
-
Bài viết này được phát triển trên cơ sở bài “ Lược đàm về dịch bệnh ở nước ta trong thế kỷ 19 ” đã đăng trên Tuổi Trẻ Cuối Tuần, 1-3-2020.
-
Đại Việt sử ký toàn thư/ĐVSKTT (khởi thủy đến 1656) và Đại Việt sử ký tục biên/ĐVSKTB (1676 đến 1789) chỉ chép 6 lần xảy ra dịch bệnh. Khâm định Việt sử thông giám cương mục/KĐVSTGCM (khởi thủy đến 1789) chép 10 lần, KĐVSTGCM do sử quan nhà Nguyễn biên soạn, vốn căn cứ trên các bộ sử có trước (như Toàn thư và Tục biên), nhưng thấy chép 4 trận dịch vào các năm 1715, 1736, 1762, 1765, trong khi Sử ký tục biên không thấy chép.
-
ĐVSKTB chép số quân chết do dịch bệnh đợt 1 khoảng 600 lính, đợt 2 khoảng 300 lính [bản dịch, in 2011, tr.396, 398, 400]; KĐVSTGCM chép “Ngũ Phúc đóng quân ở Châu Ổ lâu ngày, lúc ấy phát sinh bệnh dịch, quân sĩ nhiều người chết, bèn bí mật trù tính rút quân về”; Đại Nam thực lục Tiền biên chép: “Gặp có dịch bệnh, quân Trịnh chết già nửa. Vì vậy Phúc bí mật định kế hồi binh”. Những mẩu tin nói trên cho nhiều nghi vấn: 1/Có phải sử quan bên Trịnh giấu bớt số lính chết do dịch và có phải Hoàng Ngũ Phúc do nhiễm dịch bệnh mà chết. 2/ Có phải Đại Nam thực lục Tiền biên phóng đại số quân Trịnh chết dịch (quân số bên Trịnh 3 vạn, nếu chết già nửa thì trong khoảng gần 2 vạn); 3/ KĐVSTGCM và Đại Nam thực lục Tiền biên đều do sử quan nhà Nguyễn soạn, mà cách đề cập số quân Trịnh chết dịch sao lại không nhất quán.
-
Đại Nam thực lục, gồm Tiền biên (chép về các đời Chúa), Chính biên (Nguyễn Ánh kế ngôi Chúa 1778 - đến 1925, gồm 7 kỷ). Trong bài chỉ khảo sát giới hạn trong thế kỷ 19, nhưng các ghi chép thuộc thế kỷ 18 và thế kỷ 20 (đến năm 1925) sẽ được trích lục trong “Bảng thống kê” để độc giả tiện tham khảo.
-
Trương Đại Khánh, Trung Quốc cận đại tật bệnh xã hội sử, NXB Giáo dục Sơn Đông, 2006. [張大庆,中国近代疾病社会史 (1912-1937),山东教育出版社,济南, 2006]
-
Người cháu gọi Nguyễn Du bằng chú là danh sĩ Nguyễn Hành (阮行) trong bài “Văn thúc phụ Lễ bộ tham tri công phó âm cảm tác” (Cảm tác khi nghe báo tang chú là Lễ bộ Tham tri) có câu: “Ngô gia hậu phúc công xảo hoàn, Dịch lệ hà năng tốc công tử” (Nhà ta phúc dày ông được vẹn, dịch lệ sao vội làm chết ông) [聞叔父禮部参知公訃音感作 : “…吾家厚福公巧完, 疫癘何能速公死…”].
-
Thanh sử cảo, quyển 40, Chí 15, Tai dị. [清史稿·志, 灾异“道光元年,辛巳年,三月,任邱大疫;六月,冠县、武城、范县大疫,巨野疫,登州府属大疫,死者无算;七月,东光、元氏、新乐、通州、济南大疫,死者 无算,东阿、武定、滕县、济宁州大疫;八月,乐亭大疫,青县时疫大作,至八月始止,死者不可胜计;清苑、定州瘟疫流行,病毙无数;滦州、元氏、内邱、唐 山、蠡县、望都大疫,临榆疫,南官、曲阳、武强、平乡大疫;九月,日照、沂水大疫] (Bản in Trung Hoa thư cục (48 cuốn), cuốn 6, tr.1530).
-
Đại Nam liệt truyện Chính biên sơ tập chỉ nói Mỹ Thùy bị bệnh chết, không nói rõ bệnh chứng như trong Thực lục. Liệt truyện chép: “(Minh Mạng) Năm thứ 7, Mỹ Thùy bị quân lính ở Dực Chấn kiện, sắp giao xuống cho đình thần nghị tội thì Mỹ Thùy bị bệnh chết, không có con…” (Quyển 2, Truyện các Hoàng tử, bản dịch, Thuận Hóa 2005, Tập 2, tr.53).
-
Hải Thượng Y tông tâm lĩnh, bản dịch viết “Hoắc loạn (thiên thời, dịch tả)”, và “Tiết tả (ỉa chảy)”.
-
Đại Nam liệt truyện Chính biên sơ tập, quyển 2, (bản dịch, Thuận Hóa 2005, Tập 2, tr.57).
-
Uông Cơ (Thạch Sơn Cư Sĩ, 1463-1539), Đậu chứng lý biện, Lời tựa [痘症理辨 汪機, 明嘉靖九年 (1530),庚寅年,痘灾盛行,死者过半。(《痘症理辨·序》)]
-
Thanh sử cảo, quyển 40, Chí 15, Tai dị [清史稿·志, 灾异 “康熙二十年 (1681),辛酉年,晋宁疫,人牛多毙;曲阳大疫”] (Bản in Trung Hoa thư cục (48 cuốn), cuốn 6, tr.1527).
-
Viên Mai (1716-1797), nổi tiếng với tác phẩm Tùy Viên thi thoại, đã được dịch sang Việt văn.
-
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%ADu_m%C3%B9a (truy cập lúc 4:25 PM, 3/5/2020)
-
Bành Trạch Ích, “Tây Dương chủng đậu pháp sơ truyền Trung Quốc khảo”, tạp chí Khoa Học, số 32, 7/1950 [彭泽益,西洋种痘法初传中国考](dẫn lại của Trương Đại Khánh, đd)
-
Trần Kiếm Quang, trả lời phỏng vấn trên Văn Hối báo (18-2-2020) [陈剑光答文汇报]. Trần Kiếm Quang, Giáo sư Đại học Sư phạm Thượng Hải, chuyên gia về lịch sử dịch bệnh, tác giả Ba ngàn năm dịch bệnh [三千年疫情/Tam thiên niên dịch tình, 1999] và Lược sử chống dịch bệnh ở Trung Quốc [中国抗疫简史/Trung Quốc kháng dịch giản sử, 2020]
-
Đại Nam thực lục Chính biên Đệ lục kỷ phụ biên (Nxb Văn hóa-Văn nghệ, 2011) và Đại Nam thực lục Chính biên Đệ thất kỷ (Nxb Văn hóa-Văn nghệ, 2012), Cao Tự Thanh dịch.
-
Những đoạn trích Đại Nam thực lục trong bài viết này và trong bảng “Biên niên dịch bệnh trích lục” đều căn cứ theo bản dịch Viện Sử học (bộ 10 tập, NXB Giáo dục, 2007), chỉ sửa một vài chữ cho dễ hiểu hơn. Một số chi tiết liên quan đến tên dịch bệnh hoặc số liệu đã đối chiếu văn bản gốc chữ Hán.





