User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
tinhtranglaohoavanhochaingoai
 
Trong cái tình hình èo uột trên của văn học hải ngoại như đã có dịp trình bày, một số người cho rằng không thể có hay không nên có một dòng văn hải ngoại.
 
Trên thế giới, người Tàu có mặt ở nhiều quốc gia trên dưới 200 năm và dân số của họ rất đông. Vậy mà họ chưa bao giờ có cơ hội thiết lập được một dòng văn học Trung Quốc ở Mỹ hay ở nơi nào khác. Người Ý mà một nửa dân số lập nghiệp ở ngoài nước Ý, đã có ai nghe nói đến Văn học Ý ngoài nước Ý.
 
Người Việt ở hải ngoại có những nhân tố nào để có thể lần đầu tiên trên thế giới xây dựng được một mảng Văn học độc lập với Việt Nam trong nước.
 
Trả lời cho vấn nạn trên, trong số Văn Học, tháng 8,1995, Nguyễn Văn Trung trong Văn Học hải ngoại xác định rõ ràng Văn học Việt Nam hải ngoại là một hiện thượng bất thường mà chính những người làm ra nó không mong gì hơn là càng chấm dứt nó mau chóng bao nhiêu càng hay bấy nhiêu.
 
Do lòng yêu mến văn học và những ước mơ của người cầm bút mà nhà văn như Mai Kim Ngọc, Nguyễn Mộng Giác phản bác lại lập luận của Nguyễn văn Trung. Ông Mai Kim Ngọc viết:
 
‘Tôi nghĩ văn học hải ngoại sẽ trường tồn và sẽ cùng văn học quốc nội, và rộng hơn văn học thế giới đóng góp cho đất nước và con người nói chung những tac phẩm có giá trị. (32)
 
Những điều dự đoán của Nguyễn Văn Trung năm 1995 nay càng ngày càng trở nên hiện thực.
 
Phần Nguyễn Mộng Giác, ngay từ số 103, tháng 11 năm 1994 trong một bài viết nhan đề:
 
Triển vọng của Văn học hải ngoại theo ông, chất liệu sáng tạo của Văn học hải ngoại là quá khứ thì 10 năm nữa chất liệu ấy vẫn là quá khứ. Văn học di dân hải ngoại dần dần yếu đi, không còn biệt lập, khiêm nhường đóng vai trò Đại lý y như những người Thụy Sĩ gốc Đức, gốc Pháp hoặc những người Mỹ gốc Hoa ở Nữu Ước, ở San Fransisco.
 
Nếu sau này Việt Nam có những nhà văn nổi tiếng thì đó là những Linda Le hay Kim Lefebre. Họ viết văn bằng tiếng nước người mà không bằng tiếng Việt. Bà Kim Lefevre trong dịp trả lời phỏng vấn của Nguyễn Nam Anh đưa ra nhận xét: Hãy viết bằng thứ tiếng mình giỏi và có tài.(33)
 
Riêng cá nhân người viết bài này, ngoài vấn đề người đọc mỗi ngày mỗi thưa thớt, chính bản thân nhà văn cũng không còn có động cơ thúc đẩy để viết mà tôi gọi đó là hiện tượng lão hóa nơi chính các nhà văn.
 
Nếu trước đây trên dưới 20 năm, có ai dám cả gan tiên đoán về có hay không một văn học của người di tản, hay sự lão hoá trong giới nhà văn thì điều đó được hiểu là một xúc phạm tinh thần, một bôi nhọ Cộng Đồng người Việt. Với gần 3 triệu người Việt, với hằng trăm tờ báo đủ loại, với một số nhà văn uy tín hàng đầu trong nước di tản ra nước ngoài, với sự tiếp nối của một số cây viết trẻ, nhiều người nghĩ đến một mảng văn học lưu vong so ngang tầm với mảng văn học trong nước.
 
Niềm tự hào và ước vọng đó nay mỗi ngày mỗi suy giảm đến độ, sau 40 năm, người ta tự hỏi còn có hay chăng một mảng văn học người nước ngoài? Và nếu có thì có như thế nào? Có trong bao lâu nữa?
 
Nói về sự lão hóa, người viết bài nhằm đưa ra những chứng liệu sát thực, những quy luật xã hội về sự hội nhập để thấy rằng hiện trạng lão hóa là điều tất yếu dẫn đưa đến sự suy tàn.. Sự lão hoá không phải chỉ nhắm vào tuổi tác mà còn nhắm vào hoàn cảnh sáng tác, vào đề tài sáng tác của các nhà văn nữa.
 
Bệnh già là một sự lão hóa trong quá trình sinh hóa. Đó là một điều bình thường. Nếu nó đã là bình thường thì sự lão hóa nơi một số đông nhà văn cũng là chuyện bình thường. Già thì trí nhớ suy kém, óc sáng tạo xoi mòn, thể chất mất linh động nhạy bén. Muốn viết cũng không viết được nửa.
 
Về thể chất thì mắt mỏi, mắt kém hay nhức mỏi, rồi nhức đầu chóng mặt khi ngồi lâu.
 
Về tinh thần thì nhớ nhớ quên quên, chuyện nọ lẫn ra chuyện kia, chuyện quá khứ thì như mặt lõm của một ngọn đồi. Chuyện hiện tại thì như mặt phẳng của ngọn đồi, vừa nói xong đã quên.
 
Tệ nhất là trí tưởng tượng đã xói mòn, khô cạn.
 
Nhưng xem ra khi viết sự lão hóa nơi các nhà văn thì tự nhiên có một số người dị ứng, không chịu nhìn nhận một sự thật.
 
Nhưng giả dụ nếu có một thế hệ nhà văn trẻ kế thừa, tiếp tục thì tình trạng lão hóa đã không được nói đến ở đây. Có kế thừa như sự sống, như dòng sinh mệnh văn học, hết cây nến này vừa kịp tắt thì có cây nến khác thắp sáng lên.
 
Chính vì không có người trẻ kế thừa mà tình trạng lão hóa nơi nhà văn và người đọc sẽ đưa đến tình trạng tuyệt nòi.
 
Trong vòng 20 năm nữa, khó có thể nói đến một dòng văn học ngoài Việt Nam.
 
1.- Lão hoá về đề tài hay nguồn cảm hứng
 
Stanley Karnow, một nhà báo kỳ cựu ở VN khi đến Little Sàigòn đã nhận xét: *Tôi không bao giờ kỳ vọng được trở lại trông thấy Sàigòn một lần nữa. Nhưng nay bây giờ tôi đã thấy trở lại, ít lắm là về mặt tinh thần*. Và nhận xét về cuộc sống người di tản, Karnow đã đưa ra một biểu tượng cây cầu* Vietnamese try to bridge two worlds in Orange County!s little Saigon* (Trích Stanley Karnow 1992: 29). Cây cầu đó nối liền hai thế giới Việt nam và Mỹ, nối liền quá khứ với hiện tại. Mỗi người VN bỏ nước ra đi đều mang theo một quá khứ, phần lớn là đau thương, tủi nhục và mất mát. Họ chả quên được. Như nhà báo trẻ Andrew Lam viết trong một bài tựa đề: Viet Nam after normalisation: Vietnamese in America Bid Farewell to Exile Identity. (trích trong Jinn Home page). ông cho biết, cha ông là một cựu Tướng lãnh trong quân đội miền Nam. Trong lúc ăn, các câu truyện quá khứ thường bao trùm toàn thể bữa ăn. Sau một vài ly rượu, cha của ông bắt đầu kể lại những hồi ức về những trận chiến mà ông tham dự và đã thắng trận. Kể riết rồi cậu bé Andrew Lam có thể nhìn thấy những trận mưa bom Napalm thắp sáng trên bầu trời đen tối.
 
Chính những hoài niệm quá khứ này là cái căn cước của người Mỹ gốc Việt. Cái đã làm nên vinh quang của họ. Không có nó, họ còn là gì nữa? Theo Nguyễn Mộng Giác, vứt bỏ quá khứ ấy đi, nhiều người sẽ phát điên lên.
 
Ký ức về chiến tranh đã đưa con người Việt lưu vong vào một thế giới không còn nữa.
 
