Mail để liên lạc với chúng tôi: trangnhatongphuochiep.com@gmail.com