|
ĐẠI NAM THỰC LỤC |
Chú thích |
Th.11- Quý hợi
(1683)
|
Nam Hà có dịch lớn. “Bệnh dịch phát, quân và dân chết rất nhiều. Chúa sai cầu đảo các đền thần mới yên.” (c.1, tr.93)
|
|
Th.7- Ất mùi [Chúa Nguyễn] Duệ Tông năm 10
(1775)
|
Dịch lớn ở Nam Hà, quân Trịnh chết quá nửa. “Gặp có dịch bệnh, quân Trịnh chết già nửa. Vì vậy [Hoàng Ngũ] Phúc bí mật định kế hồi binh.” “Tháng 10, Hoàng Ngũ Phúc dẫn quân về Phú Xuân. Sau bị bệnh, trở về [bắc] chết giữa đường…” (c.1, tr.185)
|
Đại Việt sử ký tục biên (SKTB ) chép: chết đợt 1 khoảng 600 lính, đợt 2 chết 300 lính. [bản in 2011, tr.396, 398, 400] Có thể sử quan bên Trịnh giấu bớt số lính chết do dịch. Hoàng Ngũ Phúc cũng có thể do nhiễm dịch bệnh mà chết. Quân số bên Trịnh khoảng 3 vạn. |
Th.2 -Tân dậu. Nguyễn Ánh giám quốc năm thứ 22
(1801)
|
Đông cung Cảnh chết vì bệnh đậu mùa tại Gia Định. “Ngày Quý sửu, Đông cung Nguyên súy quận công Cảnh mất. Trước kia Đông cung từ Tây dương về, từng theo đánh giặc, đến nay lưu trấn Gia Định, bị bệnh đậu mùa mất, 22 tuổi.” (c.1, tr.433) |
TL không nói có dịch đậu mùa trong dân, nhưng chép rõ bệnh chứng khiến Đông cung Cảnh chết. Nghi năm này có dịch đậu mùa ở Gia Định. Ng.v viết “疹痘” Phụ lục 1 |
Th.7- Giáp tý Gia Long thứ 3
(1804) |
Bình Định có dịch. “Bình Định có bệnh dịch, sai quan coi dinh bãi công tác không cần gấp.” (c.1, tr.612)
|
|
Th.2- Giáp tuất Gia Long 13
(1814) |
Dinh Quảng Đức (Thừa Thiên) có dịch. “Quảng Đức có dịch. Sai quan coi dinh lập sở dưỡng tế ở xã Thế Lại cho người bịnh ở, cấp cho tiền gạo thuốc thang. Người chết thì cho tiền và vải để chôn (tiền 1 quan, vải 10 thước)” (c.1, tr.878)
|
Biện pháp cách ly, điều trị tập trung |
Th. 3 (1814) |
Thanh, Nghệ ra Bắc có dịch lớn “Từ Thanh Nghệ trở ra bắc có dịch lớn. Sai quan các trấn lập đàn tế nhương” (c.1, tr.879) |
Tế Nhương (禳祭): Cầu cúng trừ tai. |
11- Ất hợi (1815)
|
“Nghệ An có dịch.” (c.1, tr.910)
|
|
Canh thìn. Minh Mạng năm đầu
(1820)
|
Dịch phát ở Hà Tiên rồi lan khắp nước, hơn 207.000 người chết, nhà nước phát chẩn 73 vạn quan. “Tháng 6, Hà Tiên, Vĩnh Thanh, Định Tường dịch bệnh phát to. Dụ cho sở tại làm lễ cầu đảo, Người bị bệnh không kể quan, quân hay dân đều cho thuốc men. Người chết, quân lính thì cấp tiền tuất và cấp thêm 1 tấm vải; dân thì mỗi người cấp 3 quan tiền. Người nào hài cốt bộc lộ thì nhà nước liệm táng. Lại cho quan triều tuyên dụ cho quan địa phương phải thân đi cấp tiền tuất, hỏi thăm dịch khí nhẹ hay dữ, số quân dân bị bịnh chết, cứ ngày 1 lần tâu.” (c.2, tr.70) “Tháng 7, từ Bình Thuận trở ra Quảng Bình báo tin có bệnh dịch. Vua lấy bạch đậu khấu trong kho và phương thuốc chữa dịch sai người ban cấp. …Vua bảo bầy tôi rằng: Theo sách vở chép thì bệnh dịch chẳng qua chỉ một châu một huyện, chưa có bao giờ theo mặt đất lan khắp như ngày nay…, Phạm Đăng Hưng tâu: thần nghe dịch bệnh từ Tây dương sang… Vua lấy thuốc viên mới chế chia cho bầy tôi”. (c.2, tr.75) “Dụ cho ở Kinh và các thành dinh hoãn việc bắt lính…” (c.2, tr.82) “Tháng 9, Vua bảo với các quan: năm nay dịch lệ phát ra từ Hà Tiên, lan tới Bắc Hà, trước kia chưa có thế…” (c.2, tr.91) “Vua nghe rằng những lại dịch từ Quảng Trị trở ra ngoài phần nhiều bớt xén tiền tuất…” (c.2, tr.92) “Tháng 12, Bộ Binh dâng sớ tâu: Khoảng mùa hạ mùa thu khí trời không được điều hòa, Hoàng thượng ta xét thấu tình dân, hoãn việc bắt lính thiếu. Nay lệ khí đã yên, xin lệ đòi điền cho đủ ngạch binh Vua dụ rằng: Dân đau ốm mới khỏi, người đi lánh nạn chưa trở về hết, nếu vội vã bắt lính, há chẳng nhiễu dân sao. Không cho” (c.2, tr.103) “Tháng 12, quan ở thành tâu lên nạn dịch ở Bắc Thành đã lui. Năm nay bệnh dịch phát từ mùa thu sang mùa đông, bắt đầu ở Hà Tiên, sau rốt đến Bắc Thành. Số hộ khẩu chết tất cả là 206. 835 người, không kể số nam phụ lão ấu ngoài hộ tịch. Trước sau chẩn cấp tổng kê hơn 73 vạn quan tiền.” (c.2, tr.108) |
Đại dịch (lần 1). Tình trạng toàn quốc. Diễn biến: tr. 70, 75, 76, 82, 91, 92, 103, 108. Dân số lúc này khoảng 7 triệu. Sau Việt Nam, Trung Quốc phải hứng chịu trận dịch này suốt năm 1821, phần “Chí”, mục “Tai dị” trong Thanh sử cảo ghi nhận dịch phát vào tháng 3 tại huyện Nhâm Khâu (Hà Băắc), sau đó bùng phát ở khoảng 30 địa phương của nhiều tỉnh, tuy không ghi con số thống kê tử vong cụ thể nhưng mô tả các nơi đều là đại dịch, người chết vô số, không đếm xuể. Trên bình diện quốc tế, theo giới nghiên cứu lịch sử bệnh truyền nhiễm Trung Quốc thì nguồn cơn trận dịch tả này khởi phát ở Ấn Độ vào năm 1817, sau đó theo các thuyền buôn lan về phía đông đến khắp Đông Nam Á rồi Trung Quốc, lan về phía tây đến các xứ ven Địa Trung Hải. Đương thời, Phạm Đăng Hưng nói: dịch bệnh từ Tây dương sang, tức cũng nắm được dịch bệnh do truyền nhiễm từ nước ngoài. |
Th.3- Nhâm ngọ Minh Mạng 3
(1822)
|
“Cai bạ Bình Thuận Nguyễn Văn Khiêm, trước đây làm bản sách tâu về việc cấp tuất cho người chết dịch, số người và số tiền không phù hợp, giao xuống cho bộ Hình nghị xử, phải cách chức” (c.2, tr.204) |
Sau dịch 1820, thanh tra xử lý cán bộ phạm pháp. Cách chức. |
Th.7- Bính tuất. Minh Mạng 7
(1826)
|
Dịch lớn ở Gia Định (Nam Bộ), chết 18.000 người. “Ở Gia Định có bệnh dịch lớn, quân dân chết hơn 18.000 người. Từ Bình Thuận đến Quảng Bình cũng có báo nạn dịch. Vua hạ lệnh cho các xứ ấy đều đặt đàn trừ tai…Lại sai thái y các trại quân điều trị những lính bị bệnh. Lính có trốn hay chết đều hoãn đòi bắt. Khi dịch bệnh rút lui, sai bộ Hộ xét những y sinh nào trị giỏi thì khen thưởng. Lại miễn thuế thân năm nay cho dân bị dịch ở Gia Định” (c.2, tr.518) “Thái Bình công Mỹ Thùy mất, công là con Anh Duệ hoàng thái tử (Cảnh) Khi vua mới được tin công mắc chứng hoắc loạn cấp tính, tức thì sai đại thần đem ngự y tới thăm. Đến nơi thì công đã chết rồi” (c.2, tr.520) |
Đây là trận dịch tả, đoạn trước không nói tên bệnh dịch, nhưng đoạn sau nói rõ bệnh chứng “hoắc loạn cấp tính” của Thái Bình công Mỹ Thùy. Trung y dùng chữ hoắc loạn (霍乱) để chỉ bệnh thổ tả và dịch tả, đây cũng là bệnh dịch xảy ra nhiều nhất trong lịch sử. Trương Đại Khánh (sđd) thống kê trong 50 năm (1840-1910), có 3 loại dịch bệnh xảy ra nhiều nhất là: dịch tả (霍乱/hoắc loạn) 45 lần, dịch hạnch (鼠疫/thử dịch) 34 lần, đậu mùa (天花/thiên hoa) 11 lần. Ng.v viết: “霍乱急症” Phụ lục 2 |
Th.6- Đinh hợi Minh Mạng 8 (1827) |