Nó bày tỏ một cảm thức sâu xa về một cái gì đó đã mất, rồi được huyễn hoặc về quá khứ cũng như cội nguồn của mình nhằm xoa dịu những nỗi đớn đau ấy.
 
Đó là một hội chứng sau 1975. Hội chứng thua cuộc.
 
Người việt lưu vong thế hệ đầu tiên 1975-1978, sau khi đã hội nhập vào đất nước tạm dung thường tìm cho mình một thẻ căn cước Việt tính (origin identity) như một lẽ sống còn, một chỗ trú ẩn. Hồi tưởng lại cuộc chiến là một cái trục xoáy (pivotal place) để từ đó người Việt lưu vong nhìn nhận ra gốc gác (racial identity) của mình.
 
Những buổi lễ, những câu truyện bên chén trà, ly rượu, những buổi diễn binh như ở Boston với những người lính VNCH đồng phục đủ loại, với cờ quạt nghi lễ, những buổi ca nhạc kịch.. Tất cả như muốn vực dạy cái quá khứ mà nay dần chỉ còn là những huyền thoại như Jean Beaubrilland viết: *When the real is no longer what it used to be nostalgia assumes its full meaning. There is a proliferation of myth of origin and signs of reality, or second-hand truth.. And there is a panic-stricken production of the real and the referential (Trích recognizing Vietnamese loss.(34) 1983#402 12-13.)
 
Nhưng thường thì người ta không dừng lại ở đó. Người ta thường chuyển hoá những kỷ niệm, những hoài niệm quá khứ thành một lý tưởng, một chủ trương, một đường lối, một chỉ hướng soi đường để hành xử và phê phán.
 
Người Mỹ hơn ai hết hiểu rõ tâm trạng đó nên ngay từ 1975 đã có chủ trương phân tán người Việt di tản đi khắp nơi trên toàn nước Mỹ như lời bà Ellen Mathews đã viết trong cuốn Culture Clash của bà. Chính phủ Mỹ đã tìm cách phân tán mõng những người Việt di tản để tránh cái tình trạng: *một sự nhắc nhở quá lộ liễu về chiến tranh*.
 
Cho nên cũng chẳng lạ gì, những nhà văn di tản lớp đầu đương nhiên lấy nguồn cảm hứng hay đề tài về cuộc chiến đã qua. Lê Tất Điều với bút ký Ngưng bắn ngày thứ 492. 1978). Bài thơ Cảm Khái sau đây với những hoài niệm bi phẫn về cuộc chiến đã qua:
 
Hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm
Mày lang thang đất lạ đến bao giờ
Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
Còn một oan hồn mặt mũi vu vơ.
Ôi trong trí mỗi anh hùng thủa trước
Còn dậy trời lên những buổi tung cờ. (1977).
 
Ông còn viết chung với Võ Phiến trong tùy bút Ly Hương (1977). Võ Phiến bắt đầu viết Thư gửi bạn (1976), Đất nước quê hương, Lại thư gửi bạn (1979).
 
Thanh Nam với bài thơ Xuân Đất Khách:
 
Đổi ngược họ tên cha mẹ đặt
Tập làm con trẻ nói ngu ngơ
Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
Nghĩ đắt vô cùng giá Tự Do. (35)
 
Giai đoạn di tản đợt hai từ đầu thập niên 80 tới đầu 90 với những người đã có kinh nghiệm từng sống dưới chế độ Cộng sản, từng đã đi tù, từng đi cải tạo, từng nếm mùi bo bo, từng phải liều mạng trên biển mà thế giới gọi họ là *những thuyền nhân* (boat people).
 
Nay thì đề tài chống Cộng là sức sống, là cái lý lẽ ở đời, làm cho cuộc đời này có một ý nghĩa để tiếp tục sống. (La raison d’être)
 
Các nhà văn lớp di tản thứ hai lên án trực tiếp chế độ Cộng Sản bằng chính kinh nghiệm xương máu của họ qua các truyện dài, nhất là những bút ký, hồi ký đủ loại.
 
Nguyễn Chí Thiện với tập thơ Tiếng Vọng Từ Đáy Vực gây chấn động một thời. Trần Huỳnh Châu với Những năm cải tạo ở Bắc Việt (1981). Hà Thúc Sinh với Đại học máu (1985). Tạ Chí Đại Trường với cuốn hồi ký Một nửa Việt Nam Cộng Hoà kéo dài, theo tôi, đây là một cuốn hồi ký đắt giá. Cao Xuân Huy với Tháng Ba gẫy súng (1986), rất trung thực, lên án các cấp chỉ huy của mình hèn nhát bỏ lại đồng đội. Cuốn sách đã gây được sự chú ý của nhiều người đọc. Phạm Quang Giai với Trại cải tạo, Nguyễn Thanh Ty với Trong lao tù cộng sản, Trại Đá Bàn & A.30.
 
Tiếp theo đó là các nhà văn như Nguyễn Mộng Giác, Duyên Anh, Nhật Tiến, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Khắc Ngữ, Lê Văn Phúc, Nguyễn Đức Lập, Tưởng Năng Tiến, Võ Hoàng, Nguyễn Bá Trạc, Xuân Vũ, Phan Nhật Nam, Nguyễn Ngọc Ngạn,Võ Kỳ Điền.
 
Tuy vậy, cái hội chứng 75 cứ được nhắc đi nhắc lại đến không còn gì để nói nữa.
 
Theo tôi, hội chứng sau 1975 có thể chỉ là một.
 
Nhưng vấn đề là nhà văn phải làm thế nào viết, cách thức trình bày, cách thức diễn giải sao cho người đọc cảm thấy như thể lần đầu, cảm thấy là mình, đụng chạm vào những nỗi đau như mũi chích vào chính da thịt mình, trong mình, không phải ngoài mình.
 
Cái đau bằng cảm nhận của nhà văn phải chuyển tải được bằng một thông điệp mang tính chất bi kịch con người trong lòng chế độ cộng sản. Cộng sản là một điều tồi tệ, một điều xấu trên mọi điều xấu, vấn đề là chuyển tải được nó như một lời mời gọi cùng nhau ngồi vào bàn tiệc- chia sẻ bữa tiệc dạ quỷ- trong đó món ăn, gia vị đắng cay rút ra từ chế độ ấy.
 
Điều đó cũng đánh dấu sự biện biệt giữa nhà văn có tài và ít tài.
 
Còn nếu cứ viết cùng một cung điệu, nó sẽ rơi vào trình trạng nói rồi, cứ nói mãi. Lúc đó bắt buộc tạm gọi đó là thứ văn chương H.O. Viết như thể một điệp khúc nháy đi nháy lại năm này qua năm khác thành cháy cả đám.
 
Các nhà văn ấy trở thành những người tuyên truyền hơn là vai trò nhà văn.
 
Nhưng khi mà tình hình chính trị ở Việt Nam cũng như thế giới đã có nhiều biến động, nhất là từ khi có sự sụp đổ các nước Cộng Sản Đông Âu, cộng thêm đường lối cởi trói và mở cửa ở trong nước từ năm 1986.
 
Dần dần có một số nhà văn, qua trải nghiệm thực tế, có xu hướng đặt lại những quan điểm phê phán chế độ Cộng Sản.
 
Bắt đầu với Nguyễn Mộng Giác, Nhật Tiến và Duyên Anh.. Những nhà văn này xét lại những ý thức hệ Cộng Sản, tư bản, thực chất cuộc chiến tranh bị coi là phi nhân, phi nghĩa như một cuộc nội chiến. Đi xa hơn nữa họ nói tới tình nhân loại, con người Việt Nam không phân biệt Nam Bắc, tới quê hương dân tộc.
 
Nhật Tiến với Một thời đang qua (1985) Mồ Hôi của Đá (1988). Duyên Anh với cuốn Đồi Fanta, Nhìn lại những bến bờ. Nguyễn Mộng Giác với Ngựa nản chân bon.
 
Sự nhìn lại mình, duyệt xét lại một quan điểm chính trị thức thời là một thái độ chân thật và can đảm của nhà văn dễ bị chụp mũ và bị bôi bẩn.
 
Phần tôi, tin tưởng và không dễ dãi ngộ nhận những nhà văn trên.
 
Theo tôi, những nhà văn trên không có ý hướng ngả theo cộng sản. Phần Nhật Tiến đã trả lời dư luận khi ông viết cuốn: Sự thật không thể bị chôn vùi. 2012 để biện hộ cho các tác giả trong cuốn: Trăm hoa vẫn nở trên Quê Hương. Đồng thời trích lại bài phê bình cuốn Mồ Hôi của đá của Thụy Khuê
Trong cuốn Mồ hôi của đá, Nhật Tiến mong muốn nhiều thứ lắm.
 
Chúng ta chỉ có thể không đồng ý với ông về những đề nghị ông đưa ra thuộc loại ảo tưởng.
 
Nhưng kết án ông lại là một chuyện khác.
 
Hoặc như Nguyễn Ngọc Ngạn thay vì tiếp tục viết với xu hướng chống Cộng như trong truyện đầu tay của ông The will of Heaven (1982), nhưng chẳng bao lâu sau, do nhu cầu cơm áo, ông đã chuyển hướng viết về những truyện tình vô thưởng vô phạt, nhằm đáp ứng thị hiếu một số độc giả trên các báo chợ. Và quả thực, ông trở thành một tác giả khá ăn khách cho một giới người đọc nào đó. Một giới độc giả mà thời nào cũng có. Thật ra chính những người như Nguyễn Ngọc Ngạn mới là người đáng trách, bởi vì ông dễ dàng bỏ quên đi những đau thương bi kịch vượt biển mà hiếm hoi trong dòng người tấp vô Mã Lai hay Nam Dương gặp phải.
 
Kể từ đầu thập niên 90, vẫn còn một số nhà văn tương đối trẻ- trừ Nguyễn Thị Hoàng Bắc không trẻ nữa- khai thác lại những chủ đề quen thuộc về chiến tranh, cuộc sống người tỵ nạn, kiếp lưu vong, pha trộn những khắc khoải băn khoăn của tiến trình hội nhập vào xã hội mới..
 
Thêm vào đó là các nhà văn như Trần Diệu Hằng, Phan Thị Trọng Tuyến, Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Hồ Trường An, Hồ Đình Nghiêm, Phạm Quốc Bảo vv.. Nhưng trước một cuộc sống đã quá nhiều thay đổi với một đa số là giới trẻ mới lớn, thuộc thế hệ thứ hai của người di tản.. Những đề tài của các nhà văn trong các tiểu thuyết của họ hầu như không còn đáp ứng kịp, hoặc đã trở thành cũ mòn. Viết mãi một đề tài, nó dễ trở thành Cliché, chuyện hay mấy cũng là chuyện nói rồi. Phải chăng đó là tình trạng già nua, cũ mòn, lão hoá, thiếu sáng tạo của một số nhà văn di tản?
 
Ngoài một vài tác giả như Nguyễn Mộng Giác (Thật sự, ông viết cuốn truyện dài Sông Côn mùa lũ ngay từ khi còn ở trong nước, phải đợi đến khi đoàn tụ gia đình, người vợ đảm đang mới đem ra khỏi nước được) Cao Xuân Huy, Tạ Chí Đại Trường, Xuân Vũ hay một Hồ Trường An. Những nhà văn lớp trước như Duyên Anh, Phan Nhật Nam, Bình Nguyên Lộc, Võ Phiến kể như sức viết đã kiệt..
 
Phải chăng, vì thế Võ Phiến quay ra viết phê bình Văn Học- một nghề không phải sở trường của ông-
 
Sức viết không còn được như trước nữa. Đó là một thực tế phải nhìn nhận.
 
Ấy là chưa kể đến sự mất mát không thay thế đến những người như Nguyên Sa, Mai Thảo, Doãn Quốc Sĩ. Hai người trước đã không còn nữa, người còn ở lại cũng ngưng viết chờ ngày lên đường.
 
Mất mát một nhà văn hải ngoại là mất mát luôn.
 
Những nhà văn với những đề tài đã được nhiều người viết nên mất hẳn sức căng, sức quyến rũ. Nó như những lối mòn không khéo một chút dễ đi đến chỗ nhàm chán. Xa tý nữa, đi vào chỗ khép lại như những ghetto văn nghệ, bất chấp thực tế xã hội, bất chấp cuộc sống sinh động hiện tại, tự xếp mình vào hàng ngũ những nhà văn lưu vong, ẩn dật.
 
Những truyện viết như thế dần mất chỗ đứng, không có người đọc.
 
Vì thế, mấy ai còn chịu khó đọc những tác phẩm xuất bản ở ngoài nước như Một người Nga ở Sàigòn, Bầy sư tử lãng mạn, Nhà tù, Nhìn lại những bến bờ. Họa chăng với cuốn một người tên là Trần Văn Bá của Duyên Anh? Còn đâu những Hoa Thiên Lý, Thằng Vũ, Dấu chân sỏi đá, Vết hằn trên lưng con ngựa hoang?
 
Mấy ai đã đọc và biết đến Mồ hôi của đá, Gặp gỡ cuối năm, Tiếng kèn của Nhật Tiến? Những truyện của Nhật Tiến vừa kể lấy chi để so đo với chính Nhật Tiến trước 1975 Những Thềm Hoang, Những người áo trắng, Truyện Bé Phượng hồi trước 1975?
 
Có cái gì của Phan Nhật Nam viết hiện nay có thể so sánh được với Mùa hè đỏ lửa, Dọc đường số 1, Ải trần gian, Dựa lưng nỗi chết, Tù binh và Hoà Bình và đặc sắc nhất Dấu binh lửa?
 
Nhưng cũng trong thời gian này, người ta thấy những đóng góp đáng kể và khởi sắc của một số nhà văn trẻ viết truyện ngắn như Lê Thị Huệ, Vũ Quỳnh Hương, Trần Vũ, Kiệt Tấn, Trân Sa, Mai Ninh vv và một số nhà văn mới như Phùng Khánh Minh, Đỗ Lễ, Anh Đàovv..
 
2.- Tình trạng lão hoá nơi các nhà văn
 
Lão hóa nơi những lớp nhà văn từ 70 tuổi trở lên.
 
Đây là dấu hiệu đáng lo ngại nhất, vì những nhà văn này đã thành danh, đã có chỗ đứng trong văn học và hiện nay không ai thế vào chỗ của họ được. Mỗi một người trong số họ mất đi, thêm một chỗ trống. Giống như các ghế ngồi trong một phòng họp đã đánh số, mất đi một người tạo một khoảng trống ghế ngồi. Có lần Nguyễn Xuân Hoàng, nghe tin bạn bè nhà văn ra đi, ông cảm thấy như thêm một cái ghế trống. Nay đến lượt chính ông để một cái ghế trống không người thay thế.
 
Không ai thay thế được ai- mỗi nhà văn đã có tên tuổi ra đi là một khoảng trống để lại nghĩ mà buồn.
 
Ai có thể thay thế cho Mai Thảo, Nguyên Sa, Duyên Anh? Mặc dầu Mai Thảo của thập niên 1954-1960 cũng giống MT của thập niên 1963-1975 và cũng không khác bao nhiêu với 1979 về sau. Ông vẫn thế, bất kể những biến thiên, xáo trộn của thời cuộc đang rúng động, trụt lở dưới chân ông.Tôi vẫn muốn bầy tó ý riêng của mình là những nhân vật truyện của Mai Thảo có vẻ dửng dưng quá, như những kẻ ngoài cuộc bất kể những biến động lớn nhỏ đang xảy ra chung quanh ông.
 
Đối với tôi, những nhà văn không dấn thân là những nhà văn thuộc loại văn chương trú ẩn như tên gọi mà Nguyên Sa đã dùng để chỉ chỉ thị những nhà văn không dấn thân, nhập cuộc khi chiến sự sôi bỏng.
 
Họ như vẫn ở ngoài tầm bắn của tên đạn và đêm đêm không nghe thấy tiếng đại bác vọng về, hay tiếng ì ầm của bom nổ. Họ cũng không nhìn thấy xác người trôi sông hay vắt vẻo trên hàng rào kẽm gai thuở nào.
 
Cái cảm giác buổi sáng thức dậy: Khi nghe tin em gục ngã nơi chiến trường là có thật, là sống động. Tôi đã từng xem một cuốn video khi người ta chôn những người lính trẻ gục ngã ở một chiến trường nào đó, với những tiếng khóc kêu gào đến không xem tiếp nữa.
 