Thừa Thiên có dịch. “Người dân trong ngoài kinh thành có người mắc bệnh dịch. Phủ doãn Ngô Phước Hội đem việc tâu lên” (c.2, tr.639) |
Nghi là dịch tả. |
Th.7
(1827) |
Trại lính ở Nghệ An có dịch. “Binh sĩ ở Nghệ An ngày càng nhiều người bệnh. Phát 20 cân bạch đậu khấu trong kho nội, sai thị vệ đem cấp.” (c.2, tr.642) |
Dịch tả trong doanh trại quân đội. |
Th.4- Kỷ sửu Minh Mạng 10
(1829) |
Quảng Oai công bị bệnh đậu, chết. “Quảng Oai công là Quân chết, Công bị đậu, sinh chứng hiểm. Vua sai ngự y ngày đêm điều trị, không khỏi mà chết.” (c.2, tr.851) |
Quảng Uy công chết do bệnh đậu, nhưng năm này không thấy chép có dịch bệnh trong dân. Phụ lục 3 |
Th.3- Canh dần Minh Mạng 11 (1830) |
“Quảng Ngãi có dịch” (c.3, tr.31) |
|
Th.6- Tân mão Minh Mạng 12 (1831)
|
Dịch ở Bình Hòa (nay là Khánh Hòa) (c.3, tr.192) |
|
Th.3- Quý Tỵ Minh Mạng 14 (1833) |
Dịch ở Hải Dương. (c.3, tr.501) |
|
Th.12- Quý Tỵ Minh Mạng 14
(1834) |
“Tỉnh Phú Yên có bệnh dịch, nhân dân bị truyền nhiễm, chết hơn 5.000 người. Quan tỉnh tâu lên, vua bảo lập đàn cầu an và chuẩn bị nhiều thuốc thang điều trị. Người nào chết thì cấp cho tiền tuất (đinh nội tịch, mỗi người 3 quan tiền, còn thì đều 2 quan, trẻ con đều 1 quan)” (c.3, tr.914) |
|
Th.6- Giáp ngọ Minh Mạng 15
(1834)
|
Dịch ở Hà Tiên. “Tỉnh Hà Tiên có dịch bệnh. Quân và dân nhiều người bị nhiễm. Sai quan tỉnh cho thầy thuốc đến điều trị. Những biền binh ra trú phòng, có ai chết, thì những người do Kinh phái đi và những người ở Bình Thuận trở ra Bắc đều cho tiền tuất gấp đôi; người 6 tỉnh Nam Kỳ, mỗi người cấp 3 quan tiền.” (c.4, tr.218) |
|
Th.12- Giáp ngọ
(1835) |
“Tỉnh Bình Thuận phát bệnh dịch, lính và dân nhiễm bệnh chết hơn 590 người. Vua sai quan tỉnh xuất của kho, cấp tiền tuất (nội tịch mỗi người 3 quan, ngoài ra mỗi người 2 quan, trẻ con 1 quan).” (c.4, tr.469) |
|
Th.10- Ất mùi Minh Mạng 16 (1835)
|
“Tỉnh Hưng Yên có bệnh dịch. Dân trong hạt bị truyền nhiễm chết đến hơn 700 người. Lệnh cho quan tỉnh lấy của kho cấp cho tiền tuất” (c.4, tr.785) |
|
Th.6- Bính thân Minh Mạng 17 (1836)
|
“Tỉnh Khánh Hòa có bệnh dịch. Sai quan tỉnh lập đàn tế cầu an.” (c.4, tr.966) |
|
Th.2- Kỷ hợi Minh Mạng 20
(1839)
|
“Các tỉnh Bắc Kỳ (Hà Nội, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Yên) bị bệnh dịch nhiều. Vua sai bày đàn cầu đảo, cho thầy thuốc điều trị. Sai lấy của kho cấp cho tiền tuất (nội tịch mỗi người 3 quan, ngoài ra mỗi người 2 quan, trẻ con 1 quan).” (c.5, tr.456) |
Trận dịch này kéo dài từ tháng 2 đến tháng 8, lây lan nhiều tỉnh. Tổng cộng chết gần 46.000 người |
Th.4 - Kỷ hợi
(1839) |
“Các tỉnh Bắc Kỳ lần lượt tâu báo nạn dịch lệ, riêng Hải Dương, Bắc Ninh rất nặng (dân hai tỉnh ấy nhiễm bệnh chết, Hải Dương trên 23.000 người, ở Bắc Ninh hơn 21.500 người)” (c.5, tr.490) |
Hai tỉnh Hải Dương, Bắc Ninh chết hơn 44.500 người. |
Th.8- Kỷ hợi
(1839) |
Năm huyện Nam Xang, Thượng Phúc, Thanh Trì, Thanh Oai, Thanh Liêm thuộc Hà Nội lại phát lệ khí nhân dân nhiễm bệnh chết hơn 1.600 người. Dụ quan tỉnh cứ tuân theo Chỉ trước đây mà cấp tiền tuất. Các quan phủ huyện sở tại, vì chậm báo cáo việc này, đều bị phạt” (c.5, tr.562) |
Năm huyện thuộc tỉnh Hà Nội chết hơn 1.600 người. Các quan địa phương báo cáo chậm trễ, bị kỷ luật “phạt cảnh cáo” |
Th.5- Canh tý Minh Mạng 21
(1840) |
Nam Định, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Nghệ An chết hơn ngàn người. “Thự Công khoa Chưởng ấn là Đặng Quốc Lang trước đây nhân đi công sai từ Nam Định về, dâng sớ nói: Nghe được các huyện Giao Thủy, Nam Chân, Thượng Nguyên, Thiên Bản ở hạt ấy nhân dân chết dịch có đến hàng nghìn người. Và đi đường qua huyện Kỳ Hoa tỉnh Hà Tĩnh, huyện Phong Lộc tỉnh Quảng Bình cũng nghe nói có bệnh dịch. Xin xuống sắc hỏi rõ để cứu chữa. Vua truyền cho lập tức xét hỏi tình hình thực tại, làm sớ tâu ngay. Đến bây giờ ba tỉnh ấy tâu nói: Hiện nay lệ khí đều đã lui bớt. Vua bèn dụ cho chiếu số người chết dịch, xét cấp tiền tuất (Nam Định hơn 200 người, Hà Tĩnh hơn 400 người, Quảng Bình hơn 800 người (dân nội tịch mỗi người 3 quan, ngoài ra mỗi người 2 quan, trẻ con 1 quan). Quan tỉnh vì báo chậm đều bị sức quở, Dân Nghệ An cũng có bị dịch hại, chết hơn 200 người, cấp tiền tuất như lệ. (c.5, tr.716) |
Quan địa phương giấu dịch, bị kỷ luật “khiển trách” |
Th.6
(1840) |
“ Đến kỳ duyệt tuyển quân, Thanh Hoa tâu nói: hạt ấy từ tháng giêng đến giờ, nhân dân chết dịch hơn 2.000 người, bệnh dịch vẫn chưa thôi dứt, tình hình đương lúc quẫn bách, xin hoãn việc duyệt tuyển. Vua bảo bộ Hộ: Hạt Thanh Hoa từ trước vẫn tâu báo nói gạo rẻ lúa tốt, không nghe nói có dịch bệnh đau khổ gì, nên lệ khóa duyệt tuyển đã cho cử hành. Nay kỳ tuyển đến nơi, mới đem việc tai nạn báo lên. Vả lại, xét trong lời tâu, bệnh dịch phát ra từ mồng một tháng giêng, nếu dân gian có sự ngặt nghèo, sao không tâu trước…. Phái Thự Hộ khoa Cấp sự trung Phan Tĩnh mật đi dò xét, về nói rằng: Hạt ấy khí dịch lệ đã lui 8,9 phần, chỉ vì tỉnh thần quên việc duyệt tuyển, cho nên nói thác ra mà xin hoãn để che lỗi. Vua ghét tội dối trá, bắt Thự đốc Trần Hữu Thăng, Bố chính Nguyễn Nhược Sơn đều cách chức, đưa về Kinh, giao cho bộ Lại nghiêm bàn tội.” (c.5, tr.734) Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương có dịch lệ. (c.5, tr.734-735) |
Thanh Hóa báo cáo láo, nâng số người chết. Quan địa phương bị kỷ luật “cách chức” |
Th.9
(1840) |
Hưng Yên hơn 3.000 người chết dịch. “Quan tỉnh Hưng Yên tâu nói: hạt ấy độ đầu xuân có bệnh dịch lệ hơn một tháng thì thôi. Đến tháng 5 lại phát ra bị truyền nhiễm chết đến hơn 3.000 người, nay mới yên hẳn. Vua dụ theo lệ cấp cho tiền tuất. Còn việc tâu báo chậm trễ, truyền Chỉ sức quở. (c.5, tr.748) |
Dịch phát từ đầu xuân đến cuối thu mới báo cáo. Quan địa phương bị kỷ luật “khiển trách” |
Th.10
(1840)
|
Sơn Tây chết dịch hơn 4.900 người. “Các huyện thuộc hạt Sơn Tây, từ xuân tới thu, bệnh dịch lại phát, dân nhiều người bị truyền nhiễm chết (hơn 4.900 người). Đến bây giờ mới đem việc tâu lên, Vua sai phát tiền tuất, xét từng người cấp cho. Tổng đốc Nguyễn Công Hoan tâu báo chậm trễ, truyền Chỉ sức quở.” (c.5, tr.818) |
Quan địa phương giấu dịch, bị kỷ luật “khiển trách”. Trên tổng thể, thấy dịch hoành hành liên tiếp 2 năm, từ tháng 2 năm 1839 đến cuối năm 1840. Diện rộng, toàn miền Bắc. Nhiều tỉnh giấu dịch. Số liệu cho thấy trận dịch này tổng cộng (2 năm) ước có đến 60.000 người chết. |