Tôi cũng đã từng đọc những thơ văn của lớp người trẻ làm do Trần Hoài Thư sưu tập, quy tụ 263 tác giả trong cuốn: Thơ miền Nam trong thời chiến.(36)
 
Những nhà văn còn sót lại của lớp tuổi trên 70 có thể đếm chưa hết 10 đầu ngón tay. Chẳng hạn thế hệ nhà văn sau 1954 như Doãn Quốc Sĩ, 1923, với một văn nghiệp như Sợ lửa, Gìn vàng giữ ngọc, Hồ Thùy Dương, Cánh tay nối dài, Dòng sông định mệnh, Trái cây đau khổ và trường thiên tiểu thuyết Khu rừng lau được kể là đồ sộ.
 
Sau 1975, ở hải ngoại, ông cho xuất bản Mình lại soi mình (1981), Người vái tứ phương (1982), Dấu chân cát xóa, Cỏ đùm (1997). (37)
 
So ra văn nghiệp thời kỳ sau 75 của ông kể là sút giảm. Nhưng người ta vẫn tìm thấy ở Doãn Quốc Sĩ một tấm lòng đôn hậu, lạc quan tin vào người, tin vào đời. Phải chăng, đó là nét đẹp nhất của một nhà văn, một nhà giáo?
 
Bình Nguyên Lộc, 1914-1987, với các tác phẩm Ký thác, Tâm trạng Hồng, Tình đất, Cuống rún chưa lià, Tâm trạng hồng, Quán tai heo, nhất là cuốn Đò Dọc. Ông sang Hoa Kỳ, ở Sacramento và mất ở đó năm 1985. Ông là nhà văn tiêu biểu của văn chương miền Nam, đồng thời vừa là nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà biên khảo. Bình Nguyên Lộc là một trong những nhà văn sáng giá của văn học miền Nam.
 
Ông viết với tình tự dân tộc, với tình đất, với Cuống rốn chưa lìa thì hỏi rằng xa khỏi đất nước, làm sao ông còn có thể sáng tác được gì. Ông là nhà văn để lại gần 1000 truyện ngắn đủ loại, sang Mỹ ông đành khoanh tay ngồi chờ lúc về bên kia thế giới với một cuốn sách được tái bản là Ký Thác.
 
Tôi vẫn tiếc ngậm ngùi khi nghĩ đến sự ra đi của ông. Sự ra đi của ông cũng như sự ra đi của Mai Thảo, Nguyên Sa, Thảo Trường, Thanh Tâm Tuyền là những ghế trống văn học không ai thay thế được họ.
 
Duy Lam, 1932 với Chồng con tôi, Gia đình tôi, Cái lưới, Lột xác, Nỗi chết không rời. Sau 1975 cho xuất bản Tuyển tập Truyện mới (1995). Em phải sống (1996) Ai đã có dịp đọc Duy Lam trong các tác phẩm đầu tay của ông như Gia đình tôi sẽ nhận thấy ông viết rất dí dỏm, rất vui tươi lành mạnh.
 
Đặc biệt chỉ có Võ Phiến, sinh 1925, đã xuất bản nhiều tác phẩm ở trong nước cũng như khi ở ngoài nước. Trong Nước như Mưa đêm cuối năm, Đêm trăng sáng, Giã Từ, Tạp luận, Tạp bút. Sau 1975 với Văn học miền Nam Tổng Quan, Thư gửi Bạn rồi Lại Thư gửi Bạn..
 
Giai đoạn sau 75 ở Hải ngoại, ông thiên về khảo luận nhiều hơn là sáng tác. Điều đó cho thấy một nỗi bất lực kín đáo của một nhà văn đã không còn thời nửa. Nếu tôi có phản biện ông một điều gì thì đấy là một thứ phản biện sinh lời và tích cực, không nhằm suy giảm thế giá của ông trên văn đàn.
 
Thanh Nam, 1931-1985, với Người Nữ danh ca, Buồn Ga nhỏ, Còn một đêm nay, Bầy ngựa Hoang, Những phố không đèn, Mấy mùa Thương đau, Trăng đất khách.
 
Kể như ông đã không sáng tác được gì từ khi ra Hải Ngoại, ngoại trừ một số bài thơ cảm khái về số phận của một người di tản.
 
Xuân Vũ là nhà văn viết khỏe nhất với Đường đi không đến, gồm 5 tập, rồi 2000 ngày đêm trấn thủ Củ Chi, Văn nghệ sĩ miền Bắc như tôi đã biết, đã in được 3 tập, Cách Mạng tháng 8, cha đẻ còng số 8, Sông nước Hậu Giang, Bùn đỏ, Kẻ sống sót, Con người vốn quý nhất, Thiên đàng treo. Một số hồi ký như Tấm lụa đào, Quê Hương Yêu dấu, Trăng kia chưa xế, Vàng mơ bông lúa, Những độ gà nòi, Xóm Cái Bần, Buồng cau trổ ngược. Ngoài ra, còn có một số truyện viết liên quan đến Cộng đồng người Việt Hải ngoại như Ngọc Vùi, Hột Xoàn là của Trời cho, và cuối cùng là The survivor (kẻ sống sót).(38)
 
Những tác phẩm xuất bản thời VNCH của ông, tôi đã mua được đủ. Nhưng những cuốn sau này không hiểu tại sao biến dạng. Tôi cũng đành bất lực, trói tay. Có lẽ ít có nhà văn Hồi chánh nào viết một cách đầy đủ muôn mặt từ bên trong chế độ ấy như Xuân Vũ, với một trí nhớ kỳ diệu và một cái nhìn nhân bản soi dõi vào cái chế độ thiếu con người ấy. Ngậm ngùi và đau xót với phong cách của một người miền Nam đã từng đi theo kháng chiến, từng là kẻ ở trong cuộc. Những tác phẩm của Xuân Vũ trước 75 trình bày những mảnh đời, những câu truyện bên trong của xã hội Cộng sản và được độc giả trong Nam đón nhận một cách nồng nhiệt.
 
Hoàng Hải Thủy, 1930, có khoảng 30 chục tác phẩm như Bạn và vợ, Môi thắm nửa đời, đi tù Cộng Sản ngay từ tháng 5, 1975, sau đó ra Hải Ngoại.. Ông vẫn viết báo cho các báo chợ và mới cho xuất bản cuốn Những tên Biệt kích cầm bút, 2000.
 
Chuyện không có gì đặc biệt, chẳng nhắn gửi được gì, cũng chẳng nói lên được gì, hoặc gây một ấn tượng đặc biệt nào. Cuốn sách Những tên biệt kích cầm bút có thể nói là thường, điển hình cho một loại sách viết đã hết chất, hết lửa. Người đọc ông lấy làm thất vọng.
 
Võ Đình, 1933 với Xứ Sấm Sét (1987), Đóa sen và nụ cười ( 1990 ), Sao có tiếng sóng ( 1991) được kể là một trong số những nhà văn viết muộn ở Hải Ngoại, nhưng viết có chất lượng, khá hay với một văn phong dàn trải cách riêng, trải chuốt và đặc sắc. Một chút tinh tế Võ Phiến, một chút màu mè Mai Thảo và một chút phong cách Huế, một chút Paris.. Bấy nhiêu thứ cộng lại với một cuộc sống nặng phong cách Á Đông, Thiền đã là những gì làm nên Võ Đình.
 
Phải chăng ông viết được như thế vì ông không mang số phận người di tản.
 
Nói chung trong số tất cả những nhà văn vừa nêu trên, sức sáng tác vừa có sự sa sút rõ nét về phẩm cũng như về lượng. Bình Nguyên Lộc, Minh Đức Hoài Trinh, Thanh Nam kể như tắt tiếng. Hoàng Hải Thủy sa sút đến chẳng còn gì để nói. Trừ Võ Phiến và Võ Đình có những tác phẩm được kể là còn có giá trị. Dù vậy, nó cũng klhông đủ gây nên một làn sóng đặc biệt nào trong Văn học Hải Ngoại. Âm vang của nó không đi xa. Nó vẫn chưa có được tầm vóc như độc giả mong đợi, nhất là trong trường hợp Võ Phiến.
 
Một mặt khác, nó báo hiệu một thời kỳ suy tàn khó tránh khỏi.
 
Những lớp nhà văn từ 60 đến 70.
 
Đây là lớp tuổi nhà văn chiếm số lượng đông đảo nhất ở Hải Ngoại. Họ là những Nguyễn Mộng Giác, 1940, với Nỗi băn khoăn của Kim Dung, Bóng thuyền say (1974).. Tỵ nạn sang Hoa kỳ có các tác phẩm Ngựa nản chân Bon, Xuôi Dòng, nhất là Trường thiên Mùa biển động (1989) và Sông Côn mùa lũ (Viết ở Việt Nam. Mang sang Mỹ 1990-1991).
 
Ông là nhà văn gốc gác nhà giáo có nhiều phần giống phong cách của Doãn Quốc Sĩ. Nhưng ông viết sắc sảo hơn, nhiều nét tinh tế và còn dàn trải một ý thức sáng tạo cho những tác phẩm của mình.
 
Nếu cần đánh giá ông thì phải nhìn nhận không mấy người vượt được ông khi cầm bút ở Hải ngoại..
 
Duyên Anh, 1935 với 50 tác phẩm xuất bản hồi trước 75. Có lẽ số lượng đầu sách xuất bản đó chỉ thua có một Bình Nguyên Lộc mà thôi. Đó là các truyện Hoa thiên lý, Thằng Vũ, Dũng Dakao., Vết thù hằn trên lưng con ngựa hoang, Tuổi mười ba, Áo tiểu thư, Em đã yêu anh. Ngựa chứng trong sân trường. Ông là nhà văn của tuổi thơ với những thằng Côn, thằng Khoa, thằng Vũ, con Thúy đến Dzũng Dakao, Chương Còm, Bồn, Hưng mập.
 
Đó là thứ tuổi trẻ bụi đời và du đãng. Thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam mang ơn ông rất nhiều về những cuốn truyện của ông viết về họ.
 
Ông gặp nhiều bất hạnh lúc cuối đời va đập cả từ ngoài xã hội đến nội bộ gia đình..Tôi thu tập khá đầy đủ tài liệu về ông.
 
Nhưng về lúc cuối đời, như một số tên tuổi khác, ông đã tìm được con đường đạo phải đi trong suốt hành trình dương thế mà cả đời ông đã không gặp..
 
Có nhiều phần, ông gặp được thánh Phê rô- người giữ cửa nước Trời.
 
Thế Uyên, 1935 với các tác phẩm Hạt cát, Mười ngày phép của một người lính, Những ý nghĩ của bọt biển, Nỗi chết không rời, Bản tình ca. Nghĩ trong một xã hội tan rã.
 
Ông là một người cầm bút với ý thức, với suy tư triết lý, với những ý nghĩ vụn vặt trong mỗi đầu sách. Sách nào cũng ngắn, trải dài chỉ hơn trăm trang.. Trước khi ngã bệnh nếu tôi nhớ không lầm, ông hy vọng tôi sẽ viết được đôi điều về ông nên đã gửi các truyện của ông xuất bản tại Việt Nam. Trong cuốn Hạt cát, ông gửi tặng tôi ghi: Sách đầu tiên, tặng anh Nguyễn Văn Lục.
 
Ông cũng như Duy Lam là hai người tâm sự vụn với tôi rất nhiều điều. Như một số nhà văn gặp hoạn nạn chính trị bị cộng đồng người Việt lên án, ông còn gặp sự đố kỵ của gia đình bên ngoại. Cũng như Duyên Anh, có thể ông có vài ý nghĩ khác người, nhưng nếu nhìn toàn diện tác phẩm của ông, tôi nghĩ rằng, ông vẫn là một người quốc gia chân chính và một nhà văn chân thật.
 
Phải chăng nhận xét này đủ để tôi chuộc lỗi với ông không viết đầy đủ như lòng mong đợi của ông.
 
Kiệt Tấn, 1940, tên thật là Lê Tấn Kiệt với Nụ cười tre trúc, (1987) Lớp lớp phù sa (1988 ). Nghề múa (1989 ) Em ơi biết đâu tìm 1994.
 
Tôi có viết một bài về ông: Ba điều về Kiệt Tấn, đăng trên bào Văn của Nguyễn Xuân Hoàng. Ông là một trong số những người viết trẻ sau này có thể theo gót những nhà văn Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc. Nụ cười tre trúc được đánh giá cao xét về măt Văn Học. Rất tiếc, tinh thần ông không được vững ảnh hưởng tới công việc sáng tác của ông.
 
Phan Nhật Nam, với tác phẩm Dấu binh lửa, Ai trần gian, Dựa lưng nỗi chết, Tù binh và Hoà Bình, Dọc đường số 1 và nhất là Mùa hè đỏ lửa (1972) Sau 1975 với Những chuyện cần được kể lại, Mùa đông giữ lửa. Đường trường xa.
 
Phải công nhận nhà văn Phan Nhật Nam là ngòi bút có lửa. Lửa rừng rực cháy trong Dấu binh lửa, trong Mùa hè đỏ lửa.
 
Theo tôi nhận xét, Phan Nhật Nam giống môt phần nào Phan Lạc Tiếp, ngòi bút chiến tranh không hừng hực hận thù. Ngay cả khi hừng hực sôi máu trước cái chết của đồng đội nếu có đi nữa, người ta vẫn tìm thấy cái tình con người trong những câu chuyện chiến tranh của ông.
 
Tôi chỉ thực sự xúc động khi đọc ở ông những góc cạnh, những câu chuyện kể bên lề cuộc chiến, nhưng vẫn nhắn gửi một cái tình con người trong những câu chuyện ấy..
 
Còn truyện chiến tranh cũng là những chuyện cũng đành cả.. Nhưng lửa ấy nơi Phan Nhật Nam cũng rừng rực khi ngồi ăn nhậu trên bàn tiệc rượu với bạn bè.
 
Nói chung, ông là người dễ thương, bạn bè trêu chọc đủ thứ ông không giận.
 
Nhật Tiến, 1936. với Những người áo trắng, Những vì sao lạc, Tay Ngọc, Chuyện bé Phượng, Người kéo màn, Chim hót trong lồng, Quê nhà yêu dấu, Lá chúc thư, Theo gió ngàn bay.
 
Ông được nhìn nhận như một nhà văn viết cho tuổi thơ bất hạnh, viết về những mảnh đời của trẻ em mồ côi với những tên Phượng, Dung, Cúc, Alice, Hạnh.
 
Tôi nghĩ đó cũng đủ làm nên văn nghiệp của ông.
 
Sau 75 có Mồ hôi của đá, Tiếng kèn, Gặp gỡ cuối năm.. Một thời đang qua. Ông là người có khả năng tài chánh để in ấn.. Tôi cũng có đủ những sách của ông in sau này ở Hải Ngoại.
 
So với chính ông thì tự nó ông cũng thấy có sự sút kém nhiều.
 
Ngô Thế Vinh 1941 với Mây Bão, Vòng đai xanh, Mặt trận Văn Nghệ ở Sàigòn, Gió mùa, Vòng đai xanh. Sau 1975, ông viết Cửu Long cạn dòng, biển Đông dậy sóng.
 
Những tác phẩm của Ngô Thế Vinh sau này ở Hải ngoại chuyên chở một lo ngại về môi trường. Tôi có được đọc và chia sẻ.
 
Nhưng có thể vấn đề môi trường còn quá sớm sủa đối với tâm thức người Việt Nam nên ít ai lưu tâm cho đủ.
 
Nhã Ca, tên thật Trần Thị Thu Vân, 1939 với Đêm nghe tiếng đại bác, Đêm dậy thì, Sống một ngày, Giải khăn sô cho Huế, Tình ca trong lửa đỏ, Một mai khi hoà bình, Lăn về phía mặt trời.
 
Theo nhận xét riêng của tôi, người phụ nữ viết về chiến tranh vẫn có cái chưa tới, viết bằng cảm giác hơn là cuộc sống thực. Hình như nó thiếu chiều suy tư, thiếu chiều sâu.
 