Th.2- Tân sửu Thiệu Trị năm đầu
(1841) |
“Phủ Thừa Thiên và các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thanh Hóa có bệnh dịch. Vua sai các quan ở tỉnh hạt ấy lập đàn cầu cúng. Người bị bệnh thì cấp cho thuốc, người chết thì cấp tiền tuất.” Dịch (c.6, tr.88) |
Vùng |
Th.5- Nhâm dần Thiệu Trị thứ 2
(1842) |
Dịch bệnh ở Thừa Thiên, Quảng Trị. “Dân 2 hạt Thừa Thiên, Quảng Trị phần nhiều bị bệnh sởi truyền nhiễm (疹氣). Vua sai các quan ở tỉnh hạt ấy lập đàn cầu cúng và sai thầy thuốc cắt thuốc đem đi khắp nơi để điều trị. Qua một tháng, dịch sởi rút bớt, dân trong hạt được yên…” (c.6, tr.359) |
Tên bệnh viết “疹氣” (chẩn khí) Phụ lục 4 |
Th.2- QúyQuý mão Thiệu Trị thứ 3
(1843) |
Dịch bệnh ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. “Bình Định và Quảng Ngãi có bệnh dịch. Các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Phú Yên và Thừa Thiên cũng lần lượt bị truyền nhiễm. (c.6, tr.462) Hữu tham tri bộ Binh Phan Thanh Giản dâng sớ nói: …Tôi nghe trong khoảng tháng 4 tháng 5 năm ngoái, ở Nam Kỳ đã có dịch lệ mà quan địa phương không đem tâu lên…” (c.6, tr.464) Thừa Thiên và các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi sau đó tâu báo về tin dịch lệ đã lui bớt…” (c.6, tr. 469) |
Thực lục ghi chép khá rõ về cách ứng phó lôi thôi của triều đình. Nam Kỳ giấu dịch năm ngoái (1842) |
Th.4
(1843) |
“Hạt Thừa Thiên lại phát lệ khí. Sai viện Thái y đem thuốc ở kho chia nhau đi chữa bệnh.” (c.6, tr.488) |
Dịch bệnh tái phát |
Th.1- Giáp thìn Thiệu Trị thứ 4
(1844)
|
“Các tỉnh Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Bình, Phú Yên, Khánh Hòa và Biên Hòa từ sang xuân đến giờ, chứng lệ khí lại phát, hạt Thừa Thiên lại càng nhiều hơn. Dụ cho quan Kinh doãn và các tỉnh đều phải lập đàn cầu đảo, phái thầy thuốc đi điều trị. Các hạng biền binh ở Kinh cũng có người bị cảm nhiễm. Chuẩn cho người nào quán thuộc Thừa Thiên, Quảng Trị thì tha cho về; quán ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh thì về kinh thao diễn, lượng cấp cho tiền gạo (người cảm nặng đều được 5 bát gạo trắng và 3 tiền, người cảm nhẹ được 3 bát gạo trắng và 2 tiền)…” (c.6, tr.573) |
|
Th.10
(1844) |
“Triển hoãn việc gọi lính, thu thuế cho các xã dân bị chết dịch. Trước đây, các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hòa, Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, Hà Tiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An và Hà Tĩnh, bệnh dịch phát ra, những người chết đã được cấp tiền tuất và miễn thuế. Lại dụ sai các địa phương phải xét nghiệm các xã thôn có chứng lệ khí, nơi nào bị hại nặng chia ra từng hạng, làm thành danh sách. Các tỉnh lần lượt làm tập tâu lên. Vua giao xuống cho bộ Hộ bàn. Bộ cho rằng các nơi bị tai hại nặng nhẹ khác nhau, xin nghĩ chia ra từng hạng, chước lượng cứu giúp.” (c.6, tr.672) |
|
Th.11
(1844) |
“Hai huyện Mỹ Lộc, Thư Trì thuộc tỉnh Nam Định, huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An lại phát bệnh dịch. Sai lập đàn cầu đảo và tìm thuốc điều trị.” (c.6, tr.676) |
|
Th.2- Ất tỵ Thiệu Trị thứ 5 (1845)
|
Dịch bệnh ở Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An. “Huyện Phong Lộc và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình, huyện Hưng Yên [Nguyên] tỉnh Nghệ An và huyện Minh Linh tỉnh Quảng Trị lại phát bệnh dịch. Vua sai lập đàn tế cầu an và phát thuốc để chữa.” (c.6, tr.710) |
|
Th.3
(1845) |
Dịch bệnh ở Nam Định, Hà Tĩnh. “Tỉnh Nam Định, tỉnh Hà Tĩnh lại phát bệnh dịch (xã Bình Cách huyện Đông Quan tỉnh Nam Định chết 68 người; 5 phủ, huyện Nghi Xuân, Hương Sơn, Cẩm Xuyên, Hà Thanh, Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh chết hơn 550 người), đều sai quan tỉnh phát thuốc điều trị, đặt đàn tế cầu an.” (c.6, tr.723) |
|
Th.2- Bính ngọ Thiệu Trị thứ 6 (1846) |
“Các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Nghệ An có bệnh dịch…” (c.6, tr.838) |
|
Th.1-Đinh mùi Thiệu Trị thứ 7
(1847) |
Dịch bệnh ở Nam Định, Hà Tĩnh, Biên Hòa. Tỉnh Nam Định (hai huyện Chân Định [nay là huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình], Thư Trì nay thuộc huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình]), tỉnh Hà Tĩnh (huyện Thạch Hà) và tỉnh Biên Hòa có bệnh dịch. Đều sai đem thuốc đến điều trị; người chết thì cấp cho tiền tuất.” (c.6, tr.961) |
|
Th.8
(1847) |
Dịch bệnh ở Bắc Ninh. “Khoa đạo Đỗ Danh Thiếp tâu: Nghe nói tỉnh hạt Bắc Ninh từ mùa đông năm ngoái đến mùa hạ năm nay chết dịch đến hơn 300 người mà quan tỉnh không tâu lên. Vua lệnh cho Thự tổng đốc Phạm Duy Trinh phải tâu ngay về. Duy Trinh tâu nói: Ngẫu nhiên có 1, 2 người bị bệnh chết nhưng không phải do bệnh dịch khí truyền nhiễm, nay đã yên rồi.” (c.6, tr.1056) |
|
Th.2-Nhâm thân Tự Đức năm đầu
(1848)
|
Dịch bệnh ở Hà Nội, Bắc Ninh. “Hà Nội, Bắc Ninh bệnh dịch có lúc phát ra, chuẩn cho phát thuốc cứu chữa và cầu cúng cho khỏi, nếu ai chết thì cho tiền tuất.” (c.7, tr.60) |
|
Th.6
(1848) |
Quảng Bình chết hơn 2.100 người vì bệnh đậu mùa. “Dân tỉnh Quảng Bình bị bệnh lên đậu mùa chết nhiều (hơn 2.100 người). Lập đàn cầu cúng và cho nhiều thầy thuốc điều trị. Những dân bị bệnh chết chiếu hạng cấp tiền tuất (hạng tráng mỗi tên cấp 3 quan tiền, con trai và đàn bà cấp 2 quan, trẻ con 1 quan)” (c.7, tr.78) |
Nguyên văn ghi rõ tên dịch “痘” (đậu) Phụ lục 5 |
Th.9
(1848) |
Dịch bệnh ở Hưng Yên. “Tỉnh Hưng Yên bị bệnh dịch lệ, sai thầy thuốc điều trị và lập đàn cầu cúng. Người dân bị bệnh chết chiếu hạng cấp tiền tuất.” (c.7, tr.94) |
|
Th.7- Quý dậu Tự Đức thứ 2
(1849)
|
Dịch bệnh ở Kinh sư và nhiều tỉnh, hoãn thi. “Ở Kinh sư và các địa phương ở Nam Kỳ, Bắc Kỳ có bệnh dịch lệ lớn (dịch lệ từ tháng 3 đến nay càng lớn, dân chết và nhiễm bệnh rất nhiều). Vua sai phát thuốc điều trị và cầu cúng, người chết thì cấp cho tiền tuất. Phủ Thừa Thiên lại cấp quan tài và vải cho người nghèo. Hoãn kỳ thi Hương về văn ở các trường Thừa Thiên, Nghệ An, Hà Nội, Nam Định (vì lệ khí và mưa lụt, 2 trường Nghệ An, Thanh Hóa hoãn đến tháng 2 sang năm; trường Thừa Thiên hoãn đến tháng 3; trường Nam Định, Hà Nội hoãn đến tháng 4. Thi Hội hoãn đến tháng 7; riêng trường Gia Định y lệ thi vào tháng 9 năm nay). Cũng hoãn kỳ thi võ ở Kinh (hoãn đến tháng 3 sang năm, sau kỳ thi Hương về văn).” (c.7, tr.134) |
Dịch phát từ tháng 3, đến tháng 7 nặng hơn.