Bà là tiêu biểu cho những giọng nhà văn nữ eo éo thay cho tiếng ồm ồm của một thời kỳ văn học rộ lên một đám phụ nữ theo nhận xét dí dỏm của Võ Phiến. Sự rộ lên này hiểu được, vì đa số nhà văn phái Nam phải cầm súng ra trận.
 
Theo nhà văn Uyên Thao, trong cuốn sách của ông nhan đề: Các nhà văn nữ Việt Nam 1900- 1970, tác phẩm Đêm nghe tiếng Đại bác được đăng một phần trên nhật báo Tin Sáng đã làm nên tên tuổi Nhã Ca.
 
Có điều nhà văn Uyên Thao khổ công tìm ra ở đâu bức hình Nhã Ca đẹp đến như thế với một nốt ruồi tô đậm, trên vành môi trên.. Nốt ruồi ấy làm tôi liên tưởng đến Thanh Lan.. (39).
 
Thảo Trường, tên thật Trần Duy Hinh, 1939 với Thử lửa, Người đàn bà mang thai trên kinh Đồng Tháp, Vuốt mắt, Cánh đồng đã mất, Bên đường rầy xe lửa, Người khách lạ trên quê hương. Sau 75 có Tiếng thầm trong bị tre gai (1995) Đá mục (1998).
 
Thảo Trường là một nhà văn quân đội tiêu biểu. Truyện của ông bao giờ cũng đặt ra vấn đề. Đó là loại tiểu thuyết không dễ viết, dễ bị gò bó, dễ bị vấn đề lấn lướt.
 
Vậy mà ông viết rất nhẹ nhàng, rất thông thoát. Chuyện Người đàn bà mang thai trên Kinh Đồng Tháp mà cấu trúc câu chuyện đặt chúng ta vào một tình thế lưỡng nan, phải chọn lựa, một chọn lựa không dễ chọn lựa trong một hoàn cảnh chiến tranh đặt tâm thức con ngưới trước những thử thách, những chọn lựa bất đắc dĩ hầu như một bi kịch.
 
Tôi chỉ có thể nói như vậy.
 
Bối cảnh là chiến tranh, nhưng chính là con người phải đối đầu với những bi kịch qua thân phận người phụ nữ ở giữa hai lằn đạn. Vào những năm cuối đời, 2007 thì phải, ông có gửi bản thảo truyện ngắn của ông và nhờ tôi đọc giùm xem, ông viết có còn được hay không, nếu không được ông sẽ ngừng viết.
 
Một công việc mà bình thường một nhà văn có tiếng như ông không bao giờ làm. Tôi đọc thì thấy quả thấy có cái gì đó không ổn. Nhưng tôi đã trả lời là: xin anh cứ tiếp tục. Cũng sau đó, ông bắt đầu lo tái bản những truyện của ông viết trước 1975, nhờ vậy, hầu hết các truyện của ông hiện nay đều được in lại.(40)
 
Có những tác giả tạo được một thế giá, truyện có bản sắc cá biệt nhưng lại ít được độc giả biết tới như Nam Dao với một cuốn Gió Lửa. Cuốn sách với kỹ thuật cao, hư cấu tuyệt. Tuy nhiên không phải là một cuốn dễ đọc cho bất cứ ai. Với Nam Dao và Ngô Thế Vinh, cả hai tác giả, sách không hẳn là dễ đọc, dễ lôi cuốn.
 
Hãy nhìn lại thế hệ các nhà văn miền Nam sau 54, họ đều là những người cầm bút rất trẻ và rất sớm như Mai Thảo, Nguyên Sa, Quách Thoại, Tô Thùy Yên, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sĩ. Tô Thùy Yên làm thơ lúc 17 tuổi, Nguyên Sa làm thơ tình lúc 22 tuổi. Chưa người nào vượt quá tuổi 30. Đã thế, họ còn là những nhà văn có máu chuyên nghiệp. Họ cũng giống như lớp nhà văn tiền chiến Vũ Trọng Phụng, Trần Tiêu, Nam Cao và những nhà thơ như Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu hay những nhà văn trong TLVĐ như Nhất Linh, Thạch Lam, Khái Hưng.. Họ bắt đầu sự nghiệp văn chương với nhiệt huyết, với tâm hồn của một người trẻ tuổi. Một hành trình sáng tạo, ấp ủ một giấc mộng văn chương như một văn nghiệp theo họ suốt hành trình nhân thế.
Họ là nhà văn theo nghĩa thân phận hơn là một nghiệp dư.
 
Vậy mà trước những biến cố chính trị sau 1975, họ như bị những lớp sóng thời cuộc xô đẩy đến cầm bút không còn được như trước nữa.
 
Những nhà văn lớp tuổi từ 45-60
 
Liệu những lớp nhà văn trẻ này, đều chưa cầm bút trước 1975 có thể thay thế được lớp nhà văn đàn anh không..

Nhưng thay thế như thế nào.
 
Theo tôi, thường họ viết cho họ hơn là nghĩ đến chuyện thay thế ai.
 
Sự phóng túng, sự đa dạng, sự mạnh dạn trong những suy nghĩ và xu hướng bầy tỏ tình dục một cách thẳng thừng thay vì che đậy, sử dụng cái tôi trong truyện cho thấy họ có những cách suy nghĩ và thế giới truyện riêng của họ.
 
Đó là Đặng Thơ Thơ 1962, tên thật là Thơ Thơ với Khi phong linh vỡ. Hoàng Mai Đạt, 1960 với Cánh đồng cho em và Giữa hai miền mưa nắng. Hồ Đình Nghiêm, 1957, với Nguyệt thực, Tờ mộng rách rời và Vầng trăng nội thành.. Lệ Hằng, sinh năm 1948 với 14 tác phẩm trước 75 như Thung lũng tình yêu, Tóc Mây, Bản Tango cuối cùng, Tình yêu như Băng Sơn, Chết cho tình yêu, Kinh tình yêu, Sóc nâu, Màu xanh đang lên, Như sương long lanh. Ở Hải ngoại với Sa tăng dịu dàng, (1992), Nghề làm vua (1992), Bên kia là núi và tập truyện ngắn Nói thầm với đá ( 1998) Hạnh phúc quanh đây, Bình nguyên xanh. Lê Minh Hà, 1962 với Trăng góa, Thanh Văn, Gió biếc Thương thế, ngày xưa. Lê Thị Huệ, 1953 với Bụi Hồng, Lũy tre xanh, Rồng rắn Văn hoá trì trệ nhìn từ Hà Nội, đầu thế kỷ 21. Lê Thị Thấm Vân, 1961 với Xứ Nắng, Mùa Trăng, Am vọng. Nguyễn Thị Ngọc Lan, 1957 với Một chút hạnh phúc nhỏ, (1993) Trăng đất khách. Nguyễn Thị Thảo An với Bức Phù Điêu Khắc Cạn, gồm 12 truyện ngắn. Nguyễn Ý Thuần, 1953 với Tối thứ năm tại quán ăn đường Fifth, Người lính còn lại, Chốn không quên. Phan Thị Trọng Tuyến, 1951 với Mùa hè, Một nơi khác, Một trang đời. Trần Diệu Hằng, 1952 với Vũ điệu của loài công (1985), Mưa đất lạ (1986), Chôm chôm yêu dấu (1990) Niềm im lặng của mây. Trần Vũ, 1962 với Ngôi Nhà sau lưng Văn Miếu, Cái chết sau quá khứ, Mùa mưa gai sắc.
 
Bên cạnh đó, có một số đông các nhà văn chuyên viết truyện ngắn như Phùng Khánh Minh, Phạm Thị Ngọc, Nguyễn Nguyên Phước, Phạm Thị Minh Thư, Thúy Hằng, Lê Quỳnh Mai, Nguyễn Danh Bằng, Nguyễn Viện, Thuận, Mai Ninh, Đỗ Lễ Anh Đào, Nguyễn Hương, Kiệt Tấn.
 
Nhận xét chung về những nhà văn lớp tuổi này là họ không còn viết như trước nữa.
 
Gần như mỗi nhà văn, mỗi cách thể hiện, độc đáo và khác người: Đó là cách nói và nhận xét đầy đủ nhất.
 