|
Th.8
(1849) |
“Khoa đạo là Đặng Minh Trân lấy cớ là có lệ khí trái hòa, xin xét lại án về mùa thu năm nay, đình hoãn 1 lần. Vua nói: Kỳ xét án mùa thu năm nay, ngoài những tù tội nặng chuẩn cho đình hoãn thì không kể, còn kẻ nào tình đáng thương, đáng ngờ và tội trạng tầm thường thì ty Tam pháp tức thì trích bàn làm bản tâu lên, lượng cho khoan giảm. Lệ khí hơi lui.” (c.7, tr.138) |
|
Th.9
(1849) |
“Văn võ đình thần lấy cớ là dịch lệ chưa yên hẳn, nhân tâu bày 5 việc: (tóm ý) 1/ phục hệ tôn thất và cấp lương bổng cho con cháu Mỹ Đường; 2/ cho con cháu công thần Ttrung hưng dự ấm, cấp bổng; 3/ khoan miễn tội trước cho Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt và Lê Chất; 4/ bỏ lệ đưa con cháu nhà Lê vào định cư Tả kỳ, trùng tu đền miếu nhà Lê; 5/chọn Kinh lược đại thần để sửa đổi lề lối và quan lại. Vua đều nghe theo.” (c.7, tr.139-140) |
|
Th.12 -Quý dậu
(1850) |
Dịch bệnh ở nhiều tỉnh, ở Vĩnh Long chết 43.400 người, ở Quảng Bình chết 23.300 người. “Các tỉnh Bình Định, Vĩnh Long, Định Tường, Hà Tĩnh, Sơn Tây, Quảng Bình, Hải Dương, Quảng Yên lệ khí lại phát ra; tỉnh Vĩnh Long, Quảng Bình nhiễm lệ khí rất nặng (Vĩnh Long có hơn 43.400 người chết, Quảng Bình có hơn 23.300 người chết). Phủ Thừa Thiên lệ khí cũng lại phát ra nhiều. Vua sai Tả tham tri bộ Hộ là Tôn Thất Thường đến miếu Đô thành hoàng; Phó đô ngự sử Đô sát viện là Bùi Qũuyỹ đến miếu Hội đồng; Kinh doãn là Vũ Trọng Bình đến đền Thai Dương phu nhân, đều làm lễ cầu đảo. Lệ khí rồi giảm bớt, gió mưa thuận thường. Vua khen, bọn Thường đều được thưởng” (c.7, tr.148) “Phủ Thừa Thiên lúa vụ mùa hơi tốt, cũng gián hoặc có nơi tổn hại, nhân vì tháng ấy có dịch lệ, giá gạo cao vọt lên. Vua sai Phủ doãn Vũ Trọng Bình xuất gạo kho 20.000 phương để bán ra. Dân ở ba huyện Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vinh gần liền kinh thành, chuẩn cho lãnh ở kho Kinh; ba huyện Phú Lộc, Phong Điền, Quảng Điền đường xá hơi xa, do viên Kinh doãn lãnh gạo ở kho chở đến bán, để tiện cho dân (1 phương gạo trị giá 2 quan 2 tiền 30 đồng, giảm xuống là 1 quan 8 tiền) (c.7, tr.149-150) “Dân nộp thuế bằng vàng ở Quảng Nam bị nhiễm lệ khí chết (293 người) chuẩn cho bỏ tên ở sổ ra và miễn thuế cho. Thuế để thiếu lại (130 lạng có lẻ) cho hoãn sang năm sẽ thu.” (c.7, tr.151) |
Đại Nam liệt truyện Chính biên sơ tập, quyển 2, chép: “Năm thứ 2. Mỹ Đường ốm chết. Kinh thành có lệ khí, xuống chiếu tìm cách để dẹp yên thiên tai.” (bản in Thuận Hóa 2005, Tập 2, tr.57) |
Th.1-Giáp tuất Tự Đức thứ 3
(1850)
|
Thống kê số người chết dịch trong năm 1849 là 589.460 người. “Tả, Hữu hai kỳ và 6 tỉnh Nam Kỳ từ năm ngoái đến nay nhân dân nhiễm khí dịch lệ nặng. (Hộ bộ thông tính các hạt Nam, Bắc bị chết cộng 589.460 người) và ruộng lúa phần nhiều thu hoạch kém.” (c.7, tr.155) Tháng 2, …sau lễ tế Nam Giao, ban chiếu 15 điều: (điều 10) – Các hạt từ Thanh Hóa trở ra Bắc, hiện nay dân có tên ở sổ, dân bị chết dịch là bao nhiêu, chuẩn cho tức thì bỏ tên trong sổ ra, miễn thuế cho và triển hoãn cho 3 năm…” (c.7, tr.158) |
Cấp độ đại dịch (lần 2, số người chết gấp 3 lần trận đại dịch lần 1 năm 1820, cao nhất trong thế kỷ 19). Tình trạng toàn quốc. Dịch phát từ tháng 3 năm 1849, đến tháng 7 đỉnh dịch, đến tháng giêng năm 1850 mới ngưng. Chết gần 590.000 người (dân số khoảng 7 -8 triệu) |
Th.5-11 - Ất hợi Tự Đức thứ 4
(1851) |
Lạng Sơn chết dịch hơn 4.480 người. “Tỉnh Lạng Sơn khí dịch lệ lại phát ra (từ tháng này đến tháng 11 mới yên), những người bị nhiễm bệnh chết hơn 4.480 người, chiếu theo từng hạng cấp tiền tuất. Còn dân ở sổ dời hạn nạp thuế ruộng.” (c.7, tr.201) |
|
Th.4- Bbính tý Tự Đức thứ 5
(1852)
|
Nhiều tỉnh Bắc Kỳ, Trung Kỳ có dịch. “Các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hà Nội, Hải Dương, Bắc Ninh, Thái Nguyên bị hạn hán. Các tỉnh Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên dịch lệ phát ra. Vua sai quan các tỉnh ấy đến tế trận vong tướng sĩ, chẩn cấp và tế các quân dân chết dịch, cho được yên ủi vong hồn, đem lại khí hòa.” (c.7, tr.244) |
|
Th.12- Bính tý
(1853) |
Nhiều tỉnh từ Quảng Trị ra Bắc có dịch. “Vua thấy từ Bắc Kỳ đến Quảng Trị có dịch lệ phát ra, bèn dụ quan phủ Thừa Thiên phải dẹp yên trước, đi làm cho rõ lẽ oan uổng, cứu chữa những kẻ quẫn bách, để tiêu tai họa lúc chưa xảy ra” (c.7, tr.257) |
Tự Đức nghĩ để xảy ra nhiều án oan, dân nhiều người cùng cực thì có thể sinh tai họa dịch bệnh, nên lệnh cho Phủ doãn Thừa Thiên lo giải trừ. Cách nghĩ tuy có duy tâm nhưng có lợi về đường nhân đạo. |
Th.2- Đinh sửu Tự Đức thứ 6
(1853) |
Dịch bệnh ở Thái Nguyên, Bắc Ninh. “Bắc Ninh, Thái Nguyên bị bệnh dịch lệ. Vua sắc cho đốc thần Nguyễn Quốc Hoàn rằng: quan lại mọt nát chưa trừ bỏ, nhân dân đau khổ chưa hồi lại, để đến nỗi can phạm khí hòa. Nay nên vì đức, vì dân, làm hết chức phận.” (c.7, tr.267) |
|
Th.9
(1853) |
Thống kê trong hai năm (1852-1853), ở một số tỉnh có 9.074 người chết dịch. “Các tỉnh Hà Nội, Hà Tĩnh, Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Quảng Yên do thời tiết bị chết dịch đều chiểu hạng cấp cho tiền tuất. Về số dân hiện biên ở sổ đinh, tính suốt từ năm ngoái đến nay, chết dịch cộng 9.047 người, cho hoãn hạn điền vào sổ đinh 2 năm, hoặc 3 năm, hoặc 10 năm ” (c.7, tr.287) |