Chẳng hạn như trong Tôi, Anna và Thu của Nguyễn Danh Bằng, người đọc nhận thấy có điều gì đặc biệt trong câu chuyện, trong nhân vật, nội dung truyện mà chưa bao giờ tôi có cảm nghiệm được. Cũng như thế trong truyện Hai công dụng mới của máy sấy tóc của Phan Nhiên Hạo, câu chuyện xây dựng trên những tình tiết làm người đọc ngạc nhiên và ngỡ ngàng. Thời hậu chiến của Nguyễn Hương càng đưa ta lạc lõng vào những hình thức, thể loại, dựng truyện, dựng nhân vật đến không dễ nắm bắt được.
 
Nhà văn Nam Dao đã giới thiệu Thời hậu chiến: “Đây là một truyện ngắn kỳ lạ qua cấu trúc thời gian và không gian, đi từ lịch sử này đến một lịch sử khác, từ một văn hoá này đến một văn hoá khác, nhưng rồi tụ lại ở thân phận người, một con người bất cứ ở đâu cũng cứ treo lửng lơ nối giữa trời và đất bằng một sợi dây đong đưa định mệnh”.
 
Ta cũng bắt gặp những suy nghĩ khác đời thường như trong Nơi trú ẩn an toàn của Nguyễn Hữu Hồng Minh.
 
Nhiều lúc đọc mà cảm thấy hụt hẫng, sút chân không theo kịp, không nắm bắt được tác giả.
 
Đọc Đêm nghi ngại của Cổ Ngư, chẳng khác gì người đi trong đêm, không tìm được lối ra.
 
Các tình tiết câu truyện xoắn xít vào nhau như những mảnh rời nối kết lại một cách rời rạc không thuận lý.
 
Đọc họ, phải nhân gấp đôi lần não bộ để hiểu tác giả muốn viết gì?
 
Hình như người đọc chưa kịp chuẩn bị đủ để đọc họ, hay ngược lại, tác giả thiếu chuẩn bị để tiếp cận người đọc?
 
Hình như phải có con mắt thời đại để dõi mắt theo kịp thế giới truyện của các nhà văn hiện nay.
 
Có khoảng cách xa lìa giữa mỹ học cũ với những tầng tầng lớp lớp bụi thời gian quá khứ với lịch sử đặc và dầy che phủ kín một lối nhìn thông thoáng thông lộ ra một tia sáng lạ?
 
Tình trạng xa cách giữa lớp người đọc cũ và những nhà văn mới, có giống cảnh quan những con người đứng nhìn vào một hang động và chỉ thấy chiếc bóng mình và thế giới từ bên ngoài chiếu lung linh trên vách tường?
 
Có sự chậm lụt trong tầm nhìn vì sự khép lại, lội bì bõm trong quá khứ đau thương và tủi nhục không rút chân ra được của lớp người di tản trước?
 
Bấy nhiêu câu hỏi để tự tra vấn chính mình vẫn chưa có lời giải đáp.
 
Nay nhìn lại sinh hoạt văn học, trong nước thì xô bồ như chợ vỡ, chợ bán solde, tạp nhạp đủ thứ.
 
Ngoài nước thì vắng hoe như buổi chợ về chiều.
 
Cố mà vực dậy, cố mà vươn lên với những cố gắng của một số tập san, nhà xuất bản. Gió Văn, Văn, Văn Học, Hợp Lưu, Tân Văn nằm trong số đó.
 
Cứ giả dụ không có tập san vừa nêu trên thì số phận sinh hoạt nhà văn Hải ngoại có còn nữa không?
 
Nhưng người ta cũng nhận thấy Hiện tượng Lão Hóa trong số những nhà văn trẻ trên đây.
 
Rất nhiều nhà văn cầm bút muộn hay đã quá tuổi 40. Họ được coi là trẻ trong văn nghiệp, nhưng già tính theo tuổi đời.
 
Nam Dao bắt đầu cầm bút năm 1999, khi tuổi đời sắp bước vào tuổi 60. Miêng, Mai Ninh bắt đầu sự nghiệp viết văn lúc trên 40 tuổi. Nguyễn Thị Thanh Bình nay 46, Lê Thị Thấm Vân 43, Lê Quỳnh Mai 42, Nguyễn Hương 42, Phạm Chi Lan 42, Phạm Thị Ngọc 41, Đinh Linh 41, Cổ Ngư 41, Nguyễn Quý Đức 42, Hoàng Mai Đạt 41, Thận Nhiên 42, Đặng Thơ Thơ tên thì rất trẻ, nhưng nay cũng 42. Thật trẻ họa may còn có Đỗ Lê Anh Đào mới 25 tuổi.
 
Theo nhà văn, nhà giáo Trang Đài Glassey trong bài thuyết trình về Văn Học miền Nam nhan đề: 40 năm văn học miền Nam thất thủ:
 
Thế hệ hậu chiến khước từ thân phận mồ côi. Bà có đặt một câu hỏi cho đám học sinh của bà như sau:
 
– Em sẽ chọn công việc nào?
 
Viết 800 chữ tiếng Anh, nhuận bút $500; hay viết 1.200 chữ tiếng Việt, nhuận bút $50.
 
Tất cả các em đã chọn 800 chữ.
 
– Việc sử dụng tiếng Việt trong sáng tác văn học là một chọn lựa đắt giá.
 
Lớp người đọc bây giờ cũng từ lớp tuổi 49 đến 70.
 
Họ không chia sẻ được với lớp nhà văn viết sau 1975. Chẳng những thế, họ như bị ngợp và không đọc.
 
Điều đó cảnh báo một tương lai không sáng sủa gì cho văn học ngoài nước.
 
Đã thế sự nghiệp văn chương thì nhiều người còn mỏng. Và vẫn là thứ văn chương nghiệp dư…
 
Cứ nhìn những nhà văn trẻ viết văn bằng tiếng ngoại quốc không khỏi làm chúng ta suy nghĩ.
 
Những người như Linda Lê, Monique Trương, Lê Thị Diễm Thúy, Pedro Nguyễn, Valerie Tống Cường…
 
phải chăng, muốn trở thành nhà văn chuyên nghiệp thì chỉ có con đường chọn viết văn bằng ngoại ngữ?
 
Nhưng những nhà văn trẻ vừa và thật trẻ vẫn là niềm hy vọng của sinh hoạt Văn Học Di Dân Việt Nam như những đóm lửa của hy vọng còn chờ đợi.
 
Do dự một giây lát, những người lớp trước như Lê Thị Huệ, Trần Vũ, Mai Ninh, đã là một lẽ… nay trọng trách đó đặt trên vai một số nhà văn có tiềm năng như Đỗ Lễ Anh Đào, Nguyễn Danh Bằng, Nguyễn Nguyên Phước, Nguyễn Hương, Đặng Thơ Thơ và Phùng Khánh Minh?
 
Bao giờ niềm hy vọng cũng vẫn chỉ là hy vọng.?.(41)
 
3.- Tình trạng lão hóa ngay chính nơi độc giả
 
Xin trích dẫn câu trả lời cho một nữ độc giả trên tờ Hợp Lưu cách đây mười năm:
 
*Sách báo hiện nay vẫn đang trong giai đoạn thoi thóp. Người đọc cạn dần, mãi lực yếu. Điều này nguy hiểm nhất: độc giả càng ngày càng già đi, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, lớp thay thế hầu như không có..
 
Điều này cũng xảy ra cả với người viết. Vì vậy, Văn chương Việt Nam ngoài nước hầu như không thể *trẻ* được.
 
Một tác phẩm nào ra ra ngoài cái khuôn mòn đã được định trong vài ba thập niên qua, là lập tức bị phản bác, chê bai, chửi mắng.
 
Vì thế, chúng ta chẳng hy vọng gì có được *một bứt phá ngoạn mục*, như trên dưới 40 năm trước, cuả Sáng Tạo với văn chương tiền chiến…*
 
Độc giả cũng là những người lưu vong, bỏ nước ra đi.. Cũng mang tâm trạng và hội chứng sau 75..
 
Câu truyện văn chương bị chính trị hóa biến người đọc thành những quan tòa, thành một thứ tòa án nhân dân. Người đọc có những đòi hỏi thúc bách người viết phải viết thế này, phải viết thế kia nhân danh một quan điểm, một lập trường.
 
Lập trường đó trở thành ý kiến của quần chúng, của đa số như thể một cao trào quần chúng. Điều đó phản ánh tâm tình của đa số độc giả. Nó đúng chứ không phải là sai.
 
Nhưng từ những yêu sách, những mong muốn biến thành bạo lực áp đặt, khống chế, vu khống chụp mũ, mạ lỵ, triệt hạ uy tín một cá nhân là chuyện nay thành cơm bữa.
 
Thật đáng tiếc. Văn học bị vạ lây và đốt cháy.
 
Viết từ nay phải dòm trước, dòm sau, tránh né trước một bóng ma, một thế lực vô hình. Chỉ cần một cá nhân lên tiếng, nhân danh tập thể, cộng đồng thì tiếng nói của vị ấy trở thành có trọng lượng, một thứ công lý một chiều.
 
Hai chữ cộng sản nay trở thành bóng ma hay lá bùa hộ mệnh cho những thành phần quá cực đoan.
 
Nó thật nguy hiểm chẳng khác gì hai chữ Chó dại trong sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư.
 
Chưa bao giờ độc giả lại có cái thế phán quan, vai trò xét sử đến như thế.
 
Đã có lần, một nhà văn tôi quen biết kể lại đem một cuốn truyện có nội dung rất tốt, chống Cộng là đằng khác, đem bày bán trong một buổi họp Cộng Đồng. Chỉ cần một viên cựu Đại Úy lên cầm Micro tố cáo nhà văn về chuyện mượn tiền in cuốn sách của đám di dân Hải Phòng (di dân Hải Phòng không phải người quốc gia). Cuốn sách đột nhiên phải cuốn gói, rút lui.
 
Văn chương trở thành một thứ tuyên truyền lúc nào không hay, nhàm chán và lão hoá.
 
Đến một lúc nào đó thì chả ai muốn đọc những cliché đó nữa.. Và càng ngày số người đọc một giảm đi theo năm tháng.
 
Số người trẻ lớn lên, càng chiếm đa số, nhưng lại thờ ơ với sách vở viết bằng tiếng Việt..
 
Cuối cùng văn học chỉ là sản phẩm dư thừa, ế ẩm và thiếu chất lượng.
 
Nhà văn Hoàng Khởi Phong đã để ra 10 năm không viết, không đụng đến chữa nghĩa, chỉ vì thấy sách báo tác phẩm văn học được xếp lẫn lộn với tiêu muối hành.
Sự ra đời của báo chợ đã đáp ứng nhu cầu, thị hiếu của người đọc.
 
Từ chỗ đó, bất cứ ai cũng có thể viết, cũng có thể trở thành nhà văn. Tác giả ngày một hiếm, độc giả ngày một cạn là cớ cho một thứ văn chương bèo bọt, bát nháo, mạnh ai nấy viết.
 
Và trong tương lai, phải chăng chỉ còn có một nền văn học báo chợ ở Hải ngoại?
 
Để tìm hiểu người đọc ngày hôm nay, tôi thử làm một thăm dò một số độc giả để xem họ nghĩ gì, thái độ ra sao đối với các nhà văn đang chiếm lĩnh văn đàn hay đang lên hiện nay..
 
Sự chọn lựa 19 độc giả chỉ có tính cách tượng trưng, hướng dẫn, không có nghĩa đại diện.
 
Trong số 19 độc giả, có 7 cặp và có 5 người ở tình trạng độc thân, một phụ nữ chủ báo có chồng, nhưng chồng không tham dự. Tuổi từ 49 đến 70. Có hai người trình độ Tú Tài, còn lại 17 người đã tốt nghiệp Đại Học.
 
Trong số tốt nghiệp Đại Học, có 10 người tốt nghiệp Đại Học Âu Mỹ.
 
Có chín người từ lớp tuổi 49 đến 55 có đọc truyện tiếng Việt.
 
Với 19 độc giả vừa nêu trên, chúng ta có thể đưa ra một vài kết luận như sau: Lớp độc giả từ 60 trở lên ít đọc và ít theo đõi sinh hoạt văn học, nếu không nói có nhiệu vị có bằng cấp, học vị, từ khi ra nước ngoài chưa hề cầm đọc một cuốn sách tiếng Việt. Nhất là đọc các nhà văn lớp mới (từ 55 tuổi trở xuống).
 
Sự đánh giá tốt xấu tùy thuộc vào phái tính, nam hay nữ và hoàn cảnh gia đình.
 
Đối với một số cây viết trẻ, họ không có con đường nào khác là chọn viết truyện bằng tíếng Anh, tiếng Pháp thay vì tiếng mẹ đẻ.
 
Và chẳng bao lâu nữa, sẽ có một nền văn học của người gốc Việt viết bằng tiếng ngoại quốc?
 
Hiện nay, xin được liệt kê tên tuổi của lớp nhà văn trẻ này mà trong số họ, có những người đã thành danh, có tên tuổi, có thế giá đối với ngay xứ sở tạm dung của họ.
 
Linda Le ở Pháp là một trong 3 nhà văn nữ nổi tiếng hàng đầu của Pháp hiện nay. Cô đã có hơn 10 đầu sách xuất bản tại Pháp. Cạnh đó có Kim Đoan, Kim Lefèvre, Jean-Michel Truong. Những nhà văn trẻ gốc Việt viết bằng tiếng Mỹ thì đông đảo hơn với Monique Truong, Kien Nguyen.
 
Đặc biệt hai nhà văn này, sách có thời gian là Best seller ở nước Mỹ. Mong Lan, Duong van Mai Elliott, Dao Strom, Andrew Lam, Cathy Yardley, Lan Cao, Le thi Diem Thuy, Tran thi Nga, Le Ly Hayslip, Nguyen quy Duc, Dinh Linh, Lee Minh McGuire. Aimée Phan Andrew Wells-Dang, Anna Moi, Barbara Tran, Pham Andrew X, Surai Michele M, Nathalie Huynh Chau Nguyen, Ly Ho, Thuong Vuong-Rick.
 
Cứ nhìn vào sự việc trước mặt, phải chẳng trong tương lai chỉ còn hai hình thức sinh hoạt sách báo ở nước ngoài:
 
Hoặc viết báo chợ để đọc quảng cáo và đăng phúng điếu, hiếu hỉ cho người Việt đọc.
 
Hoặc nhà văn gốc Việt viết bằng tiếng Anh Pháp cho người ngoại quốc đọc?
 
 
Nguyễn Văn Lục
 
(32) Mai Kim Ngoc, Van Học, số 113, tháng chín 1995, trang 14
(33) Trích Nguyễn Nam Anh bài: Đi xa với nhà văn nữ Kim Lefevre, trong Văn Học, số 104, tháng 12, 1994, trang 10
(34) 1983#402 12-13.
(35) Trích: 40 năm Văn học chiến tranh (1957-1979. Nguyễn Vy Khanh, trang 96-98. Nxb Đại Nam. 1977
(36) Trần Hoài Thư, Thơ miền Nam trong thời chiến, Tủ sách di sản văn chương miền Nam, dày 846 trang.
(37) Một số tên các tác phẩm của các nhà văn được trích dẫn ở những phần sau đây đã được trích dẫn từ nguồn tài liệu của nhà thơ Luân Hoán dưới nhan đề: The list of Vietnamese Poets and writers abroad trên một website về các tác giả Việt Nam. Luân Hoán!s websitew, in the Vietnamese authors section. Tác giả Việt Nam.
(38) Trích lại trong Văn học VN thế kỷ 20. Nguyễn Vy Khanh, trang 346, 34. Đại Nam, 2004
(39) Uyên Thao, các nhà văn nữ Việt Nam 1900-1970, trang 319
(40) Sách truyện của Thảo Trường có bán tại báo Saigon Nhỏ
Xin đọc thêm bài viết tác giả: Nhận định về các nhà Văn Việt đầu thế kỷ 21

Nguồn: https://tiengquehuong.wordpress.com

Tìm các bài BIÊN KHẢO khác theo vần ABC . . .

Tống Phước Hiệp

Địa chỉ E-Mail để liên lạc với chúng tôi: trangnhatongphuochiep.com@gmail.com