|
Th.4- Bính thìn. Tự Đức thứ 9
(1856) |
Dịch bệnh ở Hà Nội. “Hà Nội có bệnh dịch lệ, trong đó có thôn Tiêu Thiều xã Đông Lỗ (số dân có 7 người chết mất 5 người), xã Nội Lưu (số dân có 13 người chết mất 8 người) [đều thuộc huyện Ứng Hòa] nguyên số đinh ít, số chết ấy không đủ lệ (10 người trở lên mới cho tiền tuất, mà về tình thì rất hại, quan tỉnh vì các xã thôn ấy làm tập tâu xin hộ. Vua gia ơn cho tiền tuất và bỏ tên hoãn điền đều theo như lệ…” (c.7, tr.435) |
|
Th.9
(1856) |
55 xã ở các tỉnh Sơn Tây, Hưng Yên, Tuyên Quang bị bệnh dịch. “Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên là Nguyễn Bá Nghi dâng sớ tâu 55 xã thuộc hạt ấy dân bị chết dịch. Trong số đó có 50 rất là thiệt hại, tâu xin giúp đõ. Chuẩn cho theo lệ cấp tiền tuất, xóa sổ miễn thuế, hoãn cho 2 năm mới phải điền tục (nộp tiếp thuế đất)” (c.7, tr.469) |
|
Th.12- Bính thìn
(1857) |
Dịch bệnh ở Hà Tĩnh. “Đạo Hà Tĩnh có bệnh dịch. Sai làm lễ cầu cúng và chữa thuốc; những người bị chết đều cho tiền tuất” (c.7, tr.482) |
|
Th.1-5- Đinh tỵ. Tự Đức thứ 10
(1857)
|
Dịch bệnh ở Bắc Ninh, Thừa Thiên, Bình Định, Gia Định, Nghệ An, Hưng Yên, Sơn Tây. “Các địa phương về Thừa Thiên, Bình Định, Nghệ An, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương và Quảng Yên thỉnh thoảng có chỗ có dịch bệnh phát ra (từ tháng giêng, hai, ba đến nay.” (c.7, tr.559) |
Từ Thừa Thiên ra Bắc, nhiều tỉnh có dịch từ tháng giêng đến tháng 5. |
Th.4- Kỷ mùi Tự Đức thứ 12
(1859) |
Dịch bệnh ở Kinh sư. “Trong Kinh kỳ mới phát bệnh dịch. Vua dụ cho phủ Thừa Thiên hội đồng với bộ Lễ cầu đảo cho dân (đặt đàn tế cầu an, lại tế ma vô tự một tuần), để trừ bệnh truyền nhiễm” (c.7, tr.604) |
|
Th.1-5- Quý hợi Tự Đức thứ 16
(1863)
|
Dịch bệnh ở Thừa Thiên, Quảng Trị, Định Tường. (Thừa Thiên, Quảng Trị chết 3.600 người, Định Tường chết 1.670 người) “Thừa Thiên, Quảng Trị, Định Tường thỉnh thoảng có phát ra bệnh lệ khí (từ năm trước đến nay), sai đều cho thuốc chữa trị và cúng lễ, ai chết thì cấp cho tiền tuất (Thừa Thiên, Quảng Trị vừa đàn ông vừa đàn bà hơn 3.600 người, Định Tường vừa đàn ông vừa đàn bà 1.670 người). Về dân trong sổ sau cũng cho gia hạn thuế đất theo lệ” (c.7, tr.815) |
Lúc này triều đình rối việc đối phó với Pháp. Tình hình dịch bệnh bỏ lơ, dịch bệnh từ năm trước mà đến nay mới tóm gọn nói chung (cả năm 1862 không thấy chép về dịch bệnh) |
Th.7
(1863) |
Nhiều tỉnh trong cả nước bị dịch, “Từ Quảng Trị, Quảng Bình trở vào Nam, đến cả Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hải Dương, Cao Bằng bệnh dịch lệ thỉnh thoảng phát ra, đều chẩn tuất cho. Tháng ấy trong Kinh kỳ lại có bệnh dịch lệ. Vua nghe nói những dân nghèo chôn cất người chết phần nhiều để bộc lộ. Sai quan phủ lập đàn chẩn tế ” (c.7, tr.818) |
Tháng 8 năm này dân Nam kỳ bị nạn đói; Bình Định, Khánh Hòa, Quảng Bình, Lạng Sơn, Hải Dương bị đói. Báo cáo tình hình chết dịch năm 1862-1863, thảm cảnh dân nghèo đói bệnh chết chôn cất qua quít, càng khiến dịch bệnh lây lan. |
Th.5- giáp tý Tự Đức thứ 17
(1864) |
Dịch bệnh ở Cao Bằng, Nghệ An. “Quan tỉnh Cao Bằng đem những dân có tên trong sổ năm ngoái bị bệnh dịch chết (3.392 người) dâng lên, xin chia hạng cho trừ hoặc hoãn thuế. Vua y cho. Nghệ An bị bệnh truyền nhiễm chết (1.655 người), cũng chẩn cấp tiền tuất và hoãn thu thuế” (c.7, tr.852) |
Năm 1863, chết do bệnh dịch ở Cao Bằng 3.392 người; ở Nghệ An 1.655 người. |
Th.6
(1864) |
Dịch bệnh ở Hà Nội. “Hà Nội phát bệnh dịch lệ. Sai quan tỉnh chế nhiều thuốc hoàn tán, chia cấp cho các nơi. Lại sai thông chép đơn thuốc, theo đó mà làm và chế nhiều thêm để cấp cho trại quân” (c.7, tr.858) |
|
Th.7- Giáp tuất Tự Đức thứ 27
(1874) |
Dịch bệnh ở Bình Thuận, chết 700 người. “Tỉnh Bình Thuận có bệnh dịch (nhiễm bệnh chết 700 người). Vua bảo rằng: Phàm cầu đảo không có công hiệu, nhưng cứ yên lặng ngồi nhìn thì không yên tâm, mà không có phép gì cho khỏi được. Chỉ dốc sức các phủ huyện đi xuống làng ấp gia tâm thăm hỏi, người bệnh thì cho thuốc, người đói thì cho cơm, xét khuyên những nhà giàu thương nhau chu cấp cho nhau, không đủ thì cấp gạo kho công cho chóng được yên, rồi tâu lên.” (c.8, tr.51-52) |
Quan điểm về cầu đảo. Vận động xã hội tương tế. |
Th.10
(1874) |
Dịch bệnh ở Khánh Hòa. “Tỉnh Khánh Hòa nhiễm lệ khí, vua sai quan tỉnh cùng phủ, huyện làm nhiều thuốc để chữa, người dân bị chết thì cấp tiền tuất.” (c.8, tr.73) |
|
Th.7- Ất hợi Tự Đức thứ 28
(1875) |
Dịch bệnh ở Sơn Tây, Hưng Yên, Khánh Hòa, Phú Yên. “Các tỉnh Sơn Tây, Hưng Yên, Khánh Hòa, Phú Yên nhiễm chứng dịch lệ, sai các tỉnh, phủ huyện cầu đảo, chữa thuốc, dân bị chết cấp cho tiền tuất.” (c.8, tr.131) |
|
Th.11
(1875) |
“Từ mùa thu đến mùa đông, các tỉnh Phú Yên, Bình Thuận, Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hưng Hóa, Hải Dương, Nam Định, Thái Nguyên, Sơn Tây, Tuyên Quang bị nhiễm dịch lệ nhiều, mà Khánh Hòa là nặng nhất. Vua nhiều lần giáng dụ sai cứu chữa.” (c.8, tr.157) |
|
Th.7- Bính tý Tự Đức thứ 29
(1876) |
Dịch bệnh ở Thừa Thiên, “Thừa Thiên có bệnh dịch. Vua sai quan phủ ấy đến khắp đền thiêng cầu đảo, người bị bệnh thì cấp thuốc, người chết thì cấp tiền tuất.” (c.8, tr.184) |
|
Th.2- Đinh sửu Tự Đức thứ 30
(1877) |
Dịch bệnh ở Bình Định, Bình Thuận “Hai tỉnh Bình Định, Bình Thuận, dân phần nhiều truyền nhiễm chứng lệ khí, sai quan tỉnh tìm thuốc chữa và cấp tuất cho.” (c.8, tr.227) |
|
Th.4
(1877) |
Dịch bệnh ở Kinh sư. Dịch bệnh ở Bình Thuận, Bình Định, Thanh Hóa, chết rất nhiều người. (c.8, tr.234-235) |
|
Th.6 (1877) |
Dịch bệnh ở Quảng Trị. (c.8, tr.243) |
|
Th.12- Đinh sửu
(1878) |
Dịch bệnh ở Bắc Ninh. “Tỉnh Bắc Ninh có bệnh dịch (3 tổng Phụng Công, Hòa Bình, Đa Ngưu thuộc huyện Văn Giang chết vì dịch rất nhiều), sai quan tỉnh cầu đảo, chữa thuốc và cấp tuất.” (c.8, tr.265) |
|
Th.1- Mậu dần Tự Đức thứ 31
(1878)
|
Dịch bệnh ở Bình Định. “Ba huyện Tuy Viễn, Tuy Phước và Phù Cát thuộc tỉnh Bình Định bị nạn lệ khí” (c.8, tr.275) |
|
Th.2
(1878) |
Dịch bệnh ở Quảng Trị “Tỉnh Quảng Trị năm trước bị tai nạn dịch lệ (2 huyện Hải Lăng, Minh Linh thuộc phủ Triệu Phong từ tháng 8 năm thứ 29 (1876) đến tháng 8 năm ngoái (1877), đàn ông đàn bà chết 4.326 người). (c.8, tr.277) |
Địa bàn 2 huyện, dịch lớn, kiểm đếm số người chết của hai năm trước (1876-1877) |
Th.1- Canh thìn. Tự Đức thứ 33
(1880) |
Dịch bệnh ở Bình Định, chết 3.220 người, cấp tiền tuất (người lớn 3 quan, trẻ con và đàn bà 2 quan) (c.8, tr.391) |
|
Th.5- Nhâm ngọ Tự đức thứ 35
(1882) |
Dịch bệnh ở Phú Yên. “Tỉnh Phú Yên có dịch bệnh. Vua sai quan tỉnh ấy gia tâm chữa chạy, hơn 1 tháng dần bớt.” (c.8, tr.531) |
|
Th.2- Đinh hợi. Đồng Khánh 2 (1887) |
“Các tỉnh Bắc Ninh, Thanh Hóa, Hải Dương bị nạn dịch lệ, đều chiểu lệ tính toán chế thuốc để điều trị.” (c.9, tr.311) |
|
Th.4 nhuận.
(1887) |
“Tỉnh Thanh Hóa bị nạn dịch lệ (từ tháng này đến tháng 9, cả tỉnh nhiễm bệnh chết 9.500 người). Tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh cũng vài nơi phát dịch.” (c.9, tr.338) |
Trận dịch này từ tháng 4 nhuận đến tháng 9 mới ngưng. |
Th.8
(1887) |
Dịch bệnh ở Thanh Hóa. “Tỉnh Thanh Hóa dịch lệ phát ra từ tháng 2, đến nay chưa yên (bị nhiễm chết hơn 9.500 người). Sai quan tỉnh, phủ và huyện hết lòng thành cầu đảo, cốt sớm yên, để làm ơn cho dân bị tai nạn.” (c.9, tr.358) |
Trước nói khởi từ tháng 4 nhuận, đây nói khởi dịch từ tháng 2. Đồng Khánh chính yếu, quyển 2, Ái dân: “Tháng 8, Thanh Hóa bị lệ khí lâu ngày.” |
Th.4- Mậu tý. Đồng Khánh 3 (1888) |
Dịch bệnh ở Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh (c.9, tr.407) |
Dịch kéo dài từ tháng 4 năm 1887 đến nay. |
Th.6
(1888) |
Quảng Ngãi có bệnh đậu mùa, chết 13.934 người. “Bệnh đậu và thời khí phát dữ ở Quảng Ngãi. Từ tháng 11 năm ngoái đến tháng này (th.6), bị nhiễm bệnh chết 13.934 người cả đàn ông và đàn bà. Quan Phòng ngự là Nguyễn Thân đem việc tâu lên. Cho Cơ mật viện bàn với viên Công sứ chọn phái quan thầy thuốc nước Pháp, đem cả thầy thuốc ta, người đã quen biết cách trồng đậu, đến trồng để đỡ tai hại cho dân” (c.9, tr.418-19) |
Địa bàn 1 tỉnh, dịch rất lớn, tên dịch rõ ràng, số người chết kiểm đếm chi tiết. Đã cố gắng ngăn dịch, phối hợp chữa trị Tây y với thuốc ta. (Theo Đại Nam nhất thống chí, năm 1898-Thành Thái thứ 10 - hộ khẩu là 25.568 người. Thống kê này có lẽ không đúng) |
Th.7 (1888) |
Dịch bệnh ở Nghệ An. (c.9, tr.424) |
|
Th. 2 nhuận. Canh dần. Thành Thái năm thứ 2.
(1890) |
Nhiều tỉnh có dịch. “Phủ Phụ chính tâu nói từ mùa đông năm trước (1889) đến nay, các tỉnh các phủ dịch khí lan tràn, vẫn chưa yên ổn…” (Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ lục kỷ Phụ biên/ CBĐLKPB, tr.107) [Trở xuống, trích từ bản dịch Cao Tự Thanh] |
|
Th.4- (1894) |
Nghiêm định điều cấm về dịch trâu bò… (CBĐLKPB, tr.204)
|
|
Th.5 (1894) |
Phủ Thừa Thiên có dịch. “Phủ Thừa Thiên có bệnh dịch, sai quan phủ cấp thuốc chữa trị.” (CBĐLKPB, tr.204) |
Ở Trung Quốc, năm này, Quang Tự thứ 20, dịch hạch khởi phát ở Hương Cảng, rồi lan bùng thành dịch lớn. Có quan hệ với trận dịch hạch ở Vân Nam hồi năm 1855. |
Th.1
(1895) |
Phủ Thừa Thiên có dịch. “Các hạt ở Thừa Thiên báo có dịch lệ, sai chế các thuốc hoàn tán theo kinh nghiệm và sao chép bố cáo phương thuốc chữa trị cho sớm để chữa bệnh cho dân.” (CBĐLKPB, tr.219) |
Dịch kéo dài từ tháng 5 năm 1894 đến nay, có vẻ lan rộng. |
Th.5- Nhâm dần. Thành Thái 14
(1902)
|
Phủ Thừa Thiên có dịch cúm. “Thời chứng lan rộng, nhân dân quanh kinh thành và ở thôn xóm nhiều người mắc bệnh.” (CBĐLKPB, tr.388) |
Ở Trung Quốc, năm này, Quang Tự thứ 28, tháng 6 dịch tả phát ở Bắc Kinh và Thiên Tân, chết hơn 1 vạn người. |
Th.7- Quý mão
(1903)
|
Bình Thuận có dịch. “Quan tỉnh Bình Thuận báo tin bệnh dịch (từ ngày 2 đến ngày 25 dân các xã thôn ở hai phủ huyện Hàm Thuận, Hòa Đa có 115 ngưởi nam nữ nhiễm bệnh, đã sức cho Tri phủ, Tri huyện đích thân tới các linh từ thành kính cầu đảo)” (CBĐLKPB, tr.407) |
|
Th.9
(1903) |
Các tỉnh từ Bình Thuận tới Quảng Nam có dịch. “Lúc bấy giờ dịch khí lưu hành, các tỉnh Tả Trực kỳ đều báo về tình hình hoạn nạn của dân (dân bị cảm nhiễm các chứng hàn nhiệt ghẻ lở, súc vật có con bị dịch chết, trong đó tỉnh Bình Thuận là thiệt hại nặng nhất)” (CBĐLKPB, tr.407) |
|
Th.4- Giáp thìn
(1904)
|
Quảng Trị, Hà Tĩnh, Nghệ An có dịch gia súc. “Các hạt có dịch (huyện Gio Linh Quảng Trị, huyện xã Xuân Án Nghi Xuân Hà Tĩnh, xã Xuân Án Nghệ An đều báo tin có dịch, trong đó Quảng Trị là nặng nhất, có khi trâu bò không bêệnh không già nhưng gặp mưa thì cứng đờ ra mà chết)” (CBĐLKPB, tr.420) |
|
Th.7
(1904) |
Đảo Phú Quý (Thuận Tĩnh) tỉnh Bình Thuận có dịch. “Đảo Thuận Tĩnh tỉnh Bình Thuận bị hạn hán dịch bệnh, dân đói xiêu tán hơn 200 người. Sai quan tỉnh tra xét trù tính chẩn cấp để giúp dân qua lúc cấp bách…” (CBĐLKPB, tr.428) |
|
Th.12- Giáp thìn
(1905) |
Thừa Thiên có dịch gia súc. Định lệ xử phạt những người không làm theo hướng dẫn phép vệ sinh phòng dịch. “Thân định lệ phạt trong việc phòng dịch trâu bò. Lúc bấy giờ ở phủ Thừa Thiên dịch trâu bò lan ra…(Sửa đổi điều lệ tháng 7 năm 1881). Gồm 5 khoản: 1/ Cách ly súc vật bị bệnh, trình báo quan trên; 2/ Nghiêm cấm vận chuyển súc vật, da sừng ở nơi có dịch bệnh đi nơi khác; 3/Súc vật bệnh chết phải chôn trong 24 giờ, đào hố sâu 1 thước Tây trở lên; 4/ Nghiêm cấm ném súc vật chết xuống sông; 5/ Nghiêm cấm mua bán súc vật có bệnh. Vi phạm phạt đánh 100 trượng” (CBĐLKPB, tr.433-434)
|
Ảnh hưởng trận lụt lớn. |
Th.7- Ất tỵ
(1905) |
Quảng Trị có dịch thương hàn. “Hai tổng Mộc Ba, Hồ Xá huyện Vĩnh Linh và hai tổng Cam Vũ, Mai Lộc phủ Cam Lộ nhân dân cảm nhiễm thương hàn rất nhiều, có người đến nỗi phải chết. Sai quan tỉnh phái y sinh cấp thuốc men tị liệu” (CBĐLKPB, tr.439)
|
|
Th.7- Bính ngọ
(1906) |
Định lại điều lệ xử phạt những người không làm theo hướng dẫn phép vệ sinh phòng dịch. Sửa đổi bổ sung điều lệ 12/1904, tăng nặng hình phạt (nhẹ: phạt đánh 40 roi, phạt tiền 12 đồng, không nạp nổi thì giam 5 tháng; nặng, phạt đánh 50 roi, phạt tiền 15 đồng, không nạp nổi thì giam 6 tháng) (CBĐLKPB, tr.439)
|
|
Th.4- Đinh mùi. Thành Thái 19
(1907) |
Quảng Nam có dịch thương hàn, sốt rét. “Dân gian nhiều người phát bệnh thương hàn, về sau sinh ra sốt rét, hoặc bệnh nặng hoặc chết, ở Quế Sơn, Thăng Bình là nặng nhất, Điện Bàn, Duy Xuyên, Tam Kỳ, Hòa Vang đỡ hơn. Chuẩn cấp tiền mua thuốc ký ninh chia cấp cho.” (CBĐLKPB, tr.478)
|
|
Th.11 Duy Tân năm đầu
(1907) |
Ban dụ cho dân dự phòng bệnh truyền nhiễm. Nội dung do Khâm sứ Pháp soạn. Gồm 8 khoản: 1/ Về việc trình báo; 2/ Chủng ngừa đậu mùa; 3/ về việc cách ly người bị các bệnh truyền nhiễm; 4/ về việc tẩy uế khử trùng cho người bệnh, cho cộng đồng và môi trường; 5/Thầy thuốc Tây và Nam khám nghiệm tử thi những ca ngờ dịch; 6/ quy định việc chôn cất người chết do dịch bệnh; 7/ Vệ sinh môi trường, bảo vệ đường nước và khu dân cư; 8/ Vệ sinh môi trường, chợ và quanh chợ. (CBĐLKPB, tr.488-490) |
Xem thêm toàn văn bản Pháp ngữ và Quốc ngữ “Nghị định ngày 20/11/1908 về y tế cộng đồng” (CBĐLKPB, Phụ lục 08, tr.741) Hoặc: Journal officiel de l’Indochine Francaise, 14-12-1908
|
Th.7- Giáp dần. Duy Tân 8
(1914) |
Chuẩn y lời hội thương về cách thức đề phòng bệnh hủi lây lan. (CBĐLKPB, tr.607)
|
|
Th.1- ất mão
(1915)
|
Ban dụ về việc phòng dịch gia súc. (CBĐLKPB, tr.617) Chuẩn y lời hội thương bàn định về lệ cấm săn bắn (CBĐLKPB, tr.618) |
|
Th.2- Đinh sửu. Khải Định thứ 2
(1917) |
Thanh Hóa vào nam có dịch đậu mùa. “Các tỉnh từ Thanh Hóa trở vào nam đều phát dịch đậu mùa, thỉnh thoảng có người chết (Công sứ và quan các tỉnh bàn bạc ủy cho phái viên bệnh viện đem thuốc chủng đậu chủng rộng ra để đề phòng bệnh ấy lây lan)” “Dân ở tổng Lý Sơn và hai phường Vĩnh An, An Hải tỉnh Quảng Ngãi vì bệnh đậu mùa đến nỗi chết và chết đói hơn 400 người (người xứ ấy cư trú trên đảo, đường sá xa cách, sinh kế quẫn bách nên nhiều người chết). Bang tá Võ Huấn giấu diếm không báo lên, chuẩn triệt chức tra xét, kế cách chức vĩnh viễn không được bổ dụng nữa.” (Đại Nam Thực lục Chính biên Đệ thất kỷ/CBĐTK, tr.135) |
Quan địa phương ở Quảng Ngãi giấu dịch, bị cách chức.
|
Th.11
(1917) |
Sốt rét và lỵ ở nhà ngục nhiều nơi “Lúc bấy giờ mưa lụt nối nhau, khí ẩm thấp rất thịnh, lại thêm mùa đông rét buốt, tù phạm giam ở các địa phương nhiều người bệnh chết (bệnh sốt rét và bệnh lỵ)” (CBĐTK, tr.178) |
|
Th.4- Kỷ mùi. Khải Định 4
(1919) |
Nghệ An có dịch lớn, chết 12.900 người. “Quan tỉnh Nghệ An thống kê tổng số nhân dân trong hạt chết vì bệnh dịch (tráng đinh và trai gái già trẻ hơn 12.900 người. Tháng chạp năm trước bệnh dịch phát ra truyền nhiễm lây lan, đến hạ tuần tháng ấy mới chấm dứt) gửi cho Cơ mật viện tâu lên.” (CBĐTK, tr.235) |
Đại dịch, kéo dài 5 tháng (từ tháng 12 năm 1918 đến cuối tháng 4, 1919). Dân số Nghệ An năm này khoảng 700.000 người.
|
Th.8- Tân dậu.
(1921) |
Chuẩn cho sao phương thuốc kinh nghiệm đề phòng bệnh dịch ra gởi khắp Trung Kỳ để lâm thời nhân dân biết mà phòng bệnh, là theo nghị định của Tòa Khâm sứ.” (CBĐTK, tr.344) |
|
Th.11
(1921) |
Quảng Bình có dịch. “Giáp Mỹ Hòa phủ Quảng Trạch bị bệnh dịch. QúyQuý quan thầy thuốc ở Đồng Hới bàn nghĩ phàm nhà người bệnh cư trú ắt phải thiêu hủy để tránh truyền nhiễm. Quan tỉnh đem việc gửi điện văn trình với Cơ mật viện, bề tôi ở viện cho rằng thôn ấy không may bị bệnh dịch, nhà ở lại bị thiêu hủy thì thiệt hại rất nhiều, bàn nghĩ nếu bất đắc dĩ việc phải làm thế thì nên theo tình cảnh từng nhà chước lượng cấp tiền để tránh làm khổ dân. Quý Tòa trả lời ưng thuận, bèn làm phiến đem việc tâu lên, vua chuẩn cho thi hành.” (CBĐTK, tr.347-348